VƯƠNG CÚP !

By tavansy@gmail.com

 

World cup đọc lên nghe theo âm Hán - Việt gần giống như Vương cúp. Mà gọi nó là Vương cúp cũng được chứ sao? Vì người ta bảo bóng đá là môn thể thao vua. Mà vương cũng có nghĩa là vua. Vậy thì cái cúp này đích thị là cúp... "vua" trong tất cả các loại cúp từ trước đến nay đã dành cho môn thể thao vua này! Do vậy mình cứ thích gọi nó là Vương cúp cho tiện vì... đỡ phải cong mồm méo miệng ngọng nghịu phát âm theo tiếng Anh! Bây giờ thiên hạ hay nói tiếng Tây cho nó có tinh thần... hội nhập và hình như mình cũng đang thích nói màu mè cho ra vẻ... chữ nghĩa chứ dịch ra tiếng ta thì đơn giản là Cúp bóng đá thế giới ai cũng hiểu.

Đêm nay là 25 tháng 6 Vương cúp đã diễn ra đúng nửa tháng. Nửa tháng thức đêm thức hôm với Vương cúp. (Trừ mấy hôm không xem được vì đi Đà Nẵng dự Hội nghị khu vực của Hội Nhà văn lâu ngày gặp bè bạn bù khú không dứt ra được và hôm gặp gỡ đoàn văn học của thành phố Cần Thơ ra Kon Tum thăm thú giao lưu cũng... say xỉn sa đà)! Đêm nay trong lúc ngồi chờ các trận cuối cùng của ngày cuối cùng vòng đấu bảng (tức 2 trận lúc 1 giờ ngày 26) trong cái cảm giác lâng lâng vui sướng từ chiến thắng của Nhật Bản trước Đan Mạch (là đội cũng thuộc hàng "tai mắt mũi họng" lâu nay) của đêm qua khiến thèm tranh thủ ngọ nguậy vài chữ gọi là "ăn theo" Vương cúp một tí. Chỉ là vài cảm nhận cảm xúc không tường thuật bình luận cũng không triết lý triết sáo gì về bóng đá cả bởi có khả năng đâu mà làm nổi cái chuyện của các nhà chuyên nghiệp!

Mình cũng khoái xem bóng đá như nhiều người nhưng đến mức "đam mê cuồng tín" (!) như một số tín đồ Túc cầu giáo thì chưa đến độ. Tuy nhiên không xem được trận nào thì tiếc trận ấy! Bóng đá có sức cuốn hút và tuyệt vời lắm. Nó là một thứ "ngôn ngữ vô ngôn" của tình đoàn kết và tinh thần bình đẳng cho toàn nhân loại trên toàn thế giới. Á Âu Phi Mỹ Úc da trắng da vàng da đen da đỏ... gì gì cũng đều như nhau khi trái bóng lăn trên sân cỏ. Sức hấp dẫn của trái bóng lăn như là lực hấp dẫn vạn vật của trái đất quay nó cứ bắt mọi người cắm đầu chúi mắt vào đó! Thật đấy không phải triết lý thuyết lý gì đâu. Có lẽ phải truy phong người nào "phát minh" ra môn chơi bóng đá là danh nhân văn hóa của nhân loại mới đúng!

Là mình cũng nói lan man tản mạn thế thôi chứ như vừa viết ở trên rằng rất sướng khi thấy các đội châu Á như Hàn Quốc Triều Tiên Nhật Bản chiến đấu ngoan cường (kể cả trận thua của Triều Tiên trước Brazil) ở loạt trận đầu tiên. Thì ra cái tinh thần "khu vực vùng miền" vẫn cứ là sẵn có ở trong người! Trong khi Việt Nam mình chưa được dự phần vào Vương cúp thì châu Á cùng "da vàng máu đỏ" hẳn nhiên coi như là... đội nhà! Hơn nữa bây giờ thì Hàn và Nhật vào tiếp vòng sau sao không vui? Cái niềm vui này nó cũng ngang ngửa như cái "sướng" khi thấy các đại gia nhất nhì của Vương cúp trước mà để thua Nam Phi (Pháp) và Slovakia (Ý) vậy! Bất giác đâm ra nghĩ ngợi vơ vẩn không biết cho đến ngày... "lên đường theo tổ tiên" sẽ có dịp nào không để được hồi hộp nao nức chứng kiến Việt Nam mình trong cuộc thư hùng Vương cúp? Mong mỏi quá!

Không kể các đội châu Âu châu Mỹ châu Phi vì họ có nhiều cái hơn châu Á ta (truyền thống bóng đá lâu năm trình độ kỹ thuật thể lực thể hình...) nếu được so sánh khập khiễng một tí thì hãy xem vào 4 đội châu Á kỳ này. (Đội Úc đợt Vương cúp này dự phần vào chung vùng châu Á). To con lớn xác ngang ngửa với thiên hạ (bởi gốc gác châu Âu) như các anh chàng người Úc thế mà cũng chỉ ngang bằng như Hàn Quốc với 1 trận thắng 1 trận hòa  1 trận thua và Nhật Bản với 2 trận thắng 1 trận thua. Điều này làm cho dễ liên tưởng lại câu thơ Tố Hữu "Ra thế to gan hơn béo bụng"! Vậy là châu Á ta chỉ có 4 đội (1 phần 8 Vương cúp) thì 2 ra về 2 còn nán lại Nam Phi không vui sao được.

Mình bị xúc động mạnh ở một trận đấu của Triều Tiên. Cầu thủ Jong Tae Xê của nước này đã xúc động khóc ngon lành khi chào cờ Tổ quốc! Chắc chắn trong cảm thức của anh bạn cầu thủ xứ sở nhân sâm nổi tiếng này phải có một xúc cảm yêu nước mạnh mẽ cỡ nào mới bật khóc thế chứ phải không? Họ yêu nước họ thì ta cũng biết yêu... Châu ta vùng miền khu vực ta chứ sao! Đội Triều Tiên đã ra về trắng tay nhưng tinh thần chiến đấu và lòng yêu nước ấy là đáng trân trọng.

Dẫu biết rằng là điều rất khó khăn nhưng biết đâu đấy mắc mớ gì ta không có quyền mong mỏi 2 đội châu Á "đồng văn" này lại không vào sâu hơn nữa ở các vòng sau! Nhưng mà thôi để chờ vài ngày (đúng ra là vài đêm) sắp tới đây may ra họ vào sâu được thật thì mình sẽ thêm vài dòng "nhật ký Vương cúp" nữa để chúc mừng và san sẻ niềm vui. Bây giờ tranh thủ "ngơi" chừng khoảng một tiếng đồng hồ để xem 4 đội châu Âu và Nam Mỹ giành giật nhau trái bóng Zaburani trong tiếng kèn Vuvuzela o o u u như tiếng đàn ong về tổ. Nếu nhỡ ngủ quên thì sáng mai nghe Bản tin thể thao vậy!

                                                                                                                Tạ Văn Sỹ

More...

NÚI NGỌC LINH SÂM NGỌC LINH

By tavansy@gmail.com

 

Đường vào vườn Quốc gia Ngọc Linh (tỉnh Kon Tum) là tỉnh lộ 673 bắt đầu từ ngả ba Đăk Tả mạn chân đèo Lò Xo trên đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 14 cũ) rẽ nhánh vào. Đường cấp 4 miền núi rộng 6 mét mặt đường thảm nhựa 3 5 mét dài 39 6 cây số  (tính đến trung tâm xã Ngọc Linh) quanh co đèo dốc chập chùng khánh thành ngày 31-5-2006. Có nhiều đoạn vì kết cấu địa chất địa tầng không thể thảm nhựa được nên phải xử lý bằng bê tông xi măng. Công trình này được chính phủ Kuweit tài trợ 7.333.000 đôla trong tổng số kinh phí 97 83 tỉ đồng. Phần còn lại là từ vốn đối ứng của Chính phủ.

 

          Núi Ngọc Linh:

          Đường 673 ngang qua nhà ngục Đăk Glei (huyện Đăk Glei - Kon Tum) do thực dân Pháp lập nên năm 1932 nơi nhà thơ Tố Hữu bị phát vãn lưu đày biệt xứ năm 1942 để từ đấy nhà thơ làm cuộc vượt ngục ngoạn mục về Quảng Nam tìm bắt liên lạc tiếp tục hoạt động cách mạng. Những câu thơ "Đường lên xứ lạ Kon Tum/ Quanh quanh đèo chật trùng trùng núi cao/...Núi hỡi từ đây băng xuống đó/ Chừng bao nhiêu dặm mấy đêm trường?" trong bài thơ "Tiếng hát đi đày" là Tố Hữu viết tại đây vào những ngày âm thầm lập mưu vượt ngục. Bây giờ bà con quen gọi là Ngục Tố Hữu. Trùng điệp núi rừng của rặng quần sơn Ngọc Kơ Ang thuộc dãy Trường Sơn với rất nhiều núi cao (từ 800m trở lên) mà trong đó cao nhất là đỉnh Ngọc Linh 2.598 mét. Đây là ngọn núi cao thứ nhì của Việt Nam sau đỉnh Phanxipăng ở phía Bắc có nghĩa là cao nhất của phía Nam đất nước ta. Và như vậy không những Ngọc Linh cao nhất ở Kon Tum và cả 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên (Cư Yang Sin - Đăk Lăk 2.442m Lang Bian - Lâm Đồng 2.176m Kon Ka King - Gia Lai 1.748m Nâm Nung - Đăk Nông 1.500m) mà nó còn cao nhất toàn vùng Đông Dương nữa. Ngọc Linh là gọi chệch âm Ngok Linh của thổ ngữ đồng bào bản địa. (Ngok là núi Linh là tên riêng). Quây quanh Ngọc Linh còn có những đỉnh "đàn em" như Mường Hoong 2.400m Ngọc Phan 2.251m Ngọc Lum Heo (giáp ranh 2 huyện Đăk Glei - Kon Tum và Phước Sơn - Quảng Nam) 2.116m Ngọc Kơ-ring (giáp ranh 2 huyện Đăk Hà và Kon Plong - Kon Tum) 2.066m Ngọc Bôn Sơn 1.939m Ngọc Rơô (giáp ranh 2 huyện Kon Plong - Kon Tum và Kơ Bang - Gia Lai) 1.509m Ngọc Bơ Ria 1.500m v.v... Với một liên hoàn núi non bao trùm 4 tỉnh từ toàn bộ Kon Tum qua một phần Quảng Nam sang một phần Quảng Ngãi đến Kơ Bang Đăk Đoa - Gia Lai như vậy nên nó còn được gọi là Ngọc Linh Liên Sơn. Ngọc Linh Liên Sơn bắt đầu từ ngọn Ngọc Lum Heo ở tây bắc và kết ở Ngọc Rơô phía đông nam. Đây cũng là đường phân thủy cho 2 hướng chảy của sông suối theo địa thế địa hình. Hướng chảy về tây có sông Sê San (hợp lưu của 2 sông Đăk Bla và Đăk Pô Kô) đổ về hệ thống sông Mê Kông chảy về đông có các sông Vu Gia Thu Bồn Trà Khúc sông Tranh sông Vệ sông Ba...

          Với thế điệp trùng núi non hiểm trở trầm mặc ngàn năm nên Ngọc Linh ẩn chứa lắm điều nhuốm màu kỳ bí kiểu... truyện đường rừng! Những chuyện kể về các thợ sơn tràng một đi không trở lại những tốp người tìm trầm tìm sâm mất tích bí hiểm đến khó tin những người lạ vào đây mắc phải những căn bệnh vô phương cứu chữa do "ma rừng" hoặc bị Yàng trừng phạt!... Chuyện thung lũng Ngọc Rêu giữa bốn bề vách núi được mệnh danh "Hẻm núi chết" là một ví dụ! Bà con ở đây đã từng chứng kiến và kể lại nhiều vụ máy bay rơi mà không hiểu nguyên do cũng không bao giờ tìm thấy xác nhất là vào thời kỳ chiến tranh kể cả máy bay nước ngoài! Các phi công gọi nơi này bằng cái tên "Vùng xoáy lạ"! Nói theo ngôn ngữ chuyên nghiệp nghề bay thì là vùng gió thăng giáng bất thường có thể quật rơi máy bay khi bay vào khu vực. Các phi công có kinh nghiệm khi qua vùng này đều tìm đường bay vòng tránh xa "Hẻm núi chết".

Cũng nơi đây trên trăm năm trước có chuyện lạ đời: Tên trung úy lính viễn chinh Pháp Mayréna người gốc đảo Corse đồng hương đại đế Napoléon đã bằng vào những thủ thuật xảo trá khuất phục bà con bản địa tự dựng ra một "Vương quốc Xê Đăng" (vùng Đăk Tô Tu Mơ Rông ngày nay) lấy "Đế hiệu" Marie Đệ nhất "trị vì" được 2 năm từ 1896 đến 1898 thì bị Công sứ Quy Nhơn Boulloche theo lệnh Chính phủ Pháp đến giải tán nhân chuyến hắn trở về mẫu quốc để yêu sách với triều đình Đại Pháp!

          Đại ngàn Ngọc Linh cũng là nơi che giấu các di tích lịch sử là các khu căn cứ địa cách mạng quan trọng trong suốt thời kỳ đánh Mỹ của 2 tỉnh Kon Tum Quảng Nam và Liên khu 5 cũ. Là nơi hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh hiểm trở chằng chịt như những mạch máu nuôi sống cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ vừa qua mà đèo Lò Xo trên đường Hồ Chí Minh ngày nay là một ví dụ. Là nơi bảo bọc những văn nghệ sĩ ưu tú để từ đây phát tích ra những tác phẩm nổi tiếng như "Tiếng hát đi đày" "Bài ca chim Chơ-rao" "Rừng xà nu" "Bóng cây Kơ-nia"... và cũng là nơi ngã xuống bi tráng của những con người làm nên những trang văn bất hủ như Nguyễn Mỹ Ngọc Anh...

          Để phá thế cô lập heo hút của vùng Ngọc Linh lâu nay tỉnh Kon Tum đang tiến hành thi công mở mới một con đường tỉnh lộ dài hơn 59km nối từ thôn Ngọc Hoàng xã Măng Búk (huyện Kon Plong) sang huyện Tu Mơ Rông vắt về xã Ngọc Linh. Từ đây sẽ rút ngắn được chừng 60 cây số để về trung tâm tỉnh lỵ Kon Tum và tiện đường đi về các nơi khác nữa. Theo lời kỹ sư cầu đường Võ Ngọc Tăng giám sát thi công thì đường nằm trên độ cao bình quân 1.800m vắt vẻo giữa lưng chừng trời lượn lờ qua các sườn núi cheo leo trong quần thể Ngọc Linh Liên Sơn. Khi hoàn tất nó sẽ phá vỡ thế độc đạo độc tôn của tỉnh lộ 673 hiện nay sẽ là con đường xuyên sơn vô cùng kỳ vĩ. Và khi đã có đường này thì việc khai thác vùng Ngọc Linh hoang dã đại ngàn dễ trở thành hiện thực. Nó mở ra một khu du lịch sinh thái du lịch lịch sử du lịch văn hóa cùng các hoạt động thám hiểm leo núi khảo sát... như ở Phanxipăng - Hoàng Liên Sơn ngoài Tây Bắc. Đường khởi công cuối năm 2009 dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2011 chưa được đặt tên chính thức.

          Riêng núi Ngọc Linh từ chân đến đỉnh cây cối nguyên sinh dày đặc có 46.574 héc-ta rừng đặc dụng độc đáo. Đỉnh núi khói mây phủ trùm một màn sương huyền bí che giấu những cảnh quan thảm thực vật và các loài động vật phong phú quý hiếm. Đặc biệt là cây nhân sâm. Sâm ở đây còn được gọi bằng nhiều tên như Sâm Ngọc Linh Sâm khu 5 Sâm Việt Nam Sâm Đốt Trúc Củ ngải Rơm con "Thuốc Giấu" (!)... (Bà con Xơ Đăng Jẻ - T riêng Châu... bản địa gọi nôm na là "Thuốc Giấu" vì thấy nó có tác dụng như một loại thuốc quý trị được bá chứng nên giấu giữ để dành dùng dần không muốn cho ai biết!).

 

          Sâm Ngọc Linh:

Ẩn khuất dưới tán rừng già Ngọc Linh sâm mọc từng đám nơi ẩm ướt ở độ cao từ 1.500 đến 2.100 mét. Theo Tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt Viện phó Viện Dược liệu từ thân rễ và củ sâm Ngọc Linh đã phân lập được 52 saponin trong đó 26 saponin có ở sâm Cao Ly sâm Mỹ sâm Nhật sâm Trung Quốc. Ở lá và cọng có 19 saponin dammaran trong đó 8 saponin có cấu trúc mới. Ngoài ra còn có 17 axid amin 20 chất khoáng vi lượng hàm tinh dầu 0 1 phần trăm. Năm 1982 hai nhà thực vật học Hà Thị Dụng và Grushvisky (Liên Xô) xác định là loại nhân sâm thứ 20 được tìm thấy trên thế giới.

Theo công bố của Viện Dược liệu thì công dụng của sâm Ngọc Linh có thể kể ra một dãy dài: Bổ cầm máu mau lành vết thương chữa đau bụng phù thũng sốt rét chống stress vật lý chống stress tâm lý và trầm cảm kích thích hệ miễn dịch chống ôxy hóa chống lão hóa phòng chống ung thư bảo vệ tế bào gan giúp người bệnh ăn ngon ngủ tốt lên cân tăng thị lực cải thiện các hoạt động trí tuệ và thể lực gia tăng sức đề kháng cải thiện suy nhược thần kinh và sinh dục nâng cao huyết áp ở người huyết áp thấp kháng các độc tố gây hại tế bào kéo dài sức sống của tế bào và làm tăng các tế bào mới kháng khuẩn tiểu đường v.v...

Hiện nay 1 kg sâm Ngọc Linh tươi có giá dao động trên dưới 30 triệu đồng khô thì cả hàng trăm triệu trở lên. Quý hiếm như vậy nên nạn khai thác lậu đang là một báo động đỏ. Ví dụ cuối năm 2009 tòa án huyện Tu Mơ Rông đã xử phạt tù đối với tên Hồ Nhất Linh đêm 29-4-2009 đã lẻn vào Trung tâm nuôi trồng sâm ở gần đó nhổ trộm 84 củ sâm trên 2 kg bán với giá 15 triệu đồng! Hay vụ Hồ Văn Nơi ở xã Trà Linh (Nam Trà My - Quảng Nam) câu kết với với các tên Tường Biên Bể ở làng Mô Da xã Ngọc Lây (Huyện Đăk Glei - Kon Tum) đêm 14-3-2005 lẻn vào nhổ trộm gần tạ sâm củ từ 2 đến 6 năm tuổi của Trung tâm nuôi trồng sâm Trà Linh và cả ngàn cây sâm đã 7 năm tuổi của ông Hồ Văn Dê ở gần đấy...

Chưa có tài liệu nào xác định cây sâm Ngọc Linh đã có mặt ở đây từ bao giờ. Chỉ biết qua khảo sát những củ sâm tìm được vào những năm 1978-1979 thì lúc ấy chúng có độ tuổi trên dưới 80 năm. Năm 1973 là cái mốc đánh đấu cho việc phát hiện và bước đầu tìm hiểu nghiên cứu về loài sâm này. Năm ấy đoàn điều tra dược liệu của Ban Dân y Liên khu 5 do dược sĩ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang dẫn đầu lặn lội vào Ngọc Linh. Sau nhiều gian khó đoàn đã phát hiện loài panax này mọc thành quần thể ở độ cao từ 1.800m trở lên. Đoàn tạm gọi tên là Sâm Đốt Trúc vì củ sâm có từng đốt như cây trúc. Ngày 19-3-1973 đoàn về đến làng Long Láy xã Măng Ri mở tiệc khao quân bằng cách đem quần áo tăng võng đổi hết cho bà con lấy gà vịt ăn mừng trong niềm vui khôn tả! Sau khi nghe báo cáo của đoàn điều tra Liên khu 5 đã cho bảo vệ chặc chẽ khai thác dần để sử dụng vào việc phục vụ cho cán bộ thương bệnh binh trong thời kỳ kháng chiến. Do vậy sâm Ngọc Linh còn gọi là Sâm Khu 5.

Ấy là "chính sử" còn "dã sử" về nguồn gốc sâm Ngọc Linh thì bà con ở đây truyền rằng vào thời Pháp chiếm đóng có một lính Pháp nhảy dù bị rơi lạc vào rừng rậm "thung lũng tử thần" Ngọc Rêu ở xã Mường Hoong. Đói khát quá hắn bèn moi nhai một loại củ rừng thấy khỏe người và sảng khoái có đủ sức lực để tìm đường vượt rừng sâu tìm về nơi đồn trú. Người lính Pháp ấy mang một ít củ về và truyền lan ra dân chúng. Từ đó bà con bèn lấy "củ rừng" này giúp cho cán bộ bộ đội khi đau bệnh kiệt sức. Tin đồn lan xa nên mới có cuộc tìm kiếm của Ban Dân y Liên khu 5 kể trên!

          Sau khi có sự phối hợp của các cơ quan ban ngành chức năng tổ chức điều tra nghiên cứu thực địa nghiên cứu chất lượng và sàn lựa 16 loài cây có họ nhân sâm ở đây Trung tâm Sâm Việt Nam đã công bố nhiều số liệu khoa học về các giá trị sâm Ngọc Linh và nó chính thức mang tên khoa học là Panax Vietnamensis Ha Et Grushv - Araliaceae. Giáo sư - tiến sĩ Nhật Tanaka căn cứ vào hợp chất saponin của nó đã xếp sâm Ngọc Linh vào với nhóm hai loại sâm quý nhất thế giới là sâm Cao Ly và sâm Mỹ.

          Cũng theo tài liệu của Trung tâm Sâm Việt Nam thì từ 1978 đến 1980 đã tiến hành 3 đợt điều tra trong 8 tháng ở 50 chóp núi thuộc Ngọc Linh Liên Sơn có độ cao từ 1.700m trở lên. Đoàn đặt 1.032 ô tiêu chuẩn thu được 137.932 số liệu từ 17.548 cây sâm trữ lượng khoảng 10 tấn. Dựa theo địa hình mọc tập trung nhất của cây sâm đoàn khoanh thành 11 chốt bảo vệ khai thác và ươm trồng. Tháng 3-1980 vùng sâm Ngọc Linh được Hội đồng Chính phủ ra Quyết định công nhận là "VÙNG CẤM QUỐC GIA" (nay là Vườn Quốc gia Ngọc Linh) để bảo vệ hệ sinh thái. Năm 1985 việc nghiên cứu trồng thử nghiệm ở độ cao từ 1.100 đến 2.000m thuộc xã Măng Ri phía Kon Tum và xã Trà Linh phía Quảng Nam đã cho một số kết quả khả quan. Nhưng một thực trạng đáng quan tâm là thiên nhiên bị tàn phá nặng nề người người đổ xô tìm sâm phương án bảo vệ và công tác nhân trồng tiến triển chậm nguồn gien sâm Ngọc Linh có nguy cơ xoá sổ! Cả 11 chốt vùng "mỏ sâm" đã không cánh mà bay gần... hết! Cả Quảng Nam và Kon Tum đều đang cố gắng có một số đề án trồng cấy bảo vệ. Ở Học viện Quân y từ một số tế bào gốc ở rễ sâm bằng công nghệ sinh khối tế bào nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc nuôi cấy tế bao sâm Ngọc Linh với số lượng lớn. Toàn bộ quy trình này chỉ mất từ 10 đến 20 ngày trong khi nuôi trồng tự nhiên ít nhất phải mất 6 7 năm mới cho thu hoạch. Cụ thể đã làm ra viên nang sâm phổ biến.

... Những chén rượu sâm Ngọc Linh ngày nay thỉnh thoảng khách đến Kon Tum được anh em bè bạn đãi mời chủ nhân của nó có được đa phần đều từ nguồn lén lút khai thác và tiêu thụ. Vì sâm Ngọc Linh hiện giờ rất khó tìm và đắt đỏ nên quanh vùng chỉ dùng loại Hồng Đắc Sâm (tức sâm dây - cũng nằm trong họ nhân sâm panax một trong 16 loài sâm vùng này). Loại này dễ kiếm dễ trồng hơn. Nói "dễ" cũng chỉ là một cách nói chứ không hẳn đã phổ biến đại trà.

Như vậy Ngọc Linh không những là ngọn núi cao thứ hai của Việt Nam là mái nhà chung của 3 nước Đông Dương là khu căn cứ địa cách mạng vững chắc của Liên khu 5 là vùng văn hóa độc đáo của các tộc người thiểu số Trường Sơn... mà đồng thời cũng là xứ sở của loài nhân sâm tốt nhất nhì thế giới! Khu vực Bắc Tây Nguyên đang sở hữu một ngọn danh sơn độc đáo nhưng chưa khai thác hết những vẻ kỳ thú vô cùng phong phú mà nó đang giấu giữ giữa đại ngàn.

                                                                                                                 Tạ Văn Sỹ

More...

TÔI ĐI TRẠI VIẾT

By tavansy@gmail.com

 

Trại viết (hay trại sáng tác) là một hoạt động cần thiết cho anh chị em sáng tạo văn học nghệ thuật. Thời gian gần đây trại sáng tác được mở ra rất nhiều. Có đơn vị mở nhiều lượt trại trong năm cho thành viên của mình và các cộng tác viên.

          Đây là việc làm thiết thực giúp anh chị em có điều kiện để hình thành và hoàn thành tác phẩm vì thực tế giới sáng tác ở ta hầu như sinh sống bằng những ngành nghề khác để nuôi nghiệp viết! Do vậy nên thời gian điều kiện để toàn tâm toàn ý hoàn thiện bản thảo là ít ỏi khó khăn. Các trại viết chính là dịp giúp họ chuyên tâm hơn vào đứa con tinh thần của mình.

          Tôi được nhiều lần tham gia một số trại viết. Đợt ngắn nửa tháng đợt dài cả tháng. Mỗi đợt trại đều có một ấn tượng riêng nhưng hai lần dự trại do Uỷ ban Toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào các năm 2001 và 2002 mỗi đợt 30 ngày cho 30 người ở 30 tỉnh thành còn lưu nhiều kỷ niệm.

          Tiêu chí đề ra cho trại viên là hoàn thiện bản thảo đã có sẵn và (nếu được thì) viết tác phẩm mới. Bốn tuần lễ chúng tôi làm quen trao đổi động viên nhau viết lách. Ban Tổ chức mời hẳn mấy tác giả có uy tín thường xuyên đến phụ đạo các nhóm chuyên ngành. Nhà thơ Vũ Quần Phương phụ trách nhóm Thơ nhà văn Đỗ Chu phụ trách nhóm Truyện ngắn nhà văn Nguyễn Khắc Trường phụ trách nhóm Tiểu thuyết nghệ sĩ Nhân dân Tất Thắng phụ trách nhóm viết kịch... Ngoài ra còn mời thêm một số vị tên tuổi đáng kính khác đến nói chuyện trao đổi giao lưu như nhà văn Nguyễn Đình Thi nhà thơ Hữu Thỉnh nhạc sĩ Trần Hoàn hoạ sĩ Vũ Giáng Hương nhà thơ Võ Văn Trực v.v... Mỗi thầy một vẻ họ đã truyền đạt cho chúng tôi nhiều cảm nhận và kinh nghiệm đáng quý.

Có những nhà văn nhà thơ nhà báo nghệ sĩ... vì quan tâm cũng tự tìm đến trại thăm chơi gặp gỡ trại viên. Phóng viên các báo đài cũng đến đưa tin và lấy bài vở về giới thiệu... Anh chị em học hỏi được nhiều điều về quan niệm và kinh nghiệm về tính cách và nhân cách... của lớp đàn anh của những người nổi tiếng có những thành tựu nhất định.

Trại còn tổ chức tham quan thực tế các nơi nổi tiếng các di tích văn hoá lịch sử quanh vùng để anh chị em thêm kiến thức và cảm nhận... Từ những thực tiễn đó tầm cảm tầm nghĩ mọi người "mở" ra rất nhiều nhất là đối với những cây bút "tầm tầm" ở... "vùng sâu vùng xa" như chúng tôi thuở ấy! Tôi tự cảm thấy mình trưởng thành rất nhiều nhờ những đợt trại như vậy.

          Bốn tuần lễ là thời gian vừa đủ để chúng tôi tìm hiểu và kết thành tình bạn văn chương ấm áp thân tình đến mãi sau này vẫn quan hệ mật thiết và quý trọng nhau. Bốn tuần cũng vừa đủ cho ngoài việc tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm từ thầy từ bạn mọi người còn đủ thời gian để sửa chữa hoàn chỉnh tác phẩm đã có đủ để cảm nhận ghi chép hình thành ý tưởng cho những bài viết mới. Đặc biệt là được thâm nhập tìm hiểu và cảm xúc về đất Thăng Long - Hà Nội thiêng liêng mà những người tỉnh lẻ xa xôi không dễ gì có dịp. Lại còn được gặp gỡ làm quen học hỏi với các tác giả lớn mà lâu nay mình chỉ biết qua tác phẩm. Kết quả khá rõ cho cách đi sáng tác ấy là đến nay hai phần ba trại viên đã khẳng định được tay nghề viết đều viết tốt được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

          Sau này hầu như các trại chỉ tổ chức trên dưới 15 người trong vòng 15 ngày. Nhưng thực tế trừ thời gian đi về thời gian tổ chức khai mạc bế mạc... thì chỉ còn trên dưới mươi ngày. Trại không tập trung về Hà Nội mà tãi ra ở nhiều vùng miền.

          Tôi nghĩ với thời gian ấy anh chị em trại viên không kịp làm quen nhau chứ đừng nói tìm hiểu đánh bạn giao lưu. Mà nhu cầu giao du bè bạn là rất cao rất cần cho người sáng tác nó là nguồn động viên cổ vũ lớn trong quá trình sáng tạo. Với thời gian ấy cũng khó mà hoàn thành bản thảo (nhất là bản thảo dài hơi) hoặc lập trình viết mới. Ngay cả những trại của các "nhà viết chuyên nghiệp" cũng không hẳn đến đó với duy nhất mỗi việc... "đóng cửa phòng văn hì hục viết"! Từ đó dễ tạo tâm lý cứ chuẩn bị sẵn tác phẩm từ nhà đến trại chỉ việc... "nộp quyển"!

          Như đã nói đa phần anh chị em ít có dịp đi đó đây để mở rộng cảm quan và kiến thức. Đây chính là dịp được tham quan tiếp cận tìm hiểu một vùng đất khác những con người khác để làm tư liệu (và cảm xúc) cho các trang viết về sau thì cũng không đủ thì giờ. Như thế sẽ rất tiếc cho một chuyến đi mà với một số người đôi khi là... năm thì mười hoạ mới có được! Trại viên cũng không được dịp trao đổi học hỏi với các bậc đàn anh các cây bút uy tín và cọ xác với bạn bè để tự so sánh đánh giá bút lực của mình dễ dẫn đến tâm lý "văn mình vợ người"!

          Cách tổ chức trại rải đều ra các vùng miền cũng tốt nhưng tổ chức ở vùng miền này thì cho người vùng miền khác tham dự. Như đã nói nhu cầu của giới sáng tác là luôn cần đi cần khám phá để có những kiến văn và cảm xúc mới mẻ. Những cảnh quan quen thuộc nhàm chán thường không đem lại cảm hứng sáng tạo tốt. Người vùng miền này đến vùng miền khác rất dễ có cảm xúc và ý tưởng mới lạ hơn.

Với chi phí cho việc tổ chức nhiều trại viết trong năm (có cơ quan tổ chức 6 trại một năm) thiết nghĩ nên thu lại một nửa để kéo dài thời gian và tăng lượng người tham gia như mô hình 2 trại đã trình bày trên. Mời người vững tay nghề (ở các thể loại) tham gia kiểu "phụ đạo" đọc bản thảo góp ý với từng tác giả tổ chức thảo luận giữa các trại viên để học hỏi và rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho suốt thời gian mở trại (như một khóa học)... Thời gian kéo dài cũng là động lực cho người đăng ký (hoặc được gọi dự trại) phải thu xếp công việc riêng tư để hoàn toàn yên tâm cho một cuộc đi xa lâu ngày mà toàn tâm toàn ý cho sáng tác.

... Có thể coi trại Ánh Sáng ở Cẩm Giàng - Hải Dương những năm đầu thế kỷ XX của Tự Lực Văn Đoàn là kiểu trại viết sớm có mặt ở nước ta. Từ đó bao nhiêu tác phẩm của nhiều nhà văn đĩnh đạt ra đời đã góp phần tạo nên một diện mạo mới mở ra một thời kỳ mới cho văn học nước nhà lúc ấy.

          Đành rằng viết thì lúc nào cũng được nơi nào chả xong hà cớ gì phải là ở trại sáng tác! Nhưng đã là mở trại thì nên hoạch định cho có hiệu quả về nhiều mặt chứ không riêng gì chuyện viết lách. Không khéo lại tạo ra quan niệm rằng khoảng mươi ngày chóng vánh ấy chỉ là dịp để... đổi gió "xả xú-páp" mà thôi! Anh chị em viết lách ai cũng có nhu cầu được tham gia trại viết nhưng đi chóng vánh và dễ dàng sẽ làm cho ý nghĩa trại sáng tác trở nên quá phổ cập kém trang trọng! Làm sao để tạo tâm lý "được đi trại" và "đi trại được" là một vinh dự một kỷ niệm khó quên một dấu ấn đặc biệt trong cảm thức của cuộc đời mỗi bạn viết.

                                                                                                           Tạ Văn Sỹ

More...

MỘT NGÀY ĐÀ NẴNG

By tavansy@gmail.com

 

Để chuẩn bị cho Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8 sẽ tiến hành ở Hà Nội vào đầu tháng 8-2010 này Hội đã quyết định tổ chức Hội nghị các nhà văn hội viên khu vực Nam Miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 15-6-2010.

Lục tục trong ngày 14 anh chị em từ các tỉnh thành lần lượt tập trung về nhà khách T.26 của cơ quan Trung ương Đảng đóng ở số 1 đường Quang Trung ngay sát cạnh sông Hàn vui như... trẩy hội! Ấy là nói chung chứ cá biệt có người đã đến rất sớm từ ngày hôm trước  như nhà thơ Văn Công Hùng của Gia Lai (vì lịch bay Plei Ku - Đà Nẵng không có cho ngày 15) còn đoàn Đăk Lăk thì lại quá muộn phải đi suốt đêm từ thành phố cà phê Buôn Ma Thuột đến 5 giờ sáng ngày 15 mới đến nơi chỉ kịp nghỉ ngơi đôi chút ăn sáng qua loa là bước vào phòng họp ngay.

Ai xa cách lâu ngày về lại thành phố thủ phủ Miền Trung này chắc chắn sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp mới toanh lộng lẫy kiêu sa như cô gái đang vào độ xuân thì của Đà Nẵng hôm nay! Mọi người trầm trồ thán phục một Đà Nẵng ngỡ gặp trong mơ! Nhưng chuyện Đà Nẵng hẵng để nói sau phải vào đề ngay cái chuyện đang... "nóng" (lòng) như nhiệt độ 39 độ C tại Đà Nẵng trong mấy ngày này là Hội nghị khu vực của Hội Nhà văn.

Đợt trước (khóa 7) khu vực Nam Trung Bộ (Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên Khánh Hòa) hội nghị riêng khu vực Tây Nguyên (Kon Tum Gia Lai Đăk Lăk) hội nghị riêng. Ở đây chưa kể Đăk Nông vì tỉnh này còn... trắng hội viên và không nhắc Lâm Đồng vì tỉnh này sinh hoạt theo khu vực Đông Nam Bộ.

Sở dĩ có chuyện gộp hai khu vực làm một vì thể theo yêu cầu của đa số hội viên khu vực Tây Nguyên đề nghị xin sáp nhập. Bởi lẽ cả Tây Nguyên rộng mênh mông bát ngát xa nhau từ tỉnh nọ đến tỉnh kia có nơi đến gần 500 cây số mà chỉ có... 12 hội viên! Các nhà văn nhà thơ thì ham đông ham vui ham tán gẫu bông phèng năm thì mười họa mới có dịp gặp nhau mà ít người quá thì... buồn chết! Thế là bèn hè nhau đòi nhập.

Do vậy mà Hội nghị kỳ này có đến 60 anh chị em bạn bè gặp nhau hỉ hả. Đúng ra là trên con số này vì có mấy người không đến được như nhà thơ Liên Nam của Phú Yên vì già yếu không "phó hội" nổi nhà thơ Huỳnh Quang Nam cũng của Phú Yên đã vào thành phố Hồ Chí Minh nhà văn Quý Thể  và Cao Linh Quân của Khánh Hòa cũng không đi được nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng của Quảng Ngãi vì căn bệnh hiểm nghèo phải nằm còng queo một chỗ xưa nay nhà thơ Thanh Thảo cũng ở Quảng Ngãi vì đang mùa "bình luận bóng đá World cup" không thể rời màn hình nhà văn Nay Nô của Gia Lai không đi  nhà thơ Hương Đình cũng của Gia Lai vì là Chánh chủ khảo mùa thi tốt nghiệp phổ thông (Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo mà) cũng không thể vô tổ chức mà rời vị trí này được (mặc dù rất... ham vui gọi điện thoại liên tục cho anh em hỏi thăm không khí hội họp với giọng đầy tiếc rẻ)! Gần nhất là tại... sân nhà mà nhà thơ Lưu Trùng Dương cũng không thấy mặt.

Đoàn Kon Tum của mình chỉ có 3 người: Huỳnh Trung Hiếu Hữu Kim và Tạ Văn Sỹ dắt díu nhau đi xe đò (vì kinh phí Hội Văn nghệ tỉnh cho chỉ có vậy!). Vừa vào nhà khách gặp anh Hữu Thỉnh ở sân đã hỏi ngay mình "Em đi bằng phương tiện gì"? -Ai cũng hiểu vì sao anh Thỉnh hỏi thế vì nghĩ rằng mình đi bằng xe máy như mọi lần trước! Nhớ Đại hội kỳ 7 anh Thỉnh gọi điện thoại bảo "Em nhớ đi máy bay cho khỏe nhé. Ra đây Hội thanh toán cho. Đừng đi xe máy nhọc lắm"! Thế nhưng mình vẫn đi xe máy. Ra đến Hà Nội biết sự việc anh Thỉnh bèn bảo văn phòng Hội thanh toán cho mình giá xe đò. (Phải ra bến Giáp Bát xin cặp vé khứ hồi Kon Tum - Hà Nội để làm thủ tục kế toán). Riêng anh cho thêm 500 ngàn để... đổ xăng!

Tối ngày 13 họp chớp nhoáng gọi là trù bị cử ngay đoàn Chủ tịch gồm "già làng" Hữu Thỉnh Thanh Quế Linh Nga Niê K đăm Lê Khánh Mai Hữu Kim. Đoàn thư ký với 3 "nhà văn trẻ" Văn Công Hùng Huỳnh Thạch Thảo Trần Thị Huyền Trang. Xong là mạnh ai nấy tỏa ra chiêm ngưỡng thành phố đẹp theo "kênh" của mỗi người. Riêng mình được nữ sĩ trẻ trung xinh đẹp và sắc sảo của đất Đà Thành là Nguyễn Thị Anh Đào đưa đi một vòng dọc sông Hàn diễm lệ hóng gió cầu Quay lung linh cầu Thuận Phước huyền ảo và sau đó là quán cà phê Văn êm dịu. Đêm Đà Nẵng tự dưng... thơ hơn!

8 giờ sáng 15-6. Vào Hội nghị qua báo cáo của Chủ tịch Hội anh chị em "há hốc" ngạc nhiên khi nghe một số thông tin nội bộ mà lâu nay ít ai để ý: Nói quy tròn thì một nửa của tổng số 921 hội viên là người đang sinh sống ở Hà Nội! Một nửa của nửa còn lại thì ở thành phố Hồ Chí Minh! Nghĩa là chỉ có một phần tư chia đều cho các... tỉnh lẻ! Có đến 70% hội viên trên 60 tuổi nghĩa là Hội đang bị lão hóa! v.v... Tuy nhiên bên cạnh những "ngạc nhiên" ấy lại là sự náo nức với những "viễn cảnh tương lai". Xin lượt kê ra đây vài "món" hấp dẫn của những dự kiến trong nhiệm kỳ khóa 8 sắp tới: -Hội Nhà văn là Hội duy nhất được Trung ương cho Đại hội toàn thể trong khoảng 20 năm qua! Sẽ "vi tính hóa" toàn bộ 921 hội viên mỗi người phải có một laptop tầm 10 triệu! (Ai có rồi thì nhận tiền)! Lập nhà nghỉ dưỡng tại Tam Đảo cho hội viên đau bệnh. Lập quỹ bảo trợ cho hội viên già yếu (chứ không cần phải có đề cương sáng tác mới nhận được hỗ trợ như lâu nay). Lập quỹ cho nhà văn đi thực tế sáng tác. Tăng gấp đôi tiền giải thưởng hàng năm. Cải tổ phương cách xét kết nạp hội viên v.v...

Hội nghị tiếp tục bằng những... "ham nói" (dịch "đểu" từ Tham luận. Tham là ham luận là nói!) sôi nổi của Lệ Thu Cao Duy Thảo Triệu Lam Châu Linh Nga Niê K đăm Văn Công Hùng Trần Huiền Ân Nguyễn Gia Nùng Tạ Văn Sỹ... Không khí trở nên rôm rả vui vẻ... Nhưng vui hơn cả vẫn là những chuyện "bên lề Hội nghị" giúp anh chị em có những trận cười... xả láng! Ví dụ như "nhà thơ trẻ" Phạm Đương là tác giả cái lá phiếu duy nhất bất hợp lệ khi bầu Ban Liên lạc khu vực. Hắn thả hồn thi sĩ qua cửa sổ thế nào mà bầu khu vực hắn lại ghi đủ 3 cái tên người hắn tín nhiệm ở... Hà Nội! Cũng được cái hắn là người thật thà vì chính hắn "tự thú trước bình minh" cái vụ việc ấy! Phạm Đương cũng còn được một việc nữa là chịu khó "sưu tầm" hiến tặng cho anh em mẩu chuyện vui mà hắn thề rằng chính mình chứng kiến: -Như đã nói Hội Nhà văn đang có khuynh hướng lão hóa nên nhìn qua một lượt 60 hội viên tụ về Đà Nẵng có người bảo rằng đây là hội nghị... Người cao tuổi! Một ví dụ hùng hồn là nhà thơ "Quê hương" Giang Nam (đã vào hàng "bát thập") gặp nhà văn Thái Bá Lợi ở buồng thang máy hỏi: -"Anh tên gì mà tôi thấy nét mặt quen quen? Hình như ta đã gặp nhau ở đâu rồi ấy nhỉ"? Tác giả "Hai người trở lại trung đoàn" trả lời: -"Dạ em là Thái Bá Lợi anh ạ"! -"Ừ à anh viết Rừng xà nu hay quá"! Thái Bá Lợi giẫy nẩy: -"Ấy chết! Anh Nguyên Ngọc đã đăng ký bản quyền cái truyện đó rồi anh ạ"! - "Ừ à tôi nhớ ra rồi anh viết Trùng tu mà tôi cứ nhớ mang máng ra ru... nu... gì ấy nên nhầm là Rừng xà nu"! -"Vâng ạ anh nhớ "ru nu" là được rồi chứ đừng nhớ thành... "mu" thì chết em"! Lát sau vào bàn ăn lại vô tình hai người ngồi cùng bàn. Nhà thơ "Quê hương" hấp háy mắt nhìn sang Thái Bá Lợi hỏi thăm làm quen: "Anh tên gì ấy nhỉ"? -"Dạ tên em... vẫn là Thái Bá Lợi đấy ạ! Lợi giống thế này anh ạ"! Vừa nói Thái Bá Lợi vừa cười hở... một khoảng trống hoác 4 cái răng cửa không còn giơ ra một vòm... lợi! (Chuyện này copyright by Phạm Đương qua thư email cho Tạ Văn Sỹ).

Hội nghị bầu được ba vị vào Ban Liên lạc khu vực là Văn Công Hùng Huỳnh Thạch Thảo và Trần Thị Huyền Trang. Hy vọng các vị "mới mẻ vui vẻ trẻ trung" này sẽ "quậy" cho khu vực có "không khí" hơn trước đây.

Hội nghị cũng bỏ phiếu kín dự kiến nhân sự sẽ bầu vào Ban Chấp hành toàn Hội sắp tới. Chỉ tội nhà thơ Nguyễn Hoa Trưởng ban Công tác hội viên phải lệ kệ ôm mang hòm phiếu được niêm phong cẩn trọng này về Hà Nội mà trình với Trung ương!

Lại thêm được một đêm "tùy nghi di tản" nữa ở Đà Nẵng. Đêm này mình lại được một "nam sĩ" của Đà Nẵng là bạn thơ - bác sĩ Mai Hữu Phước cho đi long rong hóng... nóng và gặm chân gà rỉ rả tâm tình bên bờ sông Hàn tịch lặng.

Sáng 16 tay bắt mặt... buồn chia tay anh chị em bạn bè  thầm chào Đà Nẵng ra về đợi ngày "tháng Tám mùa thu" đi "phó hội" ở Thủ đô sẽ được gặp nhiều bè bạn anh chị em cả nước.

Tạ Văn Sỹ

More...

CÁC NHÀ VĂN Ở TÂY NGUYÊN VỚI TÂY NGUYÊN

By tavansy@gmail.com

 

(Tham luận tại Đại hội khu vực Hội Nhà Văn Đà Nẵng 14-6-2010)


Kính thưa Hội nghị

Xin được trình bày vài suy nghĩ nhỏ về vấn đề lâu nay nhiều người băn khoăn và... loay hoay! Băn khoăn vì nó được đặc biệt quan tâm và loay hoay vì chưa có một thống nhất trong quan điểm. Ấy là chủ đề Tây Nguyên với Nhà văn hay là Nhà văn và Tây Nguyên.

Chúng ta đã từng tiếp cận tiếp nhận bao luồng văn học từ các quốc gia các dân tộc Á Âu Phi Mỹ... Ai cũng cảm thấy thông hiểu gần gũi với các đặc tính đặc điểm điển hình các nền văn hóa từ muôn phương ấy. Nào Pháp Nga Anh Ý Mỹ... Nào Gô-gôn Puskin Huy-gô Xécvăntet Hêminguê Uýtman v.v... Thế mà chỉ mỗi một vùng đất nhỏ là khu vực Tây Nguyên lại có rất nhiều bài viết nhiều ý kiến nhiều thảo luận... với câu hỏi "Các nhà văn đã làm gì với Tây Nguyên?" và "Tây Nguyên đã đi vào tác phẩm của nhà văn như thế nào?"... cứ như là một vấn đề xa lạ lắm!

Dĩ nhiên những thảo luận những bài viết những ý kiến đều cần thiết cho một vấn đề văn học. Nhưng có lẽ chúng ta dễ bị sa vào con đường thuyết lý nhiều hơn là nhìn vào đi vào thực tiễn. Thực tiễn đất nước ta là một quốc gia đa sắc tộc đa vùng miền. Trừ vùng đồng bào Kinh là dân tộc đa số thì các vùng Tây Bắc Tây Nguyên và Tây Nam là khu vực cộng cư của nhiều dân tộc thiểu số anh em. Dĩ nhiên các nơi ấy mang sắc thái riêng trong bức tranh toàn cảnh văn hóa Việt Nam.

Một thực tế cho thấy người ở các dân tộc thiểu số anh em tham gia sáng tác văn học còn rất ít. Tây Bắc Việt Bắc có nhiều hơn một tí còn Tây Nguyên và Tây Nam thì rất ít. Ở đây không chỉ nói sáng tác bằng tiếng phổ thông vì ai cũng biết cái gờ đất ngôn ngữ cũng phần nào làm vấp váp một phần sự thể hiện tư duy và cảm xúc của các nhà văn này. Ngay cả sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của họ cũng rất ít ỏi. Chính các nhà văn là người dân tộc thiểu số của chúng ta cũng đã từng lên tiếng cảnh báo và thở than điều này. Vậy thì ai là người phổ biến tốt nhất những đặc trưng văn hóa của dân tộc và vùng miền hơn là người bản địa?

Câu hỏi này lâu nay vô hình chung chúng ta cứ đem ra đặt cho các nhà văn có gốc gác miền xuôi đang sinh sống ở miền núi mà Tây Nguyên là một ví dụ. Điểm lại trong cả nước trừ các tác phẩm của các nhà văn bản địa (như đã nói là rất ít) thì được mấy  tác phẩm thành công của người miền xuôi trên lãnh vực này? Có thể đếm trên đầu ngón tay những Tô Hoài Ma Văn Kháng... viết về Tây Bắc. Sau này có thể kể một ít nữa của các tác giả trẻ như Đỗ Bích Thúy Phạm Duy Nghĩa... Ở khu vực Tây Nam thì ngoài Sơn Nam Đoàn Giỏi... đã có thêm những tên tuổi nào đáng nhắc? Nhưng các tác phẩm của Đoàn Giỏi Sơn Nam cũng là phản ánh sinh hoạt tập quán chung vùng sông nước Tây Nam trong đó có cả bà con đa số và thiểu số. Còn Tây Nguyên thì sao? Lâu nay nói đến "vùng văn học" này cũng chỉ có mấy cái tên Nguyên Ngọc Thu Bồn Ngọc Anh Trung Trung Đỉnh... với những "Bài ca chim chơ-rao" "Đất nước đứng lên" "Rừng xà nu" Bóng cây kơ-nia"... luôn được tôn vinh như những "già làng"! Thế hệ sau các tên tuổi ấy đến nay đúng là vẫn chưa có mấy người gây được dấu ấn đậm nét.

Là Đại hội của Hội Nhà văn nên chỉ xin điểm thoáng qua những tác giả hội viên để xem Hội ta đã làm được gì ở đây? Trước hết về các tác giả người bản xứ. Một Linh Nga Niê K đăm có lẽ là người thông hiểu và tâm huyết với Tây Nguyên nhất. Nhưng chị lại là người quá đa tài hoạt động rộng trên nhiều lĩnh vực nên cũng quá... đa đoan để có thể dồn tâm lực cho tác phẩm lớn về bản quán quê nhà! Một Kim Nhất như người thích đứng nơi bậu cửa nhìn ra chứ không bước hẳn ra trời! Một Nay Nô dường như đã... thích làm ẩn sĩ!... Cây bút thiểu số ở Tây Nguyên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam chỉ có thế! Đang lác đác xuất hiện không thường xuyên một số cây bút trẻ nhưng kết quả thế nào thì cứ... hãy đợi đấy! Còn lại các hội viên người Kinh ở Tây Nguyên đã làm được gì? Không thể phủ nhận ý thức và đóng góp của họ cho phong trào sáng tác cho khu vực nhưng như đã nói cũng chưa mấy người tạo được ấn tượng mạnh. Một Thu Loan lặng lẽ xới cày mong vỡ vạc mảnh đất còn nhiều hoang hóa nhưng một mùa màng bội thu nghe chừng còn chờ khi đất đai thuần thục! Một Văn Công Hùng yêu mê Tây Nguyên hết mực nhưng như người chỉ thích cỡi con ngựa trắng tung tẩy dạo chơi và ca hát trên thảo nguyên nắng gió chứ chưa đi sâu vào một cụ thể nào. Một Văn Thảnh mặc dù đã cố gắng có 2 tập thơ đầy hình ảnh và dữ liệu Tây Nguyên nhưng hình như thanh giọng anh thiếu lực nên cũng chìm khuất đâu đó trong âm âm u u của tiếng đại ngàn. Một Tạ Văn Sỹ muốn dòm ngó lách luồn vào chiều sâu hồn cốt Tây Nguyên nhưng lại như người đuối sức ngộp thở và ngắc ngoải! Một Phạm Doanh vẫn còn nặng nhiều giọng điệu của hồn thơ đất mỏ giữa đất Tây Nguyên. Một Nguyễn Hoàng Thu với trường ca về con sông Mẹ nhưng hình như nước nguồn của nó cũng đã nhập và tan vào đâu đó theo dòng Sêrêpốc! Một Hữu Kim chỉ phơ phớt những cảm xúc bắt chộp bất ngờ trên bước đường người lính khi ngang qua vùng đất này. Một Hương Đình cảm xúc Tây Nguyên qua con mắt của một quan sát viên mẫn cảm. Một Huỳnh Trung Hiếu thích ca ngợi hô hào cho cuộc sống hơn là đắm hồn với Tây Nguyên... Đang xuất hiện một số cây bút đầy năng lực khác trên vùng đất này nhưng nghe ra cũng... muôn giọng điệu!

Là nói vậy thôi chứ có ai cả đời chỉ viết một đề tài? Chỉ mong may ra các nhà văn ở khu vực vùng miền nào cũng có một số sáng tác thành công nhất định về vùng miền ấy. Để sáng tạo xây dựng một tác phẩm văn học (dẫu là một truyện ngắn một bài thơ lẻ) đi vào được hồn cốt bản sắc văn hóa khu biệt của một vùng miền không phải là chuyện ai cũng làm được! Các nhà văn ở Tây Nguyên chỉ mới giới thiệu phổ biến Tây Nguyên ở dạng báo chí nhiều hơn. Một số người rất tích cực viết nhiều ở lĩnh vực này như Linh Nga Niê K đăm Văn Công Hùng Nguyễn Hoàng Thu Tạ Văn Sỹ... Nhưng từ những bài báo nhỏ lẻ để đi vào những trang văn đĩnh đạc e hãy còn xa ngai ngái!

Tóm lại muốn có dấu ấn vùng miền rõ nét trước hết phải có con người của vùng miền ấy. Sau đó mới yêu cầu đòi hỏi người khác. Mà điều này ở khu vực Tây Nguyên là còn rất thiếu và yếu. Các nhà văn người xuôi sinh sống nơi đây cũng nỗ lực hết mình nhưng tài năng và tố chất nhập thân với Tây Nguyên chưa đủ độ để cho ra đời những tác phẩm đậm đặc. Nhìn từ góc độ từng cá nhân riêng lẻ là vậy. Nhưng nếu tập hợp chung vào thì cũng có thể trở thành một "mảng sáng" của văn học Tây Nguyên.

Hội ta nên phát hiện và phát triển nhiều hơn nữa cho "vùng văn học" này!

                                                                                                                 Tạ Văn Sỹ

More...

THƯ NGỎ…

By tavansy@gmail.com

 

Kính gửi bạn bè và tất cả mọi người yêu mến xứ Kon Tum


Ngày 9 tháng 3 năm 2013 sắp đến tỉnh Kon Tum sẽ kỷ niệm 100 năm thành lập (9-3-1913 - 9-3-2013) theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut.

Kon Tum là vùng đất mới lạ đối với nhiều người xa xôi cách trở giữa đại ngàn cực bắc Tây Nguyên có nhiều đặc điểm về địa dư văn hóa lịch sử cảnh vật... chưa được khai thác. Cuối năm 1931 thực dân Pháp thành lập Nhà Đày Kon Tum (nay quen gọi là Ngục Kon Tum - theo tên tập phóng sự nổi tiếng đã từng gây chấn động dư luận quốc tế sau khi ấn hành của Lê Văn Hiến xuất bản năm 1938). Cuối năm 1932 ở đây xảy ra 2 cuộc đấu tranh bi tráng: ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT (12-12) và ĐẤU TRANH TUYỆT THỰC (16-12) do các tù chính trị phạm tổ chức. Từ đó hình thành nhóm TAO ĐÀN NGỤC THẤT - một tổ chức sinh hoạt sáng tác văn học đầu tiên tại Kon Tum. Có thể coi đó là khởi nguồn của dòng văn học viết tại đây. Tiếp theo sau (cho đến ngày nay) đã bao người đến Kon Tum hoặc ở lại sinh sống lâu dài hoặc chỉ ghé ngang đều có nhiều cảm xúc và có làm thơ về Kon Tum.

Hiện nay Tỉnh Kon Tum đang ráo riết lập nhiều kế hoạch chuẩn bị cho ngày lễ trọng ấy. Không rõ ý tưởng sẽ ấn hành một TUYỂN TẬP THƠ 100 NĂM KON TUM có tên trong danh mục các kế hoạch ở các cơ quan chức năng của Tỉnh và Hội Văn học - Nghệ thuật hay không thì tôi chưa được biết. Riêng cá nhân tôi xuất phát từ niềm yêu mến vùng quê mình đã gắn bó trọn đời này nên nảy ý định làm một TUYỂN TẬP THƠ cho Kon Tum nhân dịp kỷ niệm ấy. Nếu có được thông báo từ cơ quan chức năng Tỉnh hoặc của Hội Văn nghệ tôi sẽ liên hệ để cùng hợp lực thực hiện kế hoạch này.

Nội dung dĩ nhiên là những bài thơ viết ở Kon Tum và viết về Kon Tum. Tác giả là người không những đang sinh sống tại Kon Tum mà cả đã từng đến từng biết Kon Tum hoặc chỉ vì yêu mến Kon Tum mà có thơ cảm tác. Bằng hữu nếu ai biết có bài thơ nào hay viết về vùng đất này cũng xin giới thiệu hoặc sưu tập gửi về giúp cho.

Hiện đã sưu tập được một số bài từ các nguồn tư liệu thư tịch và trên các sách báo tình cờ đọc được. Sẽ có thông báo sau để được liên lạc với tác giả xin phép sử dụng.

Dự định nếu đủ chẵn 100 người 100 bài thì... "đẹp số" (!) bằng không đủ số người thì cũng tuyển đúng 100 bài thơ và sách sẽ ấn hành vào cuối 2012.

Mong quý vị và bằng hữu có bài xin gửi về càng sớm càng tốt càng nhiều càng tốt để chúng tôi có thời gian sưu tập tuyển chọn được đầy đủ hơn và tốt hơn.

Địa chỉ email: tavansy@gmail.com. Điện thoại: 0905171113.

Để tiện cho việc lưu trữ biên tập cũng như làm thủ tục xuất bản sau này xin quý bạn không gửi bản viết tay hoặc đánh máy trên giấy mà chỉ bằng email. Kèm theo bài là ảnh chân dung vài dòng vắn tắt về nhân thân (tên thật bút danh ngày sinh nơi sinh chỗ ở hiện nay nghề nghiệp địa chỉ liên lạc một vài kỷ niệm về Kon Tum - nếu có)...

Chúng tôi sẽ mời một số nhà thơ uy tín các vị thức giả có quan tâm đến văn học nghệ thuật và yêu mến quê hương - cảnh vật Kon Tum tham gia thẩm định tuyển chọn.

Mong nhận được sự cộng tác tích cực từ tất cả mọi người để TUYỂN TẬP THƠ 100 NĂM KON TUM được có mặt đúng vào thời điểm trang trọng ấy.

                                                                                                                  Tạ Văn Sỹ

More...

GẶP TẠ VĂN SỸ Ở PHỐ NÚI KON TUM

By tavansy@gmail.com

 

* Lời thưa: Vừa đưa bài viết nhỏ của cô bạn nhỏ với ước ao được về Miền Tây Nam Bộ lên trang blog này thì liền được một bạn đọc ở nơi ấy comment những lời thiện cảm. Xin trân trọng cảm ơn. Điều này khiến sực nhớ một người cũng ở vùng sông nước ấy có bài tùy bút về những ngày ở Kon Tum lâu nay lưu giữ để làm kỷ niệm riêng tư. Nay nhân tiện này cũng xin đưa luôn ra đây để "khoe" với bạn bè một người bạn Miền Tây khác vậy!

Tôi gặp Tạ Văn Sỹ trong một chiều mưa lất phất của phố núi Kon Tum một địa danh đặc thù ở cực bắc Tây nguyên.

 Đó là một nhà thơ mà theo tôi nghĩ đời thơ và đời thường chỉ là một: -"Còn này ta một thằng kiết xác/ Cứ lơ ngơ như đứa lạc đường/ Đời bon chen mà ta ngơ ngác/ Kiếp tơ tằm đến thác còn vương"!

Anh thật dễ thương. Anh tạo cho tôi một chút gần gũi từ phút ban đầu và cái cảm nghĩ cũng từ phút đầu tiên tôi mới được cảm nhận chính là... cần chi lập dị mới làm nên thi sĩ?

Trong nụ cười của Sỹ tôi mơ hồ có chút nào đó của nét mệt mỏi chán chường sự đời mà vẫn chân thật tình đời: -"Hãy ngồi đây hỡi người tri kỷ/ Bọn chúng mình kể đã tâm giao/ Ngồi đây dẫu không là rượu quý/ Đầu năm vui thì có sá nào!".

Còn gì thân tình hơn còn gì đậm đà nghĩa bằng hữu hơn qua mấy câu thơ ấy? Có lẽ với Sỹ trong thơ là rượu và chất thơ trong rượu như Lý Bạch chỉ có thể làm thơ khi có rượu?

Uống rượu với Tạ Văn Sỹ tôi mới chợt nhận ra rằng hoá ra bao nhiêu năm qua ta vẫn là người chưa biết uống rượu! Ta chỉ là một anh "quê rượu" đúng nghĩa.

Có thể nói gần như đa số văn nghệ sĩ đều là những người ít nhiều làm bạn với chất men cay tôi chỉ là một "lãng tử" nửa vời rượu chưa uống đã say. Thế mà khi gặp Tạ Văn Sỹ tôi thấy nếu không có tí rượu e rằng sẽ không thể hiểu Sỹ nhiều hơn.

Đêm Kon Tum se lạnh. Tôi với Sỹ chia nhau chai rượu đế trắng. Cái rùng mình của vùng sơn cước cái ấm áp của men rượu và cái nồng thắm của tình thơ đã khiến tôi thực sự chơi vơi.

Trong đời thường Tạ Văn Sỹ có chân dung của một người đàn ông chân tình thẳng thắn. Khi cười khi nói anh luôn tạo cho người đối diện một chút nào đó an tâm tin tưởng Vâng đó là Tạ Văn Sỹ giữa đời thường. Còn trong thơ Sỹ đã cảm nhận nỗi đắng cay của cuộc đời để mà chuếnh choáng chút men say để làm thơ như thể khóc: -"Anh nghèo không thể tả/ Tôi khổ hết đường ra/ Thương nhau đành để dạ/ Anh buồn tôi xót xa"! Còn gì đậm đà hơn cho một tình bạn? Những lời thơ tuyệt vời nhất luôn là những ý thơ chân thành nhất.

Có lẽ cuộc đời của Tạ Văn Sỹ chỉ có ba điều quý nhất đó là tình yêu bè bạn và một chút rượu thơ - Rượu thơ và rượu thần của người xưa phải chăng hôm nay Tạ Văn Sỹ là người chuyển đạt đến với cuộc đời?

Trong tình yêu trong sự nghiệp của Sỹ vẫn còn lắm nỗi rủi may. Vậy thì biết đâu đắng và cay đã làm người ta trở thành thi sĩ?

Đọc qua những bài thơ của Tạ Văn Sỹ ở tập "Trời xa" tôi mường tượng như đó là một lời trần tình chân thật. Tôi vốn là người dốt thơ không hề và chẳng bao giờ dám bàn đến hai chữ "bình thơ". Tôi chỉ nhìn thơ Tạ Văn Sỹ qua góc độ cảm và nhận của một người đọc bình thường.

Nếu như Tagor nói "Thơ chính là tiếng nói của con tim" thì với tôi thơ Tạ Văn Sỹ có nhiều và rất nhiều ý và tứ thơ như là viết cho chính tôi đọc vậy (!). Thơ của Sỹ đã nói lên những điều tôi muốn nói mà chưa nói được: Đó là sự thăng hoa của tình bạn đó là sự tôn vinh của tình yêu tuyệt vọng như câu: -"Hai chúng ta cùng lãng đãng trên đời/ Người đã vậy mà tôi thì cũng vậy/ Cứ tìm nhau rồi mất hút giữa đời/ Cứ thấy đấy mà rồi như chẳng thấy"! Cay đắng đấy mà nghe như chỉ là một lẽ đương nhiên của một người yêu bằng một mối tình nhiều hư ảo.

Cái được và cái mất trong tình yêu chỉ là một khoảnh khắc hiếm hoi. Với Sỹ tình yêu thực sự là hư ảo và có lẽ nhà thơ sống được chính là nhờ vào ánh hồi quang buổi chiều của mối tình hư ảo ấy.

Tôi là người rất yêu thơ mặc dù chẳng thể nào làm được dù chỉ nửa câu. Thế nhưng có một điều rất lạ đọc thơ Tạ Văn Sỹ tôi mường tượng có một chút dù chỉ một chút chuyện của mình ở trong thơ ấy.

Đó là điều đơn giản! Đơn giản thôi vì chính Tạ Văn Sỹ đã dường như không những làm thơ cho mình mà còn cho tất cả mọi người. Đọc thơ Sỹ ta ngậm ngùi nhận thấy loáng thoáng hình bóng và thân phận của chính ta.

Những ngày ở Kon Tum Sỹ luôn là người bạn đồng hành trầm lặng của những bạn bè đồng nghiệp quê Nam Bộ anh trầm lặng như một cái bóng và có thể nói cái bóng của anh đã là một nỗi thân quen một niềm gần gũi của những người cầm bút vùng Châu Thổ Chín Rồng lần đầu tiên đến với Kon Tum phố núi Tây Nguyên.

Thơ của Tạ Văn Sỹ là tiếng nói là hơi thở của một nhà thơ lang bạt kỳ hồ. Với anh tình yêu tình bạn là tất cả; quê hương là vô tận. Một thoáng nào đó Sỹ viết: - Người miền núi ở với nhau dễ lắm/ Không khoe khoa khách khí phân trần/ Người đồng bằng sống cầu kỳ kiểu cách/ Nếu không quen cứ thấy ngại ngần".

Đó chỉ là một cách nói điệu dáng của nhà thơ mà thôi. Vì thực tế chuyến viếng thăm của những người bạn văn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã chứng minh được rằng tình và người dù ở non cao núi biếc hay biển sâu sông dài cái tình thơ vẫn là nhịp cầu Ô Thước để mang chúng ta lại gần nhau hơn như Sỹ đã viết: -"Xa xôi đã hoá nên gần/ Hồn anh đã đủ một lần về thăm/ Mai rồi tít tận xa xăm/ Hướng về phía bốn ngàn năm nhớ người!...".

                                                                   

                                                                                             THẢO BÍCH

                                                                                  (Hội VHNT Tiền Giang

                                                                      3A Lê Lợi- Thành phố Mỹ Tho)

(Tạp chí Văn nghệ Kon Tum số 43 tháng 9- 2006)

More...

THĂM THẲM MIỀN TÂY

By tavansy@gmail.com

 

* Lời thưa: Chưa viết được bài mới là một cái buồn thêm tin người bạn nhỏ rất thân thiết vừa lấy chồng sau 4 năm không gặp lại dẫu sao cũng đâm ra thêm một nỗi buồn... vơ vẩn (!). Sực nhớ cái thư email của cô bạn vào đọc lại thấy dáng dấp của một tản văn chứ không đơn thuần là một bức thư. Xin đưa ra đây như một kỷ niệm đẹp về một lời hứa không thực hiện được.

          Anh một nhà thơ của đất Tây Nguyên gọi điện cho tôi lúc nửa đêm. Anh bảo rằng vừa có một cuộc rượu không say chỉ lâng lâng và chẳng hiểu sao cứ lâng lâng là nhớ đến tôi. "Có lẽ một trong những lý do là em và anh từng có lần uống rượu lâng lâng với nhau" - Tôi đùa! Anh cười giọng cười khàn đục như như tiếng anh nói và trầm như như một tiếng đàn đáy lạc vào đêm... Bất giác tôi nhớ lại đôi mắt anh. Một buổi chiều thu tôi đã nhìn thấy trong đôi mắt ấy cái lạnh của đêm cái man mác của sương chiều cái dữ dội của nắng gió Tây Nguyên cái hoang vắng của núi đồi... Đôi mắt có oai quyền của một loài thú hoang và đắm đuối những yêu thương cùng đau khổ của con người! Tôi nhìn vào đó thấy hun hút sâu như một cái giếng chưa từng biết đến đáy. Từ buổi xa anh đôi mắt ấy tôi hằng nhớ.

          Nghề xe ôm cùng những gian nan trong đời sống riêng đã làm bạc màu tóc bạc màu quần áo bạc màu những niềm vui của anh... Bạc màu hết may ra trừ... làn da (!). Có người bạn gái trẻ an ủi anh rằng nếu là con trai họ sẽ còn muốn đen đúa hơn nữa! Lại có người khác bảo nếu là con trai họ sẽ còn phiêu du nhiều hơn nữa... như anh! Còn tôi tôi thực lòng muốn nói với anh rằng nếu được là anh tôi muốn đau khổ hơn trống vắng hơn cô đơn hơn!... Những thứ ấy vốn can hệ nhiều đến thơ.

          Tôi không muốn nói về anh với tư cách một thi sĩ mặc dù thơ chính là yếu tố tạo nên con người anh. Tôi muốn nói về anh như một tri âm. Có lần anh nhắc với tôi lời một bài "Không tên" của Vũ Thành An: "... triệu người quen có mấy người thân...". Anh nói đúng giữa đời này tôi và anh đã gặp nhau không nhiều nhưng đủ để hình thành một mối giao cảm. Tôi cần anh như cần cái hoang lạnh của núi đồi và có lẽ anh cần tôi như cần cái êm ả của đồng bằng. Chúng tôi có điểm chung: không ngừng cảm thấy cô đơn! Đôi lúc anh giống như một bóng chim chiều cứ thế bay và tan dần vào mây trắng. Đường bay vẽ lên không trung những vệt mờ xiên xẹo. Như những bước chân say!

          "Em vào đây chơi đi anh sẽ ra bến xe đón rồi từ đây anh sẽ đưa em đi chơi luôn. Chúng ta sẽ làm "dế mèn phiêu lưu ký" một tháng ở miền Tây". - Giọng anh trầm trầm trong điện thoại. Anh bảo miền Tây Nam Bộ đẹp lắm nhất là vào mùa nước nổi. Sẽ là mênh mông nước dờn dợn nước... Dù chưa tùng bước chân xa hơn đất Hà Tĩnh nhưng qua anh tôi vẫn tin miền Tây đẹp theo kiểu riêng của nó rất đặc trưng rất nam bộ và hấp dẫn những linh hồn cô đơn và phóng túng. Và không hiểu vì sao tôi cứ hình dung anh trên chiếc xe dream cũ kỹ rong ruổi suốt một mùa nước nổi miền Tây. Đôi mắt anh dõi về phía xa xăm có vẻ như đang xoáy vào cái mang mang rợn ngợp của muôn trùng sóng nước lại có vẻ như đang nhìn về phía thiên thu - một thiên thu không bờ bến. Ánh mắt ấy tôi đã bắt gặp vào một buổi chiều tháng mười nơi Hà Nội.

          Vậy là giữa Hà Nội tôi đã cảm nhận được cái mênh mông thăm thẳm của sóng nước miềm Tây qua anh!

          P.Q.A

                                                                                                                  (Hà Nội 3/2008)

More...

LÀNG ĐĂK MẾ VÀ NGƯỜI B’RÂU

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Vì chưa có điều kiện cập nhật tình hình đến nay thế nào nên tạm đưa bài viết từ năm 2007 này để bạn bè cùng biết thêm về một dân tộc anh em có nhiều nét độc đáo. Khi nào điền dã cụ thể sẽ xin chỉnh sửa lại sau cho hợp thực tế hơn.

          Bây giờ nói đến Đăk Mế là nói về "thôn" Đăk Mế chứ không phải "làng" (Srúk) Đăk Mế nữa. (Người B râu gọi làng là Srúk). Bởi lẽ sau trận cháy làng bên bờ sông Bờ Y hồi tháng 4-1991 làng Đăk Mế được chính quyền địa phương phát hiện và đưa về trung tâm xã Bờ Y theo chương trình định canh định cư của Nhà nước lập thành một đơn vị hành chính cấp thôn. Ở đây mỗi hộ được hỗ trợ kinh phí làm một căn nhà the­o cấu trúc của người Kinh nền trệt vách ván mái ngói rộng chừng 40m2 với khuôn vườn rộng xếp hàng tăm tắp dọc những trục đường thôn theo qui hoạch và phân đều hai bên quốc lộ 40 đi cửa khẩu quốc tế Bờ Y nơi ngã ba Đông Dương.

          Đắk Mế hiện nay không thuần riêng người B râu như trước mà sống đan xen với vài tộc người khác như K dong H lăng Mường Thái Tày Kinh... Toàn thôn có 114 hộ người B râu chiếm 86 hộ. Nhìn chung từ ngày được đưa về nơi ở mới cộng đồng ít ỏi người B râu đã tăng tiến nhiều mặt. Riêng về dân số năm 1991 có khoảng 180 người thì nay đã là trên 300. Do dân số ít và tăng trưởng chậm nên có một thời báo chí lu loa... coi chừng tiệt chủng!

          Thoáng vài nét thôn Đăk Mế ngày nay để nhớ lại làng (Srúk) Đăk Mế trước đây - một kiểu làng truyền thống độc đáo của riêng tộc người B râu mà từ thuở lưu lạc từ Lào từ Kampuchia sang sinh sống trên đất Việt Nam người B râu luôn lưu giữ mặc dù nhiều lần chuyển cư.

          Theo một số tài liệu sách báo và lời người già trong làng kể lại thì nguồn gốc người B râu ở Việt Nam lúc khởi đầu chỉ có vài chục người. Họ từ vùng Ô Tum bên lưu vực các sông Xê Ca Máng (Xê Xan) Nậm Khoỏng (Mê Kông) ở Nam Lào theo hai anh em thủ lĩnh Thao A Yoong và Thao Tô ra đi. Trên đường dịch chuyển khi ngang qua rẻo đất tận cùng Đông Bắc Kampụchia có vài người ở đấy cùng nhập đoàn sang đất Việt Nam. Nhóm người này băng sang sông Bờ Y về bờ đông dừng chân bên suối H yang dưới chân núi H niêng lập làng ở lại. Đây là chặng thiên di đầu tiên và là Srúk đầu tiên. Hiện tại bộ phận người B râu ở Lào Kampuchia và Việt Nam cư trú quanh vùng ba biên giới vẫn thường qua lại quan hệ thân thiết.

          Quá trình chuyển dịch của các tộc người Trường Sơn trước đây vốn dĩ rất tự nhiên mà các nhà sử học dân tộc học xã hội học đã chứng minh. Đó có thể là do xung đột cộng đồng tranh giành quyền lực giữa các thủ lĩnh tù trưởng cũng có thể do tín ngưỡng dân gian đi để tránh một trận dịch bệnh ghê gớm nào đó mà họ tin rằng do Yàng (Trời Thần) phạt; cũng có thể do tập quán du canh du cư cố hữu đi tìm vùng đất tốt hơn cho sản xuất... Đến nay người B râu đã truyền sang đời thứ 6 thứ 7 nên không còn ai biết được nguyên do nào tổ tiên họ ra đi.

          Sau thời gian ở bên bờ suối H yang người B râu vượt sông Bờ Y về lại phía tây đến sát điểm thắt nút biên giới ba nước gần một hồ nước lớn. (Hồ này ngày nay thuộc đất Kampuchia ở ngay góc tam biên). Họ lập Srúk lần thứ 2 tiếp tục sinh tồn. Tại đây thủ lĩnh Thao A Yoong qua đời. Họ chôn cất vị thủ lĩnh khả kính của mình bên cạnh hồ nước ấy và suy tôn ông là Tổ. Từ đó gọi là hồ A Yoong. Từ hồ A Yoong lại một lần nữa người B râu băng ngược về bờ đông sông Bờ Y đến cạnh suối L mar lập Srúk thứ 3 trong chặng dài du mục.

          Lần thứ 4 từ suối L mar người B râu lại vượt qua bờ tây sông Bờ Y lập làng ở sát bờ sông. Chính ở Srúk này tháng 4-1991 cả làng bị cháy trụi. Thế là lần thứ 5 người B râu lại chuyển cư. Lần này không phải do quá trình thiên di tự chọn mà là về thôn Đăk Mế ngày nay theo quốc sách định canh định cư sống cộng cư cùng các thôn làng của các tộc người khác của toàn xã chấm dứt cuộc sống biệt lập trước đấy.

          Có phải số phận long đong của một tộc người hay không mà người B râu lại đang chuẩn bị di dời lần thứ 6! Việc dời làng lần này là nằm trong qui hoạch mở rộng khu vực cửa khẩu quốc tế Bờ Y để xây dựng một khu đô thị mới công thương nghiệp hiện đại. Không riêng gì Đăk Mế mà 6 trong tổng số 8 thôn của xã Bờ Y cũng đều được chuyển ra ngoài khu vực quy hoạch ấy.

          Hay tin sắp dời làng người B râu không buồn không vui bởi "Nhà nước cho mình ở đâu cũng được chỉ mong cho người B râu được lập lại kiểu làng và kiểu nhà Rông truyền thống như xưa là ưng cái bụng thôi"! - Từ thanh niên đến người già đều nói thế. -"Kiểu làng xưa" là kiểu làng như thế nào?

          Theo thạc sĩ Bùi Ngọc Quang thì Srúk của người B râu có cấu trúc khá đặc biệt. Chính giữa Srúk là mái nhà Rông cao vút sừng sững được các nghệ nhân tạo dựng và chế tác từ chính những vật liệu có sẵn của núi rừng có giá trị riêng về mặt mỹ thuật và văn hoá. Vây quanh nhà Rông thành một vòng tròn là các nhà sàn dài của từng đại gia đình . Đầu hồi nhà có trổ cửa chính để ra vào đều hướng về nhà Rông. (Người B râu không trổ cửa chính ở gian giữa nhà mà là ở đầu hồi). Hằng ngày người B râu mở cửa ra là đã thấy ngay nhà Rông thân thuộc. Đêm đêm trai làng tập trung về ngủ ở đấy được dân làng quan tâm giám sát. Giữa nhà Rông và các nhà sàn là một khoảng cách đều đặn đủ rộng để làm nơi sinh hoạt cộng đồng. Vòng ngoài cùng bao quanh Srúk là hàng rào chừa một cổng đi thẳng vào trước mặt nhà Rông. Nếu vẽ Srúk thành sơ đồ thì nó giống hình bánh xe. Nhà Rông là tâm trục các nhà sàn dài vây quanh là những chiếc nan hoa và hàng rào là xăm lốp. Bốn lần di trú trước đều là 4 Srúk như thế cả.

          Từ ngày được dời về thôn mới Đăk Mế không gian và cảnh quan Srúk không còn nữa! Mọi tập quán thói quen đều bị phá vỡ. "Nhớ cảnh cũ quá!" - Già Thao Pem trên 100 tuổi cháu nội thủ lĩnh Thao A Yoong trầm ngâm bảo thế! Ở đây Nhà nước làm cho một nhà Rông to cột bê tông mái lợp tôn. Một hôm có luồn sét đi ngang bắt được mạch điện từ khối sắt thép khổng lồ ấy bèn "đánh" cho một cú kinh hoàng! Bà con gọi đó là "Nhà Rông trời đánh"! Thanh niên đêm đêm ra ngủ nghe mưa núi gió rừng quất ràn rạt ầm ĩ trên mái tôn như ma quỷ ám bèn xuống nằm gậm sàn thanh niên các làng lân cận chòng ghẹo gây sự đánh lộn nên dần cũng thôi luôn!

          Bây giờ nếu có việc dời nơi ở mới việc tái lập Srúk như xưa cho người B râu thiết nghĩ chẳng khó khăn gì đối với các nhà qui hoạch với một tầm nhìn văn hoá nhân văn. Nước ta là một nước đa sắc tộc Đảng và Nhà nước cũng đã đề ra những Nghị quyết lớn nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc của từng tộc người vì nó đã trở thành tâm linh tâm thức của mỗi một cộng đồng.

          Cửa khẩu quốc tế Bờ Y sẽ phát triển mạnh các mặt sau này trong đó có bộ phận du lịch sinh thái du lịch văn hoá. Khi đó một Srúk độc đáo của người B râu như mô tả chắc chắn sẽ là nơi thu hút sự chú ý đặc biệt của khách tham quan.

                                                                                                                       Tạ Văn Sỹ

                                                                                                                             (2007)

More...

XE TĂNG 377 ANH HÙNG

By tavansy@gmail.com

 

Ngày 24-4-1972 là một ngày không thể nào quên ở Kon Tum. Ấy là ngày hai phần ba tỉnh mạn bắc được giải phóng với chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh vang dội làm đổ nhào tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Ngày nay chiến thắng ấy được lưu dấu với thời gian bằng cụm tượng đài hoành tráng tại trung tâm thị trấn Đăk Tô. Và dưới chân tượng đài Chiến thắng ấy lừng lững một chiếc xe tăng oai dũng đứng hiên ngang như đang sẵn sàng lao vào trận tuyến!

          Chiếc xe tăng mang phiên hiệu 377 này và ê-kíp 4 chiến sĩ Giải phóng quân theo phiên chế của xe vừa được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 9-1-2009. Xung quanh nó có nhiều chuyện kể đầy xúc động rất bi hùng và cũng lắm cái... bi hài!


                     Chuyện thứ nhất

là "duyên nợ" giữa xe 377 và nhà thơ Hữu Thỉnh (hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam): Lâu nay nhiều người ở Kon Tum vẫn tưởng rằng nhà thơ Hữu Thỉnh đã sáng tác bài thơ "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" bằng cảm hứng từ xe 377. Thực ra bài thơ được cảm hứng từ đội hình 88 xe tăng T34 T54 và PT 76 của 3 tiểu đoàn Tăng - Thiết giáp cùng xông trận trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 khi Hữu Thỉnh làm lính xe tăng tham gia đánh trận. Nó xuất hiện lần đầu trên tập san binh chủng Tăng - Thiết giáp với tên Vũ Hữu. Sau đó nhạc sĩ Doãn Nho phổ thành ca khúc nổi tiếng. Ngày nay ca khúc này được dùng làm bài ca chính thức của binh chủng Tăng - Thiết giáp. Qua điện đàm nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: Năm 1974 "dấu chân người lính" của nhà thơ mới đặt bước đến Đăk Tô nơi xe 377 đã bị bắn cháy trước đó 2 năm rồi (24-4-1972 - Chứ không như bài viết trên blog của nhà thơ Văn Công Hùng bảo rằng Hữu Thỉnh cũng đánh vào Đăk Tô ngay trong năm 1972 và bài thơ cũng lấy cảm hứng từ đó). Nhìn vào lòng xe thấy nhúm tro thiêu xác các chiến sĩ "phơi gan cùng tuế nguyệt" đã 2 năm ròng nỗi lòng nhà thơ xao xuyến một xúc cảm bi hùng trào ra cùng nước mắt! Ông bèn gom lại gói thành 5 nhúm nhỏ đem chôn nơi nghĩa trang Đăk Tô 2. (Sau này mới có xác nhận là kíp xe của 377 chỉ 4 người nhưng lúc ấy nhà thơ cứ theo phiên chế thông thường cho 1 xe tăng T34 của đơn vị ông là 5 người nên chia thành 5 phần tro hài cốt). Trong lúc gom tro phát hiện một gói cơm nắm các chiến sĩ chưa kịp ăn bị cháy đen vón cục nhà thơ cẩn trọng mang về giao cho bảo tàng Truyền thống binh chủng Tăng - Thiết giáp ngày nay vẫn còn. Chuyện Hữu Thỉnh hay ghé thăm xe 377 mỗi khi có dịp đến Kon Tum (khiến nhiều người nhầm tưởng như đã nói) là do từ ý nghĩa ấy. Nhớ lại năm 2002 nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn Phó Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ kiêm phụ trách báo Văn nghệ Trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam điện thoại cho người viết bài này bảo số phát hành cuối tháng 4 là số kỷ niệm 30 năm chiến thắng Đak Tô - Tân Cảnh. Ông căn dặn nhất thiết phải gửi giúp một tấm ảnh chụp xe 377 dưới chân tượng đài chiến thắng cho Tổng biên tập Hữu Thỉnh. Thế là hình ảnh xe 377 kiêu dũng trang trọng in hình trên số báo Văn nghệ Trẻ năm ấy!

          Chuyện thứ hai là về lịch sử oai hùng và bi hùng của xe 377: Ngày 15-11-1971 tiểu đoàn 297 Tăng - Thiết giáp do trung tá Bùi Quang Đấng chỉ huy đang trú quân ở bờ bắc sông Bến Hải sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 - Nam Lào trở về lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu "Tiến sâu - Ở lâu - Đánh thắng"! Sau hai tháng rưỡi hành tiến đến đầu năm 1972 thì tới Ngả ba biên giới Đông Dương. Đây là tiểu đoàn xe tăng duy nhất và đầu tiên có mặt tại Tây Nguyên. Ngày 2-4-1972 ta mở màn chiến dịch Tây Nguyên (với khẩu hiệu "Trường Sơn chuyển mình/ Pô Kô dậy sóng/ Quét sạch quân thù/ Giải phóng Tây Nguyên") với sự ra quân của sư đoàn bộ binh 320 đánh phá tuyến phòng thủ Tây Pô Kô. Đêm 23-4-1972 từ ngầm sông Pô Kô Hạ đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1 giờ sáng đêm ấy (24-4) xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ E42 - Tân Cảnh mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. 4 giờ 30 cũng vẫn xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 (còn ảnh chụp lúc xuất quân trưng bày tại nhà Truyền thống huyện Đăk Tô) xốc tới bắn sập khu tháp nước sập đài quan sát quần nát các công sự... tiến thẳng vào sở chỉ huy trung đoàn 42 bộ binh Sài Gòn khiến đại tá cố vấn Mỹ đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển (ngồi xe 377) tiếp tục triển khai tấn công căn cứ Đăk Tô 2 cùng với trung đoàn 1 bộ binh thuộc sư đoàn 2 từ Quảng Nam tăng cường. Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt cho đến lúc xe 377 bị pháo chống tăng ở nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn cháy sau khi một mình tả xung hữu đột diệt gọn 7 xe tăng M41! 11 giờ 30 trưa hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Sách "Lữ đoàn xe tăng 273" do Cục Chính trị quân đoàn 3 xuất bản tháng 1-1988 viết: -"Tập thể xe của đồng chí Nguyễn Nhân Triển đã nêu một kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao... Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu"! (Sau này tiểu đoàn 297 phát triển thành lữ đoàn 273 trong đội hình binh đoàn Tây Nguyên - tức quân đoàn 3 - đơn vị 2 lần được tuyên dương Anh hùng).

          Chuyện thứ ba là về chủng loại của xe 377. Các sách "Lữ đoàn xe tăng 273" "Lịch sử sư đoàn 10" "Lịch sử Đảng bộ huyện Đăk Tô"... và bia khắc tại tượng đài chiến thắng đều nói đại đội 7 Tăng - Thiết giáp là loại xe T54 của Liên Xô. Loại này phiên chế một ê-kíp chỉ có 4 người chứ không phải 5 người như loại T34. Nhà thơ Hữu Thỉnh như đã nói ở trên bảo xe 377 là T34 vì ông đã đến tận nơi thấy tận mắt và tự tay chia tro hài cốt của các chiến sĩ chết cháy trong xe thành 5 phần đem chôn cất! Bài viết của Bùi Quang Thanh trên báo Bảo vệ pháp luật  thì cho biết Đại tá Đỗ Quang Thành nguyên Chánh Thanh tra binh chủng Tăng - Thiết giáp bảo hầu như xe loại nào khi vào Tây Nguyên đợt ấy cũng đều phiên chế 5 người cả chứ không nhất thiết là T34! Còn các cựu chiến binh Trần Văn Quang Nguyễn Quốc Lập (lính lái xe tăng của đại đội 7) và Lê Xuân Sinh lái xe 886 của C3 D1 lữ 203 khi xem hình chụp thì bảo xe 377 chính là T59 của Trung Quốc vì có bầu hút khói ở đầu nòng pháo dài hơn của xe T54. Bà Phùng Thị Đức cựu quân nhân từng làm công tác Cơ yếu ở binh chủng Tăng - Thiết giáp vào thời điểm ấy bảo rằng lực lượng xe tăng đợt đầu tiên có mặt tại chiến trường Tây Nguyên ấy đều là T59... Tổng hợp các nguồn tư liệu là thế chứ 377 hãy còn đó nó thuộc chủng loại nào thì vẫn rõ mười mươi có gì phải rắc rối đến thế đâu?

          Chuyện thứ tư là về các chiến sĩ - liệt sĩ của kíp xe 377: Bây giờ thì chính thức tên của 4 Anh hùng - liệt sĩ được khắc trên bia nơi bệ xe 377 là: 1- Nguyễn Nhân Triển thiếu úy trung đội trưởng quê xã Việt Hùng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 2- Hoàng Văn Ái hạ sĩ pháo thủ quê xã Phùng Hưng huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên trú quán số nhà 12 ngách 42 ngõ Vạn Ứng - Khâm Thiên - Đống Đa - Hà Nội 3- Trần Quang Vịnh hạ sĩ lái xe quê xã Cao Xá huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ 4- Nguyễn Đắc Lượng hạ sĩ pháo thủ quê xã Khải Xuân huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Nhưng trước đó đằng đẵng 14 năm (từ 1995 đến 2009) trên bia khắc bên cạnh tên 3 đồng đội kia là tên Nguyễn Đức Toàn chứ không phải Hoàng Văn Ái! Rồi trước đó nữa kể từ ngày khánh thành cụm tượng đài (30-4-1995) thì tên khắc trên bia là Cao Trần Vịnh chứ không phải Trần Quang Vịnh và tên Vũ Đức Lượng chứ không phải Nguyễn Đắc Lượng! Như vậy bia được đục sửa 2 lần. Lần thứ nhất sửa 2 tên người sai họ và chữ lót lần thứ 2 vào năm 2009 sau khi có Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng (theo hồ sơ đề nghị của Cục Chính trị quân đoàn 3 lập ngày 24-9-2008) lại một lần nữa bia được đục sửa bỏ hẳn tên Nguyễn Đức Toàn thay vào Hoàng Văn Ái! Theo thượng tá Đỗ Văn Ngọc Chính ủy lữ đoàn Tăng 273 thì đơn vị có cử người về xã Phù Ninh huyện Phù Ninh - Phú Thọ xác nhận nhưng địa phương bảo không có ai tên Nguyễn Đức Toàn đi lính xe tăng và hy sinh!  Nhà báo Bùi Quang Thanh đã tìm đến căn nhà ở ngách 12 ngõ Vạn Ứng khu chợ Khâm Thiên - Hà Nội thì thấy Huân chương và bằng Tổ quốc ghi công ghi tên Hoàng Cao Ái (chứ không phải Hoàng Văn Ái) hy sinh ngày 24-4-1972 - đúng ngày xe 377 bị bắn cháy. Chỉ vì sai sót của người hữu trách mà các anh hy sinh rất đỗi bi hùng mà mấy lần tên tuổi của mình bị đục đi sửa lại không yên lại rất... bi hài!

Vậy Nguyễn Đức Toàn là ai mà 14 năm được "vinh danh" trên bia khắc rồi lại vĩnh viễn đục bỏ đi? Nhà báo Bùi Quang Thanh lại cất công đi tìm "người dũng sĩ thứ tư" ấy và được Đại tá Đỗ Quang Thành (đã nhắc ở trên) hiện là trưởng ban liên lạc C7 lữ đoàn 273 cho biết: Lúc ấy đồng chí Kiện phái viên của Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp cử ông tìm xe 377 hy sinh thế nào và xem Hoàng Văn Ái có thoát được không. Ông Thành thấy xác các đồng đội đã bị cháy trong xe quanh xe không có xác nào khác. Lúc này có đồng chí Thọ (sau là đại tá Phó Giám đốc bảo tàng Quân đội) ở D297 nói với ông rằng cháy trong xe 377 có Lượng và Toàn. Ông Thành biết Nguyễn Đức Toàn là người Phú Thọ lính công binh thiết giáp có học qua trường Tăng không hy sinh theo kíp xe 377 vì lúc này Toàn đang ở bộ phận dự bị. Cùng lúc ấy ông Thành nhận lệnh triển khai đánh tiếp vào thị xã Kon Tum. Khi tiến quân vào gần thị xã thì có đồng chí Phượng xạ thủ 12 ly 7 không thể đi tiếp được ông Thành (lúc này làm quyền C trưởng) đưa Toàn thay Phượng phiên chế vào xe 376. Đánh Kon Tum đợt thứ hai thì 4 xe tăng đều bị bắn cháy đội hình tan rã rút lui không biết Toàn hy sinh hay mất tích ra sao!Vậy là cái tên Nguyễn Đức Toàn mười mấy năm hiện diện trên bia khắc bây giờ không còn nữa! Cũng lại là một chuyện bi hài! Và cũng từ "mùa hè đỏ lửa" tháng 4-1972 không ai rõ được số phận của chiến sĩ Nguyễn Đức Toàn!

Vĩ thanh: Xe 377 bị bắn cháy tại vòng rào kẽm gai đầu sân bay dã chiến Phượng Hoàng gần ngầm sông Pô Kô (ngay ven đường Hồ Chí Minh ngày nay) sáng sớm ngày 24-4-1972. Sau 5 năm dãi dầm mưa nắng năm 1977 xe được ngành văn hóa - Thông tin huyện Đăk Tô cho kéo về Bảo tàng huyện. Năm 1995 xe 377 được đưa ra trưng bày ở cụm tượng đài chiến thắng. Người dân Đăk Tô và hơn ai hết là những người công tác ngành Văn hóa - Thông tin huyện như trong một lần trò chuyện tại cơ quan đều biết và nhớ cái ngày kéo 377 từ khu vực gọi là "Bảo tàng" (vì thực ra là một bãi đất hoang trống ngoài trời) là cả một sự... lạ lùng đến độ khó tin (!): Xe không chịu nhúc nhích một ly nào thậm chí mấy lần đứt bung cả dây xích sắt dùng để kéo! Theo sự gợi ý những người tổ chức bèn bày lễ vật cúng kính thành khẩn trang trọng xong thì xe được kéo chạy ro ro về điểm tập kết như ngày nay! Hóa ra đây hoàn toàn không hề là duy tâm hay dị đoan gì cả mà chính là anh linh các anh vẫn hiển linh mãi mãi cùng xe 377!

Và vẫn đấy ngày nay trên đường thiên lý Hồ Chí Minh khi ngang qua thị trấn Đăk Tô nếu ai biết và để ý sẽ nhìn thấy xe 377 vẫn uy nghiêm dưới chân tượng đài Chiến thắng như trầm tư hồi nhớ thuở kiêu hùng.

                                                                                                                           Tạ Văn Sỹ

                                                                                                                              (5-2010)

           

More...