KỶ NIỆM HỘI NHÀ VĂN

By tavansy@gmail.com

*Lời thưa: Đáng lý ra là thôi không nói gì thêm về "Đại hội" với "Nhà văn" chi nữa nhưng cũng... "ấm ức" sẵn cái đà "mạch cảm xúc" chưa "dứt điểm" được tôi có "nối điêu" thêm đoạn "vĩ thanh" này coi như là "hậu dư âm" và... thôi vậy!

Mãi đến cuối năm 2002 tôi mới biết rõ rành về Hội Nhà văn Việt Nam!

Sở dĩ có sự hiểu biết muộn màn ấy là bởi Kon Tum quê tôi hút sâu nơi một góc đại ngàn Trường Sơn cách xa với những "vùng văn học". Tôi lại là nông dân tháng ngày lầm lụi rẫy nương mọi thông tin về hoạt động văn học khó vượt qua những lối nẻo đường rừng để lọt tới tai. Thêm nữa khi ấy người làm văn học ở Kon Tum thậm ít mà cũng không ai có nhiều tiếp xúc để nghe ngóng hiểu biết rằng có một cái Hội Nhà văn to đùng kia mà rỉ tai với nhau! Kon Tum khi ấy như một ốc đảo một ngõ cụt chỉ có một cửa ngõ duy nhất ra vào là quốc lộ 14 qua ngã Gia Lai. Khách văn chương vì thế cũng ngại đường vòng để đến thăm thú giao lưu. Chúng tôi chỉ biết "an nhiên" sống trong hũ nút của cách ngăn lạc hậu!

Mãi đến tháng 8 năm 2001 Ủy ban  toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam sức về cho Hội Văn nghệ Kon Tum 1 suất tham dự trại viết ở Hà Nội. Hội Kon Tum gọi tôi đi. Quên biến cả sự khó khăn của hoàn cảnh riêng tôi gật đầu cái... "rụp" chỉ vì... được đi Hà Nội! Hà Nội! Cái tên gọi đầy thiêng liêng và quyến rủ cái nơi dẫu giàu tưởng tượng cũng không bao giờ tôi nghĩ có ngày mình sẽ đến được một lần trong đời. Thế là... "Cũng liều nhắm mắt đưa chân"!

Một tháng ở Hà Nội tôi như chú nai vàng ngơ ngác tranh thủ lặng thầm thăm thú "khám phá" mảnh đất kinh kỳ nghìn năm văn vật với một số bạn bè mới quen ở trại. Họ cũng như tôi đều là dân tỉnh lẻ lần đầu về Thủ đô cả. Về lại Kon Tum có ai hỏi trại viết ấy do Hội Nhà văn tổ chức phải không tôi cũng ừ! Vì tôi nghĩ đơn giản trại viết văn thì phải là của một cái hội viết văn tổ chức chứ sao! Tôi không phân biệt được Ủy ban Liên hiệp với Hội Nhà văn! Có ai giải thích cho tôi biết đâu! Mà tôi cũng có biết hai tổ chức này là khác nhau đâu mà hỏi! Đúng là người vùng cao vùng sâu vùng xa!

Mùa thu năm sau tôi lại đi trại ở Hà Nội lần nữa. Được đi lần này là nhờ nhà thơ Vũ Quần Phương và nhà thơ Trúc Thông. Gặp ở năm trước hai anh biết hoàn cảnh tôi là khó có nhiều điều kiện đi xa cộng với việc đánh giá các sáng tác của tôi là... "tốt nhiều triển vọng" nên cùng xin Ủy ban Liên hiệp "đặc cách" cho tôi đi tiếp. Lời của nhà thơ Vũ Quần Phương đầy cảm động: -"Anh sẽ xin cho Sỹ để em có điều kiện mở rộng giao lưu và cảm nhận mà làm thơ không khéo em chết già ở xó rừng thì uổng lắm"!

Ở lần trại này một hôm có một người cao lớn bất ngờ đến thăm trại rồi ngỏ lời mời riêng 6 anh chị em thuộc khu vực Tây Nguyên lên xe tắc xi về văn phòng giao lưu. Ấy là nhà văn Cao Tiến Lê Chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam. Lúc ấy tôi hiểu "về văn phòng" là về Ủy ban Liên hiệp nơi tổ chức trại viết này. Hóa ra xe đưa chúng tôi đến trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam số 9 - Nguyễn Đình Chiểu. Được gặp gỡ một số nhà văn nhà thơ lâu nay mình đã đọc và ngưỡng mộ cảm xúc ngỡ ngàng thích thú. Cuộc gặp gỡ rất thân tình. Nhà văn Cao Tiến Lê nhà thơ Nguyễn Hoa động viên tôi in thêm 1 tập thơ nữa (tôi đã có 1 đầu sách rồi) để xét kết nạp. Tôi xúc động và bắt đầu có ý tưởng thích được vào Hội Nhà văn từ đó. Và cũng từ đó tôi mới vỡ lẽ ra Ủy ban Liên hiệp và Hội Nhà văn là hai tổ chức khác nhau!

Năm sau (sau khi có được đầu sách thứ hai) tôi được kết nạp thật! Tôi rất vui mừng. Không vui sao được khi mình được vào một tổ chức lớn của chuyên ngành mình đang đam mê theo đuổi? Từ khi là hội viên tôi mới có ý thức tìm hiểu và theo dõi những hoạt động của Hội Nhà văn hơn chứ không "vô tư" như trước!

Bây giờ ở địa phương nào các bạn trẻ cũng có điều kiện tiếp xúc giao lưu ngay từ buổi đầu cầm bút. Qua những người như chúng tôi các bạn đã biết ngay đến Hội Nhà văn biết các Hội khác biết phân biệt với Ủy ban Liên hiệp... Tôi hay động viên khích lệ các cây bút trẻ cố gắng để trở thành thành viên của cái tổ chức nghề nghiệp cao đẹp ấy. Tôi cũng biết rằng Hội không là tất cả nhưng chí ít nó cũng là cái đích để những người làm nghề nghĩ đến. Còn thích vào Hội hay không là quyền của mỗi người. Đâu hẳn phải vào Hội mới viết được viết tốt hơn đâu? Tuy nhiên nhiều khi vớ vẩn nhớ lại một số trường hợp ứng xử với Hội Nhà văn rất... "độc đáo" mà buồn cười!

Có một anh "phổi bò" vì nộp đơn mấy năm rồi mà chưa được kết nạp lần gặp nhau nghe tôi thật tình kể chuyện "lộn xộn" của Đại hội VII bèn  phán một câu xanh rờn: "Tôi tởm lợm cái Hội nhà ông"! Thế mà năm sau vừa leo được ghế Chủ tịch Hội Văn nghệ địa phương được "đặc cách" kết nạp ngay để làm cơ sở giúp tổ chức một Hội nghị tại chỗ cho Hội Nhà văn thì tinh thần rất là... hết tởm lợm! Lại có một tên ở tỉnh xa đến Kon Tum trong bàn rượu do người bạn tôi tiếp đãi ba hoa rằng anh ta là hội viên Hội Nhà văn. Bạn tôi liền gọi tôi đến để "hầu chuyện" cho "xứng tầm"! Đến nơi tôi biết người này rồi nên không đả động gì đến chuyện hội hè. Tàn cuộc rượu bạn tôi hẹn sáng mai cùng cà phê. Tôi bảo sáng mai tôi phải đi Hà Nội dự Đại hội Nhà văn. Bạn tôi ngớ người ra bảo thế sao không nghe anh kia nói gì về chuyện đi Đại hội? Hắn ta tẽn tò bèn phán một câu cũng... xanh rờn như người vừa kể trên: "Tao ỉa vào cái Hội Nhà văn của mày"! Ơ kìa lạ thật! Đòi ỉa vào mà lại mượn hơi khoe mẽ mình là hội viên?!...

Thế mới thấy Hội Nhà văn có ý nghĩa đẹp đẽ tôn quý cho những ai đang trên đường sáng tạo chân chính. Chỉ có những tên mang bệnh sĩ diện hão mới thốt nên những lời lẽ trịch thượng tưởng là cao đạo nhưng thật ra thèm... nhỏ dãi! Tôi tưởng tượng những người như thế nếu vào Hội thì chắc sẽ không khỏi nói và làm những điều chối tai chối mắt! "Con sâu làm rầu nồi canh" khi ấy xã hội nhìn vào họ sẽ bảo chung rằng Hội Nhà văn là không ra sao toàn một lũ... "nửa người nửa ngợm nửa đười ươi"!

Xã hội kim tiền gấp vội ngày nay đã làm "xuống cấp" một số mặt. Điều không thể chối cãi là nó cũng kéo theo sự xuống cấp của đạo đức nhân cách và dĩ nhiên là cả ý thức của một bộ phận loài người. Một số ít loại người này đã len lỏi vào Hội Nhà văn.

Vẩn vơ chợt nghĩ có phải do thế không mà Hội Nhà văn đâm ra "nhiễu sự đa ngôn" hơn chịu lắm "lời ong tiếng ve" hơn so với các Hội bạn khác? Kể ra đây như là để chia sẻ một chút kỷ niệm nhỏ riêng tư  mà cũng là để tỏ bày "nỗi lòng" của mình khi nghĩ về cái tổ chức nghề nghiệp mình đang tham dự.

Bất giác nhớ các "cụ" tao nhân mặc khách khi xưa mà thèm! Thời các Cụ có Hội hè gì đâu nhưng chính các Cụ là gương sáng cả về tài năng và nhân cách cho mọi thế hệ văn chương.

 

Tạ Văn Sỹ

 

More...

DƯ ÂM ĐẠI HỘI

By tavansy@gmail.com

 

Bao giờ chả thế vừa trải qua một việc gì thì thường có những cảm xúc hay suy nghĩ còn vướng vất thêm một thời gian sau đó. Người ta hay gọi là dư âm. Mình vừa tham dự Đại hội VIII Hội Nhà văn trở về cũng có trạng thái ấy. Qua 2 kỳ Đại hội được tham dự thấy mấy vấn đề nho nhỏ muốn nói chơi! Biết rằng nói ra có thể có một số người không đồng tình nhưng vẫn xin được nói.

Trước hết là yếu tố "con người" của các hội viên. Đã là nhà văn tức là người có chữ nghĩa có tư duy xúc cảm hơn người bình thường khác; là người góp phần làm ra sản phẩm văn hóa cho xã hội. Nghĩa là có một tầm tri thức và ý thức cao có tố chất văn hóa tốt. Thế mà những hành động la ó huýt sáo vỗ tay phản đối ầm ĩ trong Hội nghị những lời lẽ thiếu kềm chế (có khi đến rủa xả chửi đổng nhau) nghe không ra làm sao cả! Ở 2 kỳ Đại hội đều có hiện tượng đề cử cả những người già yếu người ngoài Hội thậm chí người đã mất để ứng cử vào Ban Chấp hành! Đó là hành động thiếu văn hóa vô nhân cách không xứng đáng được gọi là nhà văn. Họ nên ra khỏi Hội!

Rồi có người mắc chứng hoang tưởng nghĩ mình là kẻ xuất chúng mục hạ vô nhân đâm ra kệch cỡm thiếu khiêm tốn đi đâu ở đâu cũng khệnh khạng giới thiệu mình là hội viên Hội Nhà văn nhưng ăn nói hành động thì không mấy đẹp mắt đẹp tai! Rồi thỉnh thoảng đó đây có người huênh hoang cao đàm khoác luận với những lời lẽ cao đạo ngạo mạn xúc phạm chê bai đủ thứ cứ làm như cái Hội này phải là mình lãnh đạo mới tốt lên được chứ cái tổ chức hiện hành làm ăn không ra làm sao cả! v.v... Từ đó tạo một dư luận xã hội không mấy trọng thị khi nói chung về giới nhà văn!

Từ đâu mà ra như vậy? Có phải do việc kết nạp thiếu chọn lọc? Không thể phủ nhận là có thể vì bị những áp lực từ tình cảm riêng tư từ "cơ cấu" xã hội (ví dụ lãnh đạo Hội địa phương thì được "chiếu cố" kết nạp dễ dàng hơn (mà lãnh đạo thì trước hết là một cán bộ công chức chứ chưa hẳn đã là một tài năng văn hay chữ tốt) hoặc cơ cấu vùng miền dân tộc (là một việc làm khiên cưỡng) và nhiều lý do "tế nhị" khác...  đã để lọt vào một số người thích cái bả hư danh thích mang danh "nhà văn" sau khi nguệch ngoạc dăm ba đầu sách tầm tầm (thậm chí ... thuê người viết hộ như một vụ đồn thổi trước đây)! Những người như thế quyết không thể nào có cái gọi là "tố chất văn hóa" của một khách văn chương được!

Việc có đến một nửa tổng số trên 900 hội viên là người ở Hà Nội cũng là chuyện mọi người hay kháo nhau rằng Hội Nhà văn Việt Nam là Hội Nhà văn Hà Nội... mở rộng! Đành rằng đất Thăng Long - Hà Nội là chốn ngàn năm văn vật nhưng chiếm đến số lượng như thế thì... không khỏi làm chột dạ người quan tâm! Làm gì một đơn vị hành chánh (dẫu là đơn vị hành chánh đặc biệt) trong 63 đơn vị hành chánh tỉnh thành lại có nhiều "công dân ưu tú" đến vậy? Điều này dễ khiến nghĩ rằng có phải "gần mặt trời" nên có điều kiện quan hệ quen biết dễ chạy chọt xin xỏ tạo "áp lực tình cảm" v.v... mà vào được Hội? Chứng minh rõ nhất là trên bốn trăm rưởi nhà văn ở Hà Nội có được bao nhiêu tên tuổi nổi trội mang tầm quốc gia?

Nhớ lần nhà thơ Hữu Thỉnh lúc còn gọi là Tổng Thư ký đến thăm trại sáng tác động viên khích lệ chúng tôi (những cây bút tỉnh lẻ chưa ai là hội viên) cố gắng viết đều viết hay để vào Hội đừng mặc cảm với các cây bút đã là hội viên vì thực chất trên 600 hội viên (lúc ấy) chỉ chừng không đầy một phần ba đáng được gọi là nhà văn thôi! Lời nhận xét của vị lãnh đạo Hội cho thấy những băn khoăn suy nghĩ vừa trình bày không phải là không có cơ sở. Cụ thể năm nào cũng vậy cứ mỗi mùa kết nạp hội viên là có lắm điều tiếng ì xèo! Làm sao không còn để lọt vào Hội nghề nghiệp đẹp đẽ này những người thiếu ý thức kém nhân cách nhưng đầy háo danh?

Từ đó đưa đến hệ quả có một số cây bút trẻ rất muốn vào Hội và xứng đáng được kết nạp nhưng mãi chần chừ. Họ ngại bị đánh đồng "cá mè một lứa" với những "hiện tượng dở hơi"! Một lẽ nữa: Nhiều hồ sơ của họ cứ mãi bị đặt lên để xuống nhiều năm vào mỗi mùa kết nạp để rồi kết quả phải đọc một danh sách hội viên mới với nhiều tên tuổi đúng là "mới toanh" hoặc tầm tầm! Nhiều bạn trẻ đã tâm sự như vậy. Đành rằng với người trẻ thì bề dày sáng tạo chưa được "bề thế" chưa tạo được niềm tin về lâu về sâu nhưng chỉ vì dè dặt ấy mà quá thận trọng chuyện kết nạp thì không thể nào có được sinh khí mới đa chiều đa dạng cho Hội. Có người nói vui rằng đến lúc cầm được thẻ Hội viên cũng là lúc sức viết... khựng lại rồi! Và đấy chính là tiền đề để liên hệ đến sự "lão hóa" ở Hội Nhà văn. Thực tế hiện có đến 70% hội viên trên 60 tuổi. Với thực trạng này thì chắc chắn việc sáng tạo có phần chững lại cả số lượng và chất lượng.

Một chuyện đáng nói nữa: Mỗi kỳ Đại hội năm bảy trăm con người gặp nhau trừ số ít quen biết sẵn còn lại không ai biết ai người "cùng hội cùng thuyền" mà cứ lạnh tanh xa cách dửng dưng! Khi được giới thiệu thì ồ à hóa ra xưa giờ ta chẳng biết chẳng đọc nhau! Không đọc được của nhau thì làm sao biết nhau? Hội Nhà văn có giúp giải quyết vấn đề này được không? Tôi nghĩ có thể được nếu nhiệt tình làm. Nhà xuất bản Hội Nhà văn là của Hội. Thay vì để nhà văn tự lo in ấn tác phẩm như lâu nay thì quy hết ở đây để ấn hành. Quá lắm mỗi năm chừng 1/3 số hội viên có nhu cầu in sách. Nghĩa là bình quân mỗi năm chừng 300 cuốn. Mỗi đầu sách sẽ được in thêm chừng ngàn cuốn ngoài số in bình thường. Có thể tăng hội phí để làm cước phí gửi cho mỗi hội viên một cuốn (như lâu nay gửi các ấn phẩm báo chí). Thế là các hội viên sẽ có tác phẩm của nhau để đọc để biết về nhau. Số sách còn lại tiêu thụ theo hệ thống phát hành hoặc tác giả tự bao tiêu. Về kinh phí in sách Hội chuyển một phần kinh phí hỗ trợ sáng tạo vào quỹ hỗ trợ xuất bản. Hoặc giả cần thiết lắm thì tác giả đóng góp một phần sau đó phát hành lấy lại. Nếu được như thế thì tác phẩm của nhà văn mới đến được nhiều người đọc.

Ngoài kế hoạch này ra nhà xuất bản cứ việc "bán" giấy phép theo kiểu liên kết như lâu nay. Nhưng cũng xin góp ý là đừng nệ chuyện "làm ăn" quá mà để thương hiệu của nhà xuất bản đứng trên bìa những cuốn sách "có vấn đề" hoặc tầm tầm không ai buồn đọc như có một ít đã xảy ra vừa qua. Làm sao để cái tên nhà xuất bản của Hội không mất phần "sang trọng" của nó!

Chỉ là một ít vấn đề nh nhỏ mà người viết mấy dòng này nghĩ được. Ban Chấp hành khóa mới có vẻ hùng hậu và năng động chăc sẽ có những động thái mới.

 

Tạ Văn Sỹ

More...

KỂ CHUYỆN ĐẠI HỘI

By tavansy@gmail.com

 

Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra trong 3 ngày mồng 4 mồng 5 và mồng 6 tháng 8 - 2010. Sáng ngày mồng 3 người các nơi đã lục tục tụ về trụ sở số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội. Lâu ngày gặp lại nhau ai cũng tay bắt mặt mừng kể cả những người trước đây đã từng có điều qua chuyện lại! Cái tình văn nghệ văn chương nó là thế đấy cứ y như rằng... "như chưa hề có cuộc chia ly"!

Vì là Đại hội toàn thể đến trên 900 hội viên nên Ban Tổ chức phải phân thành nhiều điểm ăn nghỉ. Biết thế nhưng mọi người đều tiếc là không được thuận tiện để "tụt tạt" thăm nhau. Nhóm Nam bộ ở khách sạn Kim Liên. Nhóm Bắc bộ ở nhà khách Chính phủ. Nhóm Bắc Trung bộ ở Quảng Bá. Nhóm Nam Trung bộ và Tây Nguyên ở khách sạn VMQ. Chỉ biết í ới gọi nhau hoặc... "nhắn tìm đồng đội" qua điện thoại!

Mồng 4. Số hội viên là đảng viên bận họp riêng để Ban Tổ chức "quán triệt". Số còn lại không phải bị "quán" không phải bị "triệt" nên mặc sức tụ bạ chè chén hoặc tranh thủ hẹn hò tìm thăm người thân! Mình cũng "tranh thủ" gặp lại được vài "em bé Hà Nội" thân tình ngày cũ. (Là nói chơi vui chứ cả " cô và cậu"). Tình cảm giữa đất kinh kỳ vẫn rất ấm nồng thi vị.

Sáng mồng 5. Tập kết về Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia. Nhìn cảnh xe cảnh sát giao thông chớp đèn hiệu lệnh nhay nháy và hụ còi inh ỏi dẫn đường cảnh sát trật tự tập trung trước cổng nơi Hội nghị... chợt nghĩ vui "hóa ra Đại hội Nhà văn cũng... long trọng thế a?"! Khỏi phải nói cái cảnh tíu tít ở sân và tiền sảnh. Những chiếc máy ảnh làm việc không biết ngơi nghỉ. Những bàn tay cứ ấm dần lên liên tục nắm siết vào nhau! Và những cái miệng nữa chứ cười nói hết cỡ như không thể khép lại được nữa!

Vào Hội nghị trù bị. Mình vì cái tội nghiện thuốc lá nên chọn phía sau gần cửa để thỉnh thoảng lẻn... "phi một điếu"! Có người bảo lên phía trước ngồi theo khu vực đã phân mình đọc luôn câu của anh bạn thơ Hà Huy Hoàng: "Đành cam thi sĩ hạng tồi/ Hội trường rộng lớn tôi ngồi... phía sau"! Mà cũng hay ngồi ở đây quan sát rõ hơn. Vừa thông qua Đoàn Chủ tịch và Đoàn Thư ký đã có ngay nhiều cánh tay xin phát biểu. Không khí "nóng dần lên"! Rất nhiều ý kiến (không dở nhưng) bị lạc đề vì chưa phải vào nghị sự đã vội phê bình Ủy viên Ban Chấp hành này của khóa cũ lên án nhà văn kia không đủ tư cách đòi tuần báo Văn nghệ cần đổi mới v.v... Rất là "nhiều chuyện"! Bảy trăm con người ta thì người này phát biểu người kia phải chờ chứ sao? Thế mà có một nhà thơ bức xúc vì xin mãi chưa được bèn giật phăng micro trên tay cô Lâm trong Ban Tổ chức. May mà phận "liễu yếu đào tơ" của cô không bị ngã dúi dụi! Hội trường xao xác tiếng người trong khi âm thanh gặp sự cố im tịt mất một lát. Rồi một nhà thơ khác không cần micro (chắc nghĩ có xin cũng chưa đến lượt mình) xông lên thẳng trước mặt Chủ tịch đoàn chỉ chỏ nói gì đó một thôi một hồi rồi quày quả đi xuống! Lại có một giọng nói rõ to đầy phẫn nộ (chắc là vì không được mời phát biểu) "Tôi đây  đây này  đui sao không thấy?"!!! v.v...

VỚI HỮU KIM

VỚI NGUYỄN THÚY QUỲNH

Nhưng..."Vui""buồn" nhất là tiết mục Tham luận! Có vài ba mươi tham luận được giới thiệu lên trình bày. Nhưng y như rằng mười tham luận thì đã đến... chín bị phản đối mời về! Dường như các người này nghĩ nhân đây là dịp để được xuất hiện để thể hiện mình... hay sao ấy mà nói tràn lan không kịp kềm chế không đi vào trọng tâm Hội nghị. Phần Tham luận "bị" kéo dài thêm sau đó nữa vì Ban Bầu cử làm việc quá chậm Chủ tịch đoàn phải lấy Tham luận để lấp vào! Không có Tham luận thì không ra Hội nghị nhưng Tham luận mà cứ như lên gân nắn cốt nhau ai nói nấy nghe thế này thì... chán chết! Mình kháo đùa với bạn bè: "Nếu "dịch đểu" từ Tham luận thành: "tham" là "ham" "luận" là "nói" thì đây đích thị là... ham nói"! Thấy nhà thơ Đông Trình ngáp vặt mình xán lại. Anh vừa gật đầu chào vừa lắt đầu ngán ngẩm. Mình đọc câu thơ của anh viết từ những năm 70 thế kỷ trước: "Chúng ta làm thơ không quen lý luận"! Anh cười buồn. Có 2 tham luận "ấn tượng": Nhà văn Lê Phương Liên nói về vấn đề sách văn học với trẻ em. Mở đề nhà văn rề rà từ chỗ cả nước có mười mấy triệu thiếu nhi trong đó cấp 1 bao nhiêu cấp 2 bao nhiêu cấp 3 bao nhiêu miền xuôi bao nhiêu miền núi bao nhiêu... Rồi thì là hệ thống phát hành và thư viện của ta chưa đáp ứng ra sao. Rồi tình hình được tiếp cận và đọc sách của các em thế nào... Hội trường xì xầm rằng lại sắp nghe một... "Ham nói" nữa đây! Nhưng bất ngờ nhà văn tuyên bố "Đó là phần mở đầu. Phần kết tôi xin nhờ các nhà văn giải hộ"! Vừa đúng 5 phút! Nhà văn "dõng dạc" đi xuống với nụ cười rất hóm trong tiếng vỗ tay tán thưởng và hoan hô của Hội nghị! Còn nhà thơ Võ Sa Hà thì lật đật đi như chạy lên bục sân khấu đọc một thôi một hồi như nuốt cả lời cả tiếng rồi quày quả xuống nhanh như chớp. Vừa đúng 10 phút! Đến bên mình Hà rỉ tai: "Kinh nghiệm bao năm trên bục giảng rồi! Phải như ăn cướp thế mới không bị... cháy giáo án! Thêm tí nữa thôi là sẽ bị vỗ tay đuổi xuống ngay rồi"! Có một diễn giả cũng gây "ấn tượng" không kém: Nhiều lần bị phản đối đã không chịu xuống lại còn nói rướn một câu rất xấc xược: "Hình như tham luận của tôi có vẻ không hợp ở đây nhỉ?"! (Thế mà người này sau đó lại trúng vào Ban Chấp hành ấy chứ)! Mình ngán ngẩm nghĩ vẩn vơ:

Ý nghĩ thứ nhất là về các nhà văn tham luận: Đã vào nghề viết lách với nhau thì đều là những người "có chữ nghĩa" như nhau cả. Anh cứ viết bài viết sách làm công trình đi ắt người khác đọc. Hà cớ gì đến đây tranh nói vung vít vổng vông như chỉ có mỗi mình là thông thái tài năng là bậc thầy thiên hạ về nghề nghiệp về tri thức! Chỉ nên nói ngắn gọn đi sâu vào trọng tâm nghị sự để đóng góp vào việc xây dựng tổ chức Hội mà thôi. Ý nghĩ thứ hai là về đại biểu ở bên dưới hội trường: Đại hội có tổ chức hẳn hoi có quy chế rõ ràng có Chủ tịch đoàn điều khiển. Nếu nhỡ ai đó quá giờ hay vi phạm đã có Chủ tịch đoàn nhắc nhở điều chỉnh. Hà cớ gì cứ phải vỗ tay reo hò huýt sáo cắt ngang như giữa chợ trời như đám người ô hợp nó không ra người chữ nghĩa nho nhã tí nào!...

Để "thư giãn" mình ra sân tranh thủ gặp bạn bè thăm hỏi. Thấy Nguyễn Huy Thiệp đứng xớ rớ mình lại chào. Vừa lúc có anh bạn cũng đến mình giới thiệu "Tướng về hưu" đấy! Anh bạn ồ à bắt chuyện. Thiệp vội đi đâu đấy chưa kịp chụp pô hình kỷ niệm. Gặp thoáng Đinh Quang Tốn ngồi ghế Đoàn Thư ký cũng vừa "thoát" ra hít thở khí trời một tí. Nguyễn Ngọc Tư đang ngồi bên kệ gạch xây của hoa viên như đang thả hồn về "cánh đồng bất tận" vẫy vẫy. Anh em vừa thăm hỏi mấy câu đã nhiều người cùng ùa đến. Đúng là người nổi tiếng có khác! Mình nhờ Vi Thùy Linh bấm cho cái hình với Tư rồi nhờ Tư bấm lại cho cái hình với Linh. Linh bảo "Chị Tư có 2 thằng con trai thích quá! Đó là niềm mong ước lớn nhất của em bây giờ đấy"! Ơ kìa lại một "em" xinh đẹp nữa xuất hiện - Là Nguyễn Thúy Quỳnh nữ sĩ năng động sắc sảo của xứ sở "Thủ đô gió ngàn". Vừa lúc Đỗ Thị Tấc lạn ngang qua nhờ bấm máy. Chưa kịp rủ Tấc chụp lưu niệm thì Tấc đã ào ạt: "Tao" với "mày" đi cà phê đi khát nước lắm rồi. Đoàn Hữu Nam kìa rủ thằng "Thổ phỉ" này nữa! (Gọi thế vì Nam vừa in tập tiểu thuyết có tên "Thổ phỉ"). Giữa đường gặp Hữu Kim lôi theo luôn. Không kể hết những gặp gỡ "chụp giật"  "tranh thủ" nhoáng nhoàng kiểu như vậy. Nhìn chung ở đây cánh nữ sĩ xinh đẹp là được "săn đón" nhất!

VỚI NGUYỄN NGỌC TƯ

VỚI VI THÙY LINH

Không hiểu Ban Bầu cử làm việc thế nào mà mãi đến sau khi ăn tối xong  trở lại Hội trường  Đại biểu còn phải loanh quanh vật vạ chờ đợi. Nghe nói có nhà văn cao tuổi lọ mọ trong đêm thế nào vấp ngã gãy tay! Riêng nhà thơ Cao Xuân Thái thì không phải nghe nói mà đang ngồi với mình vì tuổi cao mệt mỏi căng thẳng cả ngày bỗng nhiên gục quỵ rơi cả điếu thuốc đang bập dở trên môi! Mình lật đật xốc lên lưng cõng chừng 200 mét đến Phòng Y tế của Học viện để cấp cứu! Lại chờ đợi. Lâu sau mới có được danh sách ứng cử. Lại ý kiến trái chiều nhau nhặng xị lên: Cứ phải lấy đủ 30 người rồi bầu 15 như đã biểu quyết hay vẫn chỉ giữ con số 18 đang có (sau khi 12 người xin rút)? Cuối cùng thì cũng xong việc "chọn mặt gửi vàng" trong khung cảnh trông như vỡ chợ! Người có phiếu trước lật đật bầu trước để rút lui người chưa có phiếu thì chạy đôn đáo hỏi xin phiếu để thực hiện nghĩa vụ hội viên để còn... về! Một số ít không biết lấy phiếu ở đâu (hoặc bận lo cho người té ngã  đau ốm đột xuất) thì... thôi luôn! Về đến "nhà" đã hơn 20 giờ!

Mồng 6. Đại hội Chính thức. Có bác Trương Tấn Sang và bác Phùng Hữu Phú đến dự. (Còn một bác quan trọng nữa mà tự dưng quên). Các diễn văn sáng nay long trọng hơn hôm qua! Sau giờ giải lao khi các Bác về rồi lại tiếp tục... "Tham luận"! (Là để chờ kết quả của Ban Kiểm phiếu). Một nhà thơ lên phát biểu Hội nghị nhiều lần phản đối không xong không cần chờ lệnh của Chủ tịch đoàn  bèn tự ý bỏ trống hội trường ra cả nhà ăn (lúc này gần 12 giờ trưa)! Chủ tịch và Thư ký đoàn lục tục ra theo! Mãi đến xế chiều mới có kết quả. Ban Chấp hành 15 người "mới toanh" ra mắt xong là... bế mạc luôn! Mình gọi chúc mừng Vũ Hồng là người "độc đáo" tự ứng cử và... đắc cử luôn! Rồi cố chen đọc một câu chọc đùa với Văn Công Hùng "Từ khi anh trúng Chấp hành/ Bạn bè thì thấp ghế bành thì... cao"! (Riêng lão Hùng này phải kể thêm một chuyện "hi hữu" đến... quên cả cười nữa: Lá phiếu in nhà thơ Văn Công Hùng sinh năm 1936 trong khi "lão" mới vừa được mẹ sinh năm 1956! Phiếu in đang sinh sống và hoạt đông văn học tại Hà Nội trong khi lão mọc rễ ở Plei Ku mấy chục năm qua đang là một ông "quan" văn nghệ của tỉnh Gia Lai! Thế cho nên mới "bị" bạn bè trêu rằng lão đắc cử được là nhờ vào cái tuổi "lão thành cách mạng" và là người... Thủ đô)! Liên hoan chia tay vui vẻ hẹn hò nhau đủ thứ không khí lại cứ như là... "như chưa hề có cuộc chia ly"!

VỚI ĐINH QUANG TỐN

VỚI PHÚC VÀ DƯƠNG - KHUYA VỈA HÈ VĂN MIẾU
         Ngồi trên xe trở về khách sạn vẩn vơ tìm nhớ lại những chuyện vui vui của 2 ngày Đại hội để tự thư giãn thì nhớ nhất chuyện này: Số là có đến bảy mươi phần trăm hội viên là đã trên 60 tuổi (nên có người nói vui rằng Hội Nhà văn là Hội... Người cao tuổi!). Có phải do tuổi cao nghễnh ngãng hay do tính đãng trí của cánh văn chương mà thỉnh thoảng tiếng loa trong hội trường lại phát đi thông báo: "Bác nào để quên cái kính lão ở chỗ này..." "Bác nào để quên cái túi xách ở chỗ này..." "Bác nào để quên...". Thậm chí có thông báo "Trong nhà vệ sinh nữ có bác nào bỏ quên một điện thoại di động và một kính lão"!... Thầm nghĩ thì cũng vui vui đấy nhưng lòng bỗng chùng hẳn lại khi bất giác nhớ lời nói của nhà văn Nguyễn Trung Hiếu lúc đứng trốn nắng dưới gốc cây bên hông hội trường phì phèo thuốc lá với nhau: " Các cậu còn hẹn nhau năm ba Đại hội nữa chứ bọn tớ đã 75 rồi biết có còn được đến lần thứ IX nữa không?"!         
         Đêm cuối này cũng có vài dự định riêng nhưng bất ngờ một anh bạn thiếu tá bác sỹ quân y bên Học viện Quốc phòng Nguyễn Hồng Phúc và một anh bạn trẻ khác là thượng úy công an ở tận Lào Cai Nguyễn Ánh Dương về hội thao ở Hà Nội cả hai vô tình cùng lúc đến thăm chơi và rủ đi nhậu. Thì cứ coi như hai người bạn "ngoại đạo" này đến để chúc mừng mình vừa có một Hội nghị thành công tốt đẹp! Trong cơn say ngà ngật ở vỉa hè Văn Miếu hai bạn hỏi kỳ này có... "Vè Đại hội" không mình đọc luôn câu "tập... Chinh phụ ngâm": "Thuở trời đất nổi cơn Đại hội/ Giữa Thủ đô Hà Nội ngàn năm/ Đại hội VIII Hội Nhà văn/ Nghe ra lắm chuyện tưởng căng nhưng... khồng (không)/ Chúc mừng Đại hội thành công... tốt đẹp - Ai nấy thấy lòng... phơi phơi (phới)"!

(Tái bút: Toàn bộ vốn liếng đi Đại hội của Sỹ chỉ được mấy tấm ảnh đưa "khoe  kèm theo bài viết này là hết sạch sành sanh rồi đấy!)

Tạ Văn Sỹ

More...

NGỤC KON TUM – CÓ PHẢI TRÙNG TU?

By tavansy@gmail.com

 

 Tỉnh Kon Tum được thành lập năm 1913 thì vài ba năm sau (khoảng 1915-1917) nhà ngục Kon Tum cũng được thực dân Pháp lập ra để giam giữ tù thường phạm. Đến tháng 6-1930 Pháp mới chính thức dùng nó làm nơi lưu đày các tù chính trị phạm. Như vậy Ngục Kon Tum cũng đã tròm trèm trăm tuổi chẵn. Ngày 16-11-1988 Ngục Kon Tum được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 1288/VHQD-BVHTT. Từ đó Di tích đã nhiều lần được đầu tư tôn tạo. UBND Thị xã Kon Tum tu bổ năm 1989. Bộ Văn hóa - Thông tin đầu tư chống xuống cấp năm 1994 và đợt 1997-2000 UBND tỉnh Kon Tum rót đến gần 5 tỷ đồng để tôn tạo lớn! Với việc sử dụng 5 tỷ đồng này khu Di tích đã "được" dư luận xã hội và các cơ quan báo chí gọi là "công viên" như hàng tít ở báo Lao động số 147 ra ngày 30-6-2008 "Trùng tu di tích Ngục Kon Tum bị biến thành... công viên!" trong đó có câu: -"Được gọi là khu di tích lịch sử nhưng hầu hết các công trình kiến trúc được xây dựng nơi này hoàn toàn mới thậm chí có du khách nói đùa nơi từng giam giữ tù chính trị có vẻ đẹp quá thể chẳng khác nào công viên..."!

Cần nói qua về Ngục Kon Tum để bạn đọc ở xa rõ hơn: Địa điểm chính của Ngục Kon Tum là gần đầu đường Trương Quang Trọng hiện nay gọi là Lao Trong. Ở đó Pháp cho xây dựng kiên cố để giam giữa tù chính trị phạm. Sau Cách mạng Tháng 8-1945 thì bị phá bỏ mất hẳn dấu tích. Vào năm 1997 đúng ngay trên nền cũ Ngục Kon Tum đã hoang phế ấy ta phát hiện 81 hài cốt chiến sĩ Giải phóng quân hy sinh trong Tết Mậu Thân bị chính quyền Sài Gòn chôn chung một hố bèn cho xây một nhà Tưởng niệm ngay tại chỗ tức trên nền cũ của ngục chính. Vì thế nên không thể bảo tồn và phục dựng nơi này làm khu di tích được nữa. Còn địa điểm hiện nay được tôn tạo thành di tích Ngục Kon Tum chính là Lao Ngoài. Ở đây Pháp cho dựng sơ sài một nhà giam bằng kèo sắt lợp thưng bằng tranh tre nứa lá có chằng kẽm gai để tạm thời quản thúc số chính trị phạm sống sót sau đợt 1 đi làm đường 14 ở Đăk Pét trở về. Khi bị gọi làm đường đợt 2 thì anh em đấu tranh không chịu đi Pháp xả súng bắn chết 8 người bị thương 8 người vào sáng 12-12-1931 (gọi là Đấu tranh Lưu huyết). 4 ngày sau (16-12) vì anh em tuyệt thực tiếp tục phản đối nên Pháp lại xả súng bắn chết 7 người 7 người khác bị thương (gọi là Đấu tranh Tuyệt thực). Số người chết của 2 lần tàn sát ấy Pháp đem chôn thành 2 nấm mộ chung tại sân Lao Ngoài này. Hai ngôi Mộ bây giờ chính là tâm điểm của khu di tích.

(ảnh tư liệu)

Trước khi "nhận định" "phê bình" việc trùng tu tôn tạo không đúng quy cách hay việc làm xâm hại di tích... thì cũng phải công tâm ghi nhận rằng các nhà thiết kế đã đặt một Nhà Trưng bày hiện vật cách điệu hình hoa sen ôm gọn nửa vòng cung phía sau 2 ngôi Mộ tập thể chôn 15 tù nhân liệt sĩ là giàu ý nghĩa. Nhìn xa thì đẹp và hoành tráng nhưng quanh cái biểu tượng "hoa sen" đẹp đẽ này lại có lắm chuyện cần phải bàn thảo!

NHÀ TRƯNG BÀY (ảnh chụp khi mái ngói đang được thảo bỏ để thay lại - 2010)

Đây là "một" trong "lắm chuyện" ấy: Chuyện Nhà Trưng bày và nền Ngục cũ. Không hiểu thiết kế định vị thế nào mà khi thi công thì Nhà Trưng bày lấn chiếm mất 1/3 nền móng cũ của di tích Lao Ngoài! Điều này đã vi phạm Luật Di sản. Điều 32 quy định: "Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích"... "Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian. Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó". Nghĩa là ở đây không ai có quyền cho phép việc xây dựng mới chồng lên 1/3 "mặt bằng và không gian" của di tích như vậy!

NHÀ TRƯNG BÀY LÂN 1/3 NỀN NGỤC CŨ! (ảnh tư liệu)

Công tác Bảo tồn các di tích ở Kon Tum còn nhiều chuyện phải bàn Chính quyền sở tại cũng đã thấy ra và công nhận những vấn đề trên. Cụ thể báo Kon Tum số 1773 ra ngày 4-8-2008 đưa tin di tích lịch sử Đăk Tô - Tân Cảnh bị xâm phạm. Tiếp số 1780 (20-8-2008) nêu cụ thể di tích lịch sử Ngục Kon Tum đã bị biến dạng sau khi tôn tạo! Rồi cũng báo Kon Tum số 1795 (24-9-2008) đưa tin Ban Văn hóa - Xã hội HDND Tỉnh làm việc với UBND Tỉnh về Thiết chế Văn hóa và Di tích lịch sử kết luận thời gian qua việc phát huy tác dụng di tích lịch sử còn nhiều hạn chế một số di tích đã bị xâm phạm nghiêm trọng vi phạm luật Di sản văn hóa... 

Do vậy bà con ngạc nhiên khi biết tại công văn số 1810/UBND-VX ngày 31-8-2006 của UBND tỉnh Kon Tum ký về việc "Giao cho Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh lập dự án phục dựng lại nhà lao Kon Tum". Phục chế thế nào khi nguyên tắc là phải thực hiện ngay trên nền móng gốc được giữ nguyên trạng của di tích đó mà di tích Lao Ngoài này đã bị Nhà Trưng bày (xây mới) xâm chiếm hết 1/3 diện tích nền gốc cũ? Rồi cái Gò Đất (thuộc Khu vực 1 của Di tích - Xin đọc bài viết riêng về Gò Đất) đang mang trên mình chình ình cột điện? Hoặc giả nhất thiết phải phục dựng thì buột phải dời bỏ các công trình hàng tỷ đồng kia ra xa để trả lại nguyên trạng Di tích và cũng là để đảm bảo mỹ quan khu di tích. Nếu không như thế thì việc dư luận xã hội bảo khu Di tích Lịch sử mà giống... công viên cũng không phải là không có lý!

Năm nay lại một "mùa" trùng tu nữa sau sự cố tàn hại của cây bão lũ số 9 ngày 29-9 năm ngoái. Không biết Di tích Lịch sử cấp Quốc gia Ngục Kon Tum rất đáng tự hào này sẽ được "thay da đổi thịt" thế nào?!

 

Tạ Văn Sỹ

More...

CHUYỆN “LẠ” VỀ NGỤC ĐĂK GLEI!

By tavansy@gmail.com

 

Kon Tum có 2 nhà ngục do thực dân Pháp lập nên nay đều là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia là ngục Kon Tum và ngục Đăk Glei. Ngục Kon Tum nổi tiếng từ năm 1937 qua thiên ký sự "Ngục Kon Tum" của Lê Văn Hiến một cựu tù ở đấy khiến dư luận quốc tế phải quan tâm. Còn ngục Đăk Glei thì gắn liền với một người nổi tiếng là nhà thơ Tố Hữu! Tại đây nhà thơ đã làm cú vượt ngục ngoạn mục để tiếp tục hoạt động cách mạng. Do vậy người Kon Tum vẫn quen gọi nơi này là ngục Tố Hữu. Thậm chí đoạn đường đèo dốc vào nhà Ngục cũng được gọi luôn là dốc Tố Hữu!

Không những Tố Hữu nơi đây còn giam cầm những nhân vật chủ chốt khác của cách mạng Việt Nam mà sau đó một số đã trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp trong Chính phủ như Nguyễn Duy Trinh Chu Huy Mân Lê Văn Hiến Huỳnh Ngọc Huệ v.v...

Ngục Đăk Glei thuộc địa phận xã Đăk Choong huyện Đăk Glei tỉnh Kon Tum. Được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 2307/QD-BT ngày 30-12-1991. Năm 1994-1995 Di tích được Bộ rót kinh phí chống xuống cấp. Ngành Văn hóa - Thông tin Tỉnh dựng một tấm bia đá lớn ghi nội dung lịch sử nhà Ngục. Năm 2004 Bộ lại cấp gần 100 triệu đồng để tiếp tục chống xuống cấp. Tháng 4-2009 lại thêm gần 300 triệu nữa đổ về để đầu tư tôn tạo Ngục Đăk Glei.

Hình ảnh Ngục Đăk Glei được trang trọng in đi đăng lại trên nhiều sách báo như là biểu tượng cho tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của các thế hệ cha anh cần noi gương học tập. Hằng năm Thanh niên trong tỉnh Huyện đoàn Đăk Glei đều tổ chức những chuyến "Về nguồn" thăm viếng sửa sang dâng hương hoa.

BIA DI TÍCH NGỤC ĐĂK GLEI

Thế nhưng... Nơi lâu nay được gọi là Ngục Đăk Glei ấy (vì được dựng bia Di tích) có phải là Ngục Đăk Glei thật không? Điều làm ngỡ ngàng những người quan tâm khi tiếp cận tài liệu tư liệu hồi ký của những người từng bị giam giữ ở đó và các nhân chứng khác thì hóa ra... không phải!

Lời kể của Tố Hữu với cán bộ Bảo tàng tỉnh Gia Lai - Kon Tum: -"Nhìn lên ngọn đồi gần đó trên đỉnh đồi có một ngôi nhà sau biết ra thì đó là đồn Đăk Glei. Ở lưng chừng sườn đồi có 3 dãy nhà dài đến nơi thì ra đó là trai giam xung quanh rào dây kẽm gai rất kỹ chỉ trừ một lối vừa vào vừa ra...". Trong hồi ký "Trở lại Kon Tum" của Lê Văn Hiến (Sở VH - TT Kon Tum 1993) mô tả: -"Trại giam chúng tôi làm bằng gỗ nứa lợp tranh chung quanh rào dây kẽm gai rất kỹ và cắm chông dày đặc. Trại khá rộng có thể chứa trăm rưởi người...". Từ mô tả trên liên hệ thêm mấy câu thơ trong bài "Tiếng hát đi đày" Tố Hữu viết lúc bị phát vãn đến đây: -"Đường lên Đăk Xút Đăk Pao/ Đèo leo ngọn thác cầu treo mặt ghềnh/ Đìu hiu mấy ải đồn canh..." thì đúng là khi Tố Hữu đến (1940) đã thấy có đồn (canh) ấy và một dãy lán trại rồi.

ĐỒN BINH PHÁP MÀ LÂU NAY VẪN CHO LÀ NGỤC (lúc chưa lợp mái che chống xuống cấp - In trong sách "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum" tập 1)

Cái nhà tường đá trên đỉnh đồi Chang Túc (ảnh) mà lâu nay được coi là Ngục Đăk Glei hóa ra lại là... đồn giặc Pháp! Tập "Hồ sơ khảo sát Di tích Lịch sử Ngục Đăk Glei" lập ngày 19-10-1991 ghi: -" Trên đỉnh đồi là một dãy nhà gồm 4 phòng hiện nay tường đá vẫn còn rất chắc phía trước cách 20m là một dãy nhà nhỏ hơn được ngăn làm đôi có một số người biết không chính xác nên nhầm tưởng khu này là nhà tù Đăk Glei nhưng thực chất đây là đồn Đăk Glei"! Và: -"Theo bác Lê Văn Hiến kể lại thì dãy nhà nhỏ phía trước một bên là bếp phần còn lại là bốt gác. Còn dãy nhà lớn phòng phía phải của dãy nhà là phòng vợ chồng tên đồn trưởng BêLiôNơ. Phòng thứ hai là nơi để tài liệu và làm việc của tên đồn trưởng. Phòng thứ ba là nơi tập trung tụi lính. Còn phòng thứ tư là nơi lính ở". Như vậy thì đích thực đây là Đồn chứ không phải Ngục!

Vậy tù chính trị ở đâu? -Đó là một cái Căng (camp) an trí! Pháp cho tù nhân an trí ở Căng để tiện việc làm đường 14. (Đường ban đầu qua khu vực này). Vì địa thế quá hiểm trở nên sau đó Pháp chuyển đường 14 sang hướng đi như bây giờ.

ĐỒN BINH PHÁP (đã lợp mái che chống xuống cấp và dựng Bia Di tích - Bia ở bên phải ảnh còn dãy nhà nhỏ bên trái ảnh là nhà bếp của Đồn)

"Hồ Sơ..." viết tiếp: -"Từ vị trí đồn Đăk Glei chúng tôi đi xuống phía Bắc của đồi Chang Túc đến lưng chừng đồi cách khu vực đồn khoảng 100m là một khu đất bằng phẳng rộng chừng 500m2 đây chính là vị trí Căng an trí nơi thực dân Pháp cầm cố những người chiến sĩ cách mạng... Theo lời kể của bác Lê Văn Hiến bác Tố Hữu và các đồng chí lão thành cách mạng khác thì khu Căng an trí thực dân Pháp dựng ba dãy nhà làm bằng tre gỗ lấy tại rừng trên lợp tranh xung quanh không có vách nhưng toàn bộ khu Căng an trí chúng rào dây kẽm gai rất kỹ chỉ trừ một cái cửa vừa vào vừa ra".

Đến đây đã rõ đồn Đăk Glei và Căng an trí. Vậy còn Ngục ở đâu? "Hồ sơ..." viết tiếp: -"Đi xuống phía suối Đăk Gla cách khu vực Căng an trí 100m là ngục Đăk Glei.

NGỤC ĐĂK GLEI THẬT (đã lợp mái che chống xuống cấp - không gắn Bia Di tích)
               Đồng chí Lê Văn Hiến kể rằng tháng 2-1942 đồng chí Tố Hữu vượt ngục sau khi đồng chí Tố Hữu và đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ vượt ngục thực dân Pháp khủng bố anh em tù chính trị... không khai thác được gì chúng bèn dẫn một số tù chính trị xuống giam ở Đăk Tô chúng xúc tiến xây ngục Đăk Glei còn lại khoảng 40 người chính trị phạm chúng giam tại ngục Đăk Glei". Như vậy Ngục Đăk Glei được lập sau sự cố có người vượt thoát ở Căng an trí (tức Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ - 1942) nên Pháp muốn có chỗ giam giữ vững chắc hơn. (Nói Tố Hữu vượt ngục là vượt ngục tù từ Căng an trí chứ không phải từ nhà ngục!).

"Hồ sơ..." miêu tả rõ nhà ngục: -"Khảo sát ngục Đăk Glei chúng tôi thấy: Ngục được xây bằng đá xanh tường dày 25cm chiều dài 4 2m chiều rộng 2 5m. Từ chân lên nóc cao 3 2m tường ngang cao 2 8m ngục có một cửa rộng 0 8m cao 1 8m. Cửa mở hướng nam gần đầu hồi. Tường hồi đối diện với cửa ngục có một lỗ thông hơi mỗi chiều 20cm. Nền ngục không được tráng xi măng..."

Như vậy Ngục Đăk Glei Căng an trí và Đồn binh Pháp là 3 cơ sở khác nhau nằm chung trong một cự ly gần. Mọi chi tiết đã được phản ảnh rõ ràng phân minh trong "Hồ sơ...". Vậy mà gần 20 năm qua việc dựng bia Di tích trùng tu tôn tạo thăm viếng... Di tích Lịch sử cấp Quốc gia Ngục Đăk Glei lại cứ nhằm vào... Đồn giặc Pháp!

Đáng lý ra phải cắm biển chỉ rõ "Đây là đồn binh Pháp" "Đây là khu lán trại căng án trí" (giờ là bãi hoang)... Và đặc biệt tấm Bia Di tích phải được đặt đúng tại nhà Ngục đích thực (chứ không ở cạnh Đồn như lâu nay).
            Có người bảo do nhà Ngục nằm khuất phía sau Đồn nên Bia được đặt tại đây cho khách tham quan từ ngoài đường vào dễ nhận thấy! Một sự chống chế rất... nực cười! Sao không mở lối vào và biển chỉ dẫn để cắm Bia cho đúng với Di tích Ngục? 
            Ở đây chỉ nói về sự nhầm lẫn "lạ đời" còn việc trùng tu tôn tạo thì lại là... chuyện khác nữa!).

Tạ Văn Sỹ

More...

GÒ ĐẤT Ở NGỤC KON TUM

By tavansy@gmail.com

 

Tỉnh Kon Tum được thành lập năm 1913 thì vài ba năm sau (khoảng 1915-1917) nhà ngục Kon Tum cũng được thực dân Pháp lập ra để giam giữ tù thường phạm. Đến tháng 6-1930 Pháp mới chính thức dùng nó làm nơi lưu đày các tù chính trị phạm. Ngày 16-11-1988 Ngục Kon Tum được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 1288/VHQD-BVHTT. Từ đó Di tích đã nhiều lần được đầu tư tôn tạo. UBND Thị xã Kon Tum tu bổ năm 1989. Bộ Văn hóa đầu tư chống xuống cấp năm 1994 và đợt 1997-2000 UBND tỉnh Kon Tum rót đến 5 tỷ đồng để tôn tạo lớn!

Gần sát cổng ra vào khu Di tích Lịch sử là một gò đất cao nằm sát bờ sông Đăk Bla. Ở đây có đúc bia ghi rõ lịch sử của Gò Đất. Vào những năm 1930-1931 Pháp dự định bắt cầu qua sông Đăk Bla ngay tại địa điểm ấy nên đã sức cho anh em tù chính trị của Ngục Kon Tum lấy đất nơi khác về đổ ụ cao để làm mố cầu.(Nhưng sau lại chuyển địa điểm sang làm nơi cầu Đăk Bla hiện nay). Để có mố cầu (Gò Đất) cao to ấy là biết bao mồ hôi nước mắt kể cả máu nữa của anh em chính trị phạm dưới làn roi vọt khổ sai của cai ngục. Ông Bùi San - nguyên Bí thư Khu ủy Khu 5 cựu tù chính trị tại Ngục Kon Tum là 1 trong 8 người bị thương trong cuộc Đấu tranh Lưu huyết có đến 8 người chết do Pháp xả súng bắn vào ngục sáng ngày 12-12-1930 - về thăm lại Ngục năm 1990 đứng trước Gò Đất ông bùi ngùi xúc động nói: -"Biết bao mồ hôi xương máu của những người tù đã đổ xuống để tạo nên Gò Đất này. Hãy giữ lại vì đây là dấu tích tội ác của thực dân Pháp. Đừng bao giờ phá bỏ"! Như vậy Gò Đất là một bộ phận thuộc Khu vực I của khu Di tích "phải được bảo vệ nguyên trạng" (Luật Di sản - Điều 32). Thế mà vào năm 1993 khi xây dựng đường điện 35KV Ban Quản lý các công trình điện thuộc Công ty Điện lực 3 đã trồng ngay trên  đỉnh Gò Đất một cột điện giàn sắt cao lừng lững! Việc làm này đã vi phạm Luật Di sản! 17 năm qua cột điện vẫn sừng sững hiên ngang đứng trên đầu xương máu tù nhân! Đã có nhiều Công văn Tờ trình của Ban Quản lý Bảo tàng Kon Tum gửi ngành Văn hóa Kon Tum đề nghị dời cột điện nhưng không thấy động tĩnh gì. Báo Văn hóa số ra tháng 11-2007 có bài "Cần di dời cột điện ra khỏi Di tích Lịch sử Ngục Kon Tum" cũng rơi vào... sự im lặng đáng sợ!

BIA D TÍCH VÀ CỘT ĐIỆN

Cơn bão lũ số 9 ngày 29-9-2009 đã làm ngã đổ tấm bia ghi lịch sử hình thành Gò Đất và ảnh hưởng trụ móng cột điện. Ngành Điện lực lại cho người đến đào xới tanh banh Gò Đất với 4 đường rãnh vuông vức sâu 2m5  rộng hơn 2m để gia cố bảo vệ cột điện. Ngày 27-5-2010 Bảo tàng Kon Tum nhận được Công văn số 135/CV-DCTKT ký ngày 26-5-2010 của Chi nhánh điện cao thế Kon Tum về việc gia cố móng trụ vị trí L150 đang nằm trên Gò Đất. Bảo tàng Kon Tum có Công văn số 46/BC-BT gửi Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch ngày 1-6-2010 đề nghị: 1- Không được đào xới xâm phạm đến Gò Đất chờ có điều kiện thì phục dựng lại. 2-Không tiếp tục gia cố trụ móng cột điện. 3- Đề nghị Chi nhánh điện cao thế và các cấp có thẩm quyền liên quan tỉnh Kon Tum có phương án di dời cột điện này ra khỏi khu di tích trả lại nguyên trạng gốc cho di tích như lúc hồ sơ được công nhận xếp hạng.

Nhưng ngày 5-7-2010 UBND tỉnh Kon Tum lại có Công văn số 1268/UBND-KT ký về việc gia cố trụ điện L150 với nội dung "Thống nhất phương án gia cố móng trụ L150 đường dây 110KV Plei Ku - Kon Tum như đề xuất của Sở Xây dựng tại văn bản số 103/BC-SXD ngày 30-6-2010. UBND tỉnh Kon Tum báo để Sở Xây dựng Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch biết khẩn trương thực hiện". Thế này là thế nào?! Chiếu theo Điều 32 Luật Di sản hiện hành thì ai là người có thẩm quyền cho thi công gia cố công trình trên Khu vực I của di tích cấp Quốc gia nếu không là Bộ Văn hóa? Cột điện là công trình phục vụ lợi ích dân sinh khác chứ không phải "trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích" như trong điều luật đã nói rõ!

GÒ ĐẤT BỊ ĐÀO XỚI TAN HOANG

Có lẽ do phải... "khẩn trương thực hiện" (!) nên hằng ngày bà con qua lại nơi đây xót xa nhìn cảnh đào bới xới xúc tan hoang Gò Đất thiêng liêng trong tâm thức của mọi người lâu nay! Người không biết chuyện sẽ nghĩ rằng chính ngành Điện lực đã đắp cái ụ đất cao to bề thế này để giăng kéo đường dây qua sông!

Nhớ năm 2007 ở Quảng Bình cũng xảy ra một chuyện tương tự: Điện lực tỉnh này cho trồng một cột điện 220kv trên cổng Võ Thắng Quan thuộc Di tích Lũy Thầy (lũy Đào Duy Từ). Bài phản ánh vụ việc này in ở báo Văn hóa số 1382 ra ngày 1-6-2007. Ngay trong ngày báo phát hành ấy đích thân Phó Giám đốc Sở Văn hóa đi kiểm tra xác định và có công văn cho ngành Điện lực. Điện lực Quảng Bình thấy ra việc vi phạm Luật Di sản nên đã di dời cột điện ra nơi khác. Hai trường hợp giống nhau chan chát. Không lý Quảng Bình và Kon Tum lại có hai cách suy nghĩ và xử lý khác nhau?

GÒ KHÔNG CÒN RA GÒ!

 Công tác Bảo tồn các di tích ở Kon Tum còn nhiều chuyện phải bàn Chính quyền sở tại cũng đã thấy ra và công nhận những vấn đề trên. Cụ thể báo Kon Tum số 1773 ra ngày 4-8-2008 đưa tin di tích lịch sử Đăk Tô - Tân Cảnh bị xâm phạm. Tiếp số 1780 (20-8-2008) nêu cụ thể di tích lịch sử Ngục Kon Tum đã bị biến dạng sau khi tôn tạo! Rồi cũng báo Kon Tum số 1795 (24-9-2008) đưa tin Ban Văn hóa - Xã hội HDND Tỉnh làm việc với UBND Tỉnh về Thiết chế Văn hóa và Di tích lịch sử kết luận thời gian qua việc phát huy tác dụng di tích lịch sử còn nhiều hạn chế một số di tích đã bị xâm phạm nghiêm trọng vi phạm luật Di sản văn hóa... Thế nhưng...

Không biết các cơ quan chức năng của tỉnh Kon Tum rồi sẽ có quan điểm và cách xử lý thế nào chứ với tư cách công dân bà con ai cũng muốn nhổ dời cột điện ra khỏi Gò Đất để nó mãi là chứng tích một thời gian lao mà anh dũng của cha ông. Nhưng cơ bản nhất là không phải nhìn thấy cảnh xâm hại nguyên trạng di tích lịch sử một cách thô bạo thiếu văn hóa như vậy.

 

Tạ Văn Sỹ

More...

VỀ ĐỊA DANH Ở KON TUM

By tavansy@gmail.com

 

Mỗi địa danh đều có ý nghĩa thiêng liêng của nó. Đó là niềm tự hào và trân trọng trong đời sống văn hoá xã hội cũng như đời sống tâm linh mỗi công dân. Tên làng xã huyện tỉnh luôn được mọi người khai báo và xưng tụng với sự quý yêu trìu mến.

          Các cụ ta xưa khi quyết định đặt tên cho một vùng đất nào thường rất cẩn trọng cân nhắc kỹ càng ý nghĩa của cái tên sẽ gọi. Nó phải hàm ẩn một nghĩa lý nào đó. Có thể đấy là đặc điểm địa lý hay văn hoá là đặc điểm lịch sử hay truyền thống hoặc cũng có thể là từ cá nhân hoặc dòng họ khai canh v.v... Từ Bắc chí Nam miền xuôi lên miền ngược từ dân tộc đa số đến thiểu số... đều có truyền thống gọi tên địa danh như vậy.

          Ở Kon Tum tên làng xã cũng được đặt theo những nghĩa lý đó. Ví dụ tên làng Trung Lương (cũ) là các cụ chiết ghép cụm từ "trung quốc lương dân" mà ra. (Vì đa số bà con miền xuôi lên đây họp nhau lập làng là thành phần chống xâu thuế và áp bức của chế độ thuộc địa bỏ xứ ra đi). Tên làng Lương Khế (cũ) là do được lập từ một khế ước xin phép chiêu dân lập làng giữa ông Đặng Ngại với quan Quản đạo Phan Kế Toại. (Lúc ấy Kon Tum ở cấp Đạo chứ chưa thành Tỉnh). Các làng Võ Lâm Võ Định... (cũ) là do Quản đạo Võ Chuẩn (sau về làm Tổng đốc Quảng Nam) lập ra nên lấy họ của người sáng lập. Cũng như vậy làng Ngô Trang Ngô Thạnh trước đây đều do ông họ Ngô lập nên. Các làng Phương Nghĩa Phương Quý Phương Hoà... là họ đạo Thiên Chúa gọi theo tổ chức Giáo hội. Bây giờ tất cả các tên gọi ấy đều không được dùng nữa.

          Bà con dân tộc thiểu số bản địa ở đây như Ba-na Xê-đăng Rơ-ngao hay Jơ-rai... cũng vậy. Các Plei Kon Đak... cũng gắn liền với một trong những tiêu chí nói trên. Ví dụ làng Kon Tum vì là ở vùng có nhiều ao hồ Kon H ra vì ở vùng nhiều cây sung Kon Kơ-lor vì nhiều cây gạo Kon Hơ-ngor vì nhiều cây thông Kon Jơ-ri vì nhiều cây đa Kon Rơ-bang vì nhiều cây gòn Kon B raih vì (gần sông) nhiều cát Plei Kroong vì làng nằm giữa hai con sông (Đak Bla và Đak Pôkô) Plei Reh là làng ông Reh Đak Ui vì ở bên suối Đak Ui Plei Đon vì ở trên gò cao Plei Gơ-roi vì nằm trên lưng đồi Plei Tơnghia vì nhiều cây kơ-nia Plei Kần vì do ông Cần (lúc làm Quản đạo) lập nên Đak Phía vì nhiều rừng nứa Đak Toh (Tô) vì có suối nước nóng Đak Mut vì ở gần chỗ nước chảy hút vào khe sâu Đak Rơ-wa vì ở gần con suối có nhiều dọc môn Yang Roong vì (theo một truyền thuyết) làng được Giàng (trời thần) nuôi v.v...

          Như vậy tuy cách gọi tên có phần đơn giản nhưng không có cách gọi nào là tuỳ tiện là vô nghĩa lý cả. Nói đến tên làng nào là biết ngay đặc điểm của làng ấy. Sau ngày giải phóng 1975 vì nhu cầu sắp xếp lại xã hội theo đơn vị hành chính mới và theo phương cách sản xuất nông nghiệp mới (hợp tác xã) nên các tên gọi địa danh có nhiều xáo trộn thay đổi. Đó là lẽ đương nhiên. Thời kỳ lịch sử nào cũng như thế cả. Nhưng đều đã mất dần ý nghĩa văn hoá - xã hội của nó.

          Lúc ấy trung tâm thị xã Kon Tum gồm các làng Trung Lương Lương Khế Võ Lâm Phương Nghĩa được phân chia lại thành 2 phường: Quyết Thắng và Thắng Lợi. Từ đó các tên gọi cũ biến mất chỉ còn các Đình làng Trung Lương Lương Khế Võ Lâm làm chứng tích hằng năm bà con vẫn lễ tế tưởng nhớ các vị tiền hiền khai canh lập ấp. Sau tách ra thêm 4 phường nữa với tên gọi Thống Nhất Quang Trung Duy Tân Trường Chinh. Vì yêu cầu nới rộng địa giới hành chính để lập thành phố lấy thêm các vùng phụ cận vào lập thêm các phường Lê Lợi Ngô Mây Nguyễn Trãi Trần Hưng Đạo.    Việc xáo trộn phân chia lại để lập các đơn vị hành chính mới cho phù hợp với sự ổn định và phát triển lâu dài trong tình hình mới là cần thiết chính đáng không bàn cãi. Nhưng cách đặt tên gọi mới nghe ra... có lẽ nên "bàn cãi" một tí! Các từ mang tính khẩu hiệu như "Quyết thắng" "Thắng lợi" "Thống nhất"... là đẹp là hay là cần thiết với một giai đoạn lịch sử cụ thể điều này không ai phủ nhận. Nhưng có nhất thiết dùng toàn khẩu hiệu để gọi địa danh khiến mất đi sự gắn kết về mặt ý nghĩa lịch sử hình thành của nó? Việc dùng tên các danh nhân để đặt tên địa danh như Quang Trung Duy Tân Trường Chinh Lê Lợi Ngô Mây Trần Hưng Đạo Nguyễn Trãi... cũng vậy! Các vị ấy đối với đất nước dân tộc là lớn lao vĩ đại nhưng dùng để gọi một vùng đất nhỏ ở đây phỏng có ý nghĩa gì? Nó hoàn toàn không có một liên hệ gì một gợi tưởng gì để gắn kết tên các vị với các đơn vị hành chánh này cả! (Ấy là chưa kể ở các phường ấy không hề có đường phố chính nào mang tên như vậy. Các thành phố lớn có cách gọi tên phường như thế vì địa bàn rộng có nhiều đơn vị hành chính cấp phường nên họ sử dụng tên một đường phố lớn chính nằm trong khu vực để gọi).

Vùng phụ cận có các xã Vinh Quang (một phần của tên cũ Phương Quý) Hoà Bình (một phần của tên cũ Tân Phú) Đoàn Kết (một phần của tên cũ Tân Điền)... Cũng toàn là khẩu hiệu với khẩu hiệu! Nó không nói lên được ý nghĩa văn hoá lịch sử gì ở đấy. Trong khi đã có các tên gọi cũ cũng hay cũng giàu ý nghĩa với mong ước luôn được mới mẻ ấm no ân nghĩa ân tình... như Tân Phú Tân Điền Phương Quý Phương Hoà... Nghĩa là ngày nay từ nội ô đến ngoại ô toàn thành phố Kon Tum không còn dùng một tên gọi cũ nào nữa mà chỉ toàn tên khẩu hiệu và tên danh nhân. Lịch sử đã chứng minh đâu phải thiết lập một thể chế mới một thời đại mới là nhất thiết phải xoá đi mọi "tàn dư" cũ kể cả trong tên gọi các địa danh?

Đi về vùng sâu vùng xa các huyện ở xã nào cũng dễ dàng bắt gặp các tên gọi Thôn 1 Thôn 2 Thôn 3... "tàn dư" của thời kỳ sản xuất cũ. Toàn những con số đếm khô khan vô hồn được dùng để gọi các buôn làng đồng bào dân tộc. Như đã nói mỗi làng của bà con đều có tên gọi theo ý nghĩa riêng trong quá trình hình thành của nó. Những thôn 1 thôn 2... không gợi một đặc điểm ấn tượng gì trong khi tên làng (cũ) đã đi vào tiềm thức tâm linh của mỗi công dân ở đó. Ví dụ làng Đăk Lâp xã Đăk Pơ-xi huyện Đăk Hà nơi vào tháng 11 năm 1973 diễn ra cuộc họp bí mật rất quan trọng của Tỉnh uỷ Kon Tum đề ra những sách lược lớn nhằm tiến tới giải phóng toàn tỉnh. Một địa danh lịch sử như vậy bây giờ được gọi một cách đơn giản trơn tuột là Thôn 2 (!). Nó lẫn lộn với những Thôn 2 khác không gây một dấu ấn đặc biệt nào vào bộ nhớ! Tiếc thay! Trên diễn đàn báo chí đã có nhiều ý kiến đề nghị trả lại tên làng cho vùng dân tộc. Điều ấy mang ý nghĩa văn hoá - xã hội và chính trị lớn lẽ nào để mãi thành... quen (và... "quên" luôn)?!

Dùng khẩu hiệu con số tên danh nhân có sẵn để đặt cho địa danh là cách làm dễ dãi tùy tiện của lối tư duy đơn giản chây lười thiếu quan tâm và sáng tạo!

Từ tên gọi Kẻ Chợ đến Đại La rồi Thăng Long Đông Đô Hà Nội. Từ Quảng Đức đến  Phú Xuân rồi Thuận Hoá sang Huế. Từ Thầy Côn đến Sài Gòn - Gia Định rồi đến Thành phố Hồ Chí Minh... Tất cả đều có ý nghĩa lịch sử ý nghĩa văn hoá ý nghĩa xã hội ý nghĩa thời đại của nó đâu phải do cách đặt tên tuỳ tiện mà ra? Ví dụ làng cổ Đường Lâm ở Sơn Tây - Hà Nội mà đổi thành... "Thôn 1" chẳng hạn thì không biết liệu có ai rưng rưng xúc cảm trong mạch nguồn cảm thức lịch sử với miền đất Hai Vua (Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Quyền) không nhỉ? Ví dụ Lim Liên - Nam Đàn bị đổi thành... gì gì đó thì thử hỏi trong tâm thức người Việt Nam ta có còn ai cảm khái được rằng đó là quê Bác vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới? Ví dụ... vân vân...

  

Tạ Văn Sỹ

 

More...

TẢN MẠN RỪNG VÀ CÂY

By tavansy@gmail.com

 

Năm 10 tuổi tôi theo cha mẹ từ đất Tây Sơn - Bình Định lên với Kon Tum. Cái Tết đầu tiên của tôi ở đây là Tết năm Bính Ngọ (1966). Buổi đầu tiên đặt chân lên miền đất lạ tôi ngơ ngác như chú bê con. Mắt quen cảnh ruộng đồng thôn xóm nơi đồng bằng duyên hải giờ nhìn đâu cũng núi cũng rừng! Và phố xá nữa! Lần đầu tiên tôi nhìn thấy phố. Mà phố Kon Tum khi ấy đã có gì đâu!

          Một dãy phố có nhiều ngôi nhà cổ dọc đường Nguyễn Huệ bên tả ngạn sông Đăk Bla hoang vắng và một dãy phố mới nơi đường Lê Thánh Tôn (giờ là Trần Hưng Đạo). Kon Tum chỉ có thế. Những con đường nhỏ loanh quanh qua lòng phố xá đơn sơ qua các khu dân cư thưa thớt rồi đâm thẳng ra rừng. Rừng gần lắm ngay sát bên mình. Khu vực các phường Trường Chinh Duy Tân Ngô Mây nội thành ngày nay khi ấy chính là những cánh rừng hoang dã nối tiếp đại ngàn qua hướng các xã Đăk Kấm Đăk Blà Vinh Quang... Năm 1968 sau chiến sự Tết Mậu Thân quân đội Mỹ mới san ủi trống trải làm nơi đóng quân bảo vệ phi trường và thị xã.  

Chả bõ bây giờ chẳng còn thấy bóng dáng rừng đâu. Rừng bỏ chúng ta đi quá xa rồi! Sự tàn phá vô ý thức của con người cộng với quy hoạch quản lý lỏng lẻo vô trách nhiệm thiếu đồng bộ của các cấp quản lý quả là ghê gớm. Đôi khi ao ước có phép màu nào đặt để lại một vạt rừng nguyên sơ ngày cũ kế cạnh phố thị hôm nay để thỉnh thoảng được ngắm nhìn chiêm nghiệm hồi ức về Kon Tum một thuở đại ngàn.

          Tôi thường tìm đến và đứng lặng rất lâu trước những tán cây cô độc là những dấu vết còn lưu sót lại của rừng xưa. Ấy có thể là vạt cây cổ thụ gần trường Phổ thông cơ sở Lý Tự Trọng bây giờ với một ít bằng lăng ổ đỉa muồng hoang... Một thời nó là nơi lưu giữ nguồn mạch và toả che cho khu Giọt nước mát trong cung cấp nước ăn cho toàn thị xã. Nay đã bị chặt phá xác xơ và dường như đang chuẩn bị biến thành... phố chợ!

          Ấy có thể là cây si toả bóng sum suê che mát một góc sân khách sạn Quang Trung vươn sang sân Sở Văn hoá trên đường Bà Triệu. Năm 1968 (vừa sau chiến sự tết Mậu Thân) viên Đại tá Tỉnh trưỏng Kon Tum là Nguyễn Hợp Đoàn cho phá vạt rừng tại đây để lập công viên đắp tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ. May sao ông ta cho chừa lại cây si to để làm cảnh quan. Sau này những công sở nói trên lù lù mọc lên cao to hơn nó. Nó đứng ngác ngơ như một chứng tích của rừng. Buồn thay bộ rễ đã không đủ sức chịu trận với những khối bê tông các công trình xây dựng chung quanh nên nó vĩnh viễn mang chút hình bóng cuối cùng của rừng thiêng về đâu khuất bóng!

          Ấy có thể là cây sung bên tường rào Uỷ ban nhân dân Thành phố trên đường Nguyễn Huệ. Đây chính là chứng tích cuối cùng của tên gọi làng Kon H ra (Làng Cây Sung - h ra: cây sung)) gần đó. Hằng năm mỗi độ xuân về cây sung mang lúc lỉu trên mình tầng tầng trái chín đỏ au đẹp mắt. Mong rằng nó sẽ không bị chung số phận như cây si bên đường Bà Triệu! Nói thế vì đã thấy người ta trồng chen bên cạnh gốc cây sung này một cây hoa sữa có phải để thay thế nó không?

          Ấy có thể là cái "cây đôi" quý giá hiếm hoi và lạ mắt bên cạnh bờ sông Đăk Bla lộng gió. Một cây tơ-đáp và một cây si cùng chung một gốc. May sao nó còn giữ lại trong quá trình san ủi để xây kè bờ sông. Ngồi quán cà phê nhìn ra mùa tháng Giêng - Hai hoa tơ-đáp như e lệ nở chúm chím một màu đỏ thắm trên nền trời phản chiếu ánh hồng xuống tán lá si xanh mượt bên dưới. Người lãng mạn tưởng tượng về một chuyện tình diễm tuyệt. Rằng anh chàng Si này không những "trồng cây si" mà đã bạo phổi ôm giữ lấy Nàng Hoa sơn nữ nhập vào nhau làm một không rời!

          Vừa rồi nhờ việc nối dài thêm đoạn phía đông của đường Trường Chinh làm phát lộ một vạt rừng nguyên sinh nguyên là vạt Rừng Thiêng giữ mạch cho khu Giọt nước của làng Kon Kơtu 1. Nó quý vô cùng vì là chứng tích cho một thực thể văn hoá phi vật thể của đồng bào Tây Nguyên. Bây giờ làng đã nhập vào nội thị bà con đã dùng nước giếng nước máy nó còn chỉ là dấu tích của một thời mà những Giọt nước thiêng liêng như thế này đã từng nuôi dưỡng cuộc sống thường ngày và đời sống tâm linh của họ. Nhưng làm sao cho nó không bị mất tích nay mai trừ phi con người có một cái nhìn văn hoá về nó? Đặt vấn đề như vậy vì đã thấy máy san máy ủi đang hì hụi san lấp đến mấp mé khu vực này rồi! Nhớ lần đến huyện Mường Khương - Lao Cai thấy giữa lòng thị trấn nổi lên một ngọn đồi đá nguyên sơ cây cối rậm rạp hoang vu được quây giữ lại. Hỏi ra mới biết đó là dấu tích khu Rừng cấm của đồng bào Nùng ngày trước không được phá bỏ trong quá trình quy hoạch phát triển đô thị. Ước gì khu Rừng thiêng Giọt nước này cũng được như vậy vì nó sát rìa thành phố nay mai có ai muốn tham quan tìm hiểu sẽ không phải tìm kiếm đâu xa...

          Chỉ là vài ví dụ còn nhiều nhiều nữa không thể liệt kê ra trong một bài viết nhỏ. Có lẽ phải có một Ban Thống kê với kế hoạch bảo tồn bảo vệ nếu người ta còn biết quan tâm tâm huyết đến.

          Với thực trạng tên gọi các địa danh như Làng Cây Kơ-nia (Plei T nghia) mà không thấy một bóng kơ-nia Làng Cây Thông (Kon H ngor) không một bóng thông Làng Cây Trắc (Plei Sa) chẳng còn bóng trắc Làng Cây Gạo (Kon K lor) chẳng bóng gạo nào v.v... quanh vùng Kon Tum ngày nay đủ cho thấy "văn hóa rừng" "tâm thức rừng" ngày càng vắng bóng và tàn lụi trong lòng thế hệ hôm nay ra sao!

          Có người ví von những bóng cây chơ vơ còn sót lại kia là "di sản thiên nhiên" là "nhân chứng thời gian" là "vật quý hiếm" v.v... Đều đúng cả! Hàng trăm năm thậm chí ngàn năm mới có được một bóng cây như thế nhất là nó liên quan đến sự hình thành và phát triển của một vùng đất. Ở Ninh Bình khi cải tạo thành phố làm con đường to vào khu thi đấu thể thao người ta định phá bỏ một cây lộc vừng cổ thụ mấy trăm tuổi. Bà con nhân dân cùng nhau đấu tranh quyết liệt để giữ lại. Bây giờ nó nằm gọn ghẽ giữa một vòng xuyến rộng trên con đường to đẹp vòng qua hai bên tạo nên một cảnh quan độc đáo hằng ngày buông bóng mát xuống những chiếc ghế đá che khách bộ hành và hằng năm gửi tặng đất trời những mùa hoa viên mãn.  

Gần đây Đài Truyền hình Việt Nam đưa phát hình ảnh những cây gạo cây đa cổ thụ ngàn năm ở Hà Tây (cũ) bị đốn hạ làm xót xa bao người tâm huyết. Cây có hồn cây. Hồn cây chính là tâm thức tâm linh của con người gắn bó cùng nó ký ức về nó trân trọng với nó. Con người nên có một văn-hoá-cây trong tri thức để biết đắn đo trước khi quyết định phá bỏ một cây nào đó. Cây cối vô tri nhưng không vô cảm chỉ có con người ta đôi khi làm những điều vô cảm đối với thiên nhiên. Nên biết gìn giữ tôn tạo những cây cổ thụ may mắn còn sót lại trong lòng đô thị ngày nay.

          Kon Tum đất còn rộng người chưa đông có thể quy hoạch những "công viên rừng" đặc chủng? Mỗi khu vực sẽ trồng một loài cây đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên. Nhìn cảnh những hồ nước và cây xanh ngày mỗi bị triệt tiêu đi đặc biệt là các cây cổ thụ còn sót lại từ rừng tự nhiên xưa mà lòng xa xót. Khẩu hiệu "xanh sạch đẹp" không có ý nghĩa gì nếu thiếu vắng trầm trọng bóng dáng cây xanh (kể cảcây trồng mới và cây lưu niên).

          Không còn rừng xin giữ lấy cây. Mong sao Kon Tum giữ được nét đặc thù của tên gọi địa danh mang đậm bản sắc địa-văn-hoá của nó để không lẫn vào nơi khác.

          Tạ Văn Sỹ

(Bài đã đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam 2009)

More...

NGHĨ VỀ “KON” VÀ “TUM”

By tavansy@gmail.com

 

Tỉnh Kon Tum thuộc cao nguyên Trung phần nằm ở cực bắc khu vực Tây nguyên Tây giáp tỉnh Xê Công Atôpơ (Lào) và Natarakiri (Kampuchia) Bắc giáp Quảng Nam Đông giáp Quảng Ngãi Nam giáp Gia Lai được thành lập ngày 09-02-1913 sắp sửa tròn 100 năm tuổi.

          Kon Tum tiếng Bahnar nghĩa là "Làng Hồ". (Kon: buôn làng tum: ao hồ). Đây là vùng trũng là thung lũng dọc sông Đăk Bla bên sườn tây Trường Sơn. Do đặc điểm đó mà khi đoàn Thừa sai của Giáo hội Thiên Chúa giáo khi chuẩn bị cuộc hành trình từ Bình Định lên Tây nguyên truyền đạo đã nhận từ Giám mục Kuénot câu chỉ thị: -"Khi nào gặp đồng bằng sông Đăk Bla thì dừng lại"! Với độ cắt chia mạnh của núi rừng trùng điệp thì thung lũng này quả là một... đồng bằng!

Sau nhiều chuyến đi thất bại với thời gian dài gian khó năm 1848 đoàn Thừa sai đã đến được và dừng chân ở khu vực gần 2 làng Kon Tum: Kon Tum Kơpơng nằm trên gò cao (kơ-pơng: trên cao) và Kon Tum Kơnâm ở phía bờ sông (kơ-nâm: dưới thấp). Từ đây đoàn Thừa sai chiêu mộ giáo dân và dân chúng miền xuôi lên khai khẩn định cư. Tên Kon Tum được dùng để gọi chung cho vùng đất này từ khi chỉ là cấp Đại Lý trực thuộc tỉnh Bình Định sau nâng lên thành Đạo và cuối cùng là cấp Tỉnh như ngày nay.

I - "KON"

Bao quanh trung tâm tỉnh lỵ Kon Tum là những buôn làng đồng bào Bahnar Rơngao... Tập quán ngàn đời của cư dân bản địa Tây nguyên là ở nhà sàn. Mỗi buôn làng (kon) là một quần thể nhà sàn. Đấy là nét đặc trưng độc đáo. Theo thời gian nhà cửa cũ nát xiêu vẹo. Bà con khó có khả năng làm lại nhà mới vì nghèo khổ rừng núi đã lùi xa luật cấm khai thác bừa bãi giá cây gỗ lại quá đắt đỏ... nên chỉ làm nổi những căn nhà trệt nhỏ bé tạm bợ thấp liêu xiêu. Bây giờ nhìn vào các kon thấy cảnh vá chằng vá đụp rất thiếu mỹ quan lồ lộ một thực trạng nhếch nhác xộc xệch! Không còn là Kon đúng nghĩa với nét văn hóa truyền thống đặc trưng nữa.

Thiết nghĩ Chương trình 135 rồi Chương trình 30 của Chính phủ là những quyết sách lớn cộng với nguồn đầu tư của địa phương nguồn vận động hỗ trợ "xoá đói giảm nghèo" trong toàn xã hội các quỹ từ thiện... nếu triển khai từ từ mỗi năm một ít tập trung khôi phục từng phần để lập lại nhà sàn mới cho bà con thì diện mạo của hàng chục kon quanh trung tâm tỉnh lỵ bây giờ có lẽ đã không trở thành những xóm dân cư chật chội lộn xộn ô nhiễm! Trước mắt khách tham quan còn đâu nét văn hoá truyền thống miền núi nữa? Vì vậy "Kon" trong địa danh Kon Tum gần như không còn tròn nghĩa mà đã biến dạng thoái hóa hết cả rồi!
   Cũng phải nói rằng Kon Tum vừa qua có một thành tích đáng trân trọng với chủ trương cho phục dựng lại nhà Rông ở hầu hết các buôn làng. Nhưng phỏng còn ý nghĩa gì khi mà bóng nhà Rông hoành tráng cao lừng lững đáng lý ra phải đứng giữa một quần thể nhà sàn đối xứng quây quanh thì nay lại cứ như chơ vơ kệch cỡm giữa một  sân làng mà một nửa thậm chí hai phần ba là những mái nhà trệt lè tè?! 

Nhớ lại có lần về thăm Bản Cò (quê bà Tòng Thị Phóng đương kim Phó Chủ tịch Quốc hội) ngay giữa lòng thành phố Sơn La mà vẫn giữ nguyên mẫu một bản Thái truyền thống kể cả những nhà làm mới thu hút khách du lịch đến rất đông. Ở thành phố Kon Tum hiện nay không còn được một Kon nào đặc trưng như thế nữa! 
II - "TUM"

          Như đã nói là vùng trũng nên quanh khu vực thị xã Kon Tum trước đây có nhiều ao hồ tự nhiên (tum). Tiếc là đến nay trong quá trình lập làng lập phố đã  bị san lấp hết.

          Có thể kể vài ví dụ. Ví dụ cái "tum" ở góc đường Đoàn Thị Điểm - Phan Chu Trinh (quen gọi là Xóm Huế). Không nhớ nó bị lấp năm nào để thành những ngôi nhà to lớn khang trang chỉ còn nhớ màu bông súng tím nơi đây như hãy còn nở rưng rưng trong niềm hoài niệm. Ví dụ cái "tum" ở góc đường Phan Đình Phùng - Trương Quang Trọng trước đây quen gọi là khu Giọt Nước giờ còn đâu hồ nước trong xanh sạch đẹp như khi nó còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho toàn thị xã? Ví dụ cái "tum" nơi ngả ba đường Phan Chu Trinh - Nguyễn Viết Xuân giờ đã trở thành vườn trường Tiểu học Phan Chu Trinh. Một cái "tum" từ lâu được bà con biến thành ruộng rau muống trước cổng chùa Bác Ái đã được quy hoạch làm Công viên nước rất bề thế với quy mô "hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng" mà yếu tố "nước" không đáng kể! v.v...

          Nếu những hồ ao đó không bị tốc độ đô thị hoá tấn công không bị bà con lấn chiếm và nhất là nó được các nhà quản lý quy hoạch kịp thời có Quyết định gìn giữ lại cho nạo vét khơi rộng chỉnh trang thành những hồ nước gắn với một không gian hoa viên (hoặc công viên) thì bây giờ chúng đã là cảnh quan đẹp giữa lòng thành phố là nơi vui chơi giải trí ngoạn cảnh thư giãn của bà con góp phần bảo vệ hệ sinh thái môi trường cho một đô thị đang có khuynh hướng ngày một phát triển đông đúc bức bối.

Có một cái "tum" đặc biệt to rộng nhất đẹp nhất nằm dọc hai bên đường Bà Triệu. Ngày trước gọi Lỗ Lác được một người tên Tâm khai phá nuôi cá nên gọi hồ cá Ông Tâm. Năm 1975 thành ao cá Bác Hồ. Sau được Công ty Cà phê dựng một nhà thuỷ tạ trên mặt nước nên gọi là hồ Thuỷ Tạ và tên gọi này quen gọi đến nay. Nhà Thuỷ tạ được dùng làm Nhà văn hoá Thanh thiếu nhi tổ chức những buổi sinh hoạt văn hoá văn nghệ rất hợp khung cảnh. Đây là cái "tum" duy nhất còn sót lại sau cùng giữa lòng thành phố nên được bà con ví von như là... "Hồ Gươm" của Kon Tum! Ngỡ nó sẽ được bảo tồn chỉnh trang mở rộng thành một công viên trung tâm gồm đủ cây xanh và hồ nước (hai thứ được mệnh danh là "lá phổi" của đô thị). Nhưng không những không được quy hoạch giữ gìn mà còn bị san lấp để xây dựng hai cơ quan công quyền đồ sộ chỉ chừa lại một phần nhỏ  nhìn vào như là ao riêng trong khuôn viên của hai công trình ấy! Thiết nghĩ Kon Tum đâu đã thiếu những khoảng đất cao ráo thoáng đãng đẹp đẽ hơn để ưu tiên cho các cơ quan đại diện cao nhất của mình xây dựng mà phải san hồ lấp ao tiêu tốn nhiều công sức của nả làm vậy?

Như vậy chữ "Tum" trong địa danh Kon Tum cũng đang cùng số phận với chữ "Kon"! Nghĩa là đã vô hình trung mà... mất tích!

III - ĐÔI LỜI...

Mỗi vùng đất mỗi địa danh đều mang ý nghĩa lịch sử hình thành của nó. Nó mang sắc tố địa-văn-hoá biểu thị tính khái quát đặc trưng mà nơi khác không có. Đó là yếu tố tạo nên sự đa dạng phong phú của một quốc gia. Chữ "Kon" chữ "Tum" trong tên gọi Kon Tum cũng nằm trong phạm trù ấy. Khách xa đến đây muốn tham quan chiêm ngưỡng tìm hiểu những kon những tum như là một thứ "đặc sản" đặc trưng của Kon Tum sẽ không tìm đâu ra nữa!

Ở nhiều đô thị người ta trân trọng giữ gìn khơi vét tôn tạo (thậm chí còn tạo thêm mới) những ao hồ để làm cảnh quan đô thị để bảo vệ môi trường đảm bảo hệ môi sinh vì đó là "lá phổi của đô thị". Ở Kon Tum những cảnh quan những "lá phổi" được thiên nhiên ưu ái ban tặng mà những nơi khác không dễ gì có được đã bị "phẫu thuật" hết rồi không biết sẽ "thở" thế nào khi một mai Kon Tum thành đô thị lớn?!

Tạ Văn Sỹ

More...

THƠ “TÌNH” Ở NGỤC KON TUM

By tavansy@gmail.com

 

Năm 1930 thực dân Pháp lập Nhà Đày Kon Tum (nay quen gọi Ngục Kon Tum - Đến cuối năm 1933 thì giải tán) để lưu đày biệt xứ các tù chính trị phạm là những chiến sĩ cách mạng kiên trung có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong quần chúng nhân dân khu vực miền Trung. Ở đây đã từng có những câu chuyện tình yêu đầy nghĩa cả và cảm động giữa những con người trung trinh nghĩa khí. Trong quá trình tìm tòi sưu tập để thực hiện "TUYỂN TẬP THƠ KON TUM 100 NĂM" gặp được tư liệu của Thạc sĩ sử học Vũ Thị Mai. Đó là hai bài viết chi tiết ở đây xin lượt gọn hai mẩu chuyện được lưu lại bằng thơ. (Và cũng xin thưa cái nhan đề trên cũng là tạm đặt để kịp giới thiệu sớm lên trang blog này chứ gọi như thế là chưa chuẩn lắm và cũng chưa được "nghiêm túc" lắm đối với các bậc tiền nhân khả kính):

*Trương Quang Trọng - Nguyễn Thị Du: Trương Quang Trọng sinh năm 1906 tại xã Tịnh Ấn huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1926 đang học năm thứ 2 Y khoa trường Cao đẳng Đông Dương ở Hà Nội thì cùng Phạm Văn Đồng và một số bạn bè khác tham gia phong trào đòi để tang Phan Chu Trinh và đòi ân xá Phan Bội Châu nên bị khủng bố rồi bị đuổi học. Ông về quê vận động thành lập Thanh Niên Cách mạng Đảng tỉnh Quảng Ngãi. Năm sau (1927) tổ chức này sáp nhập với Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ông được cử làm Bí thư Tỉnh bộ đầu tiên. Tháng 5-1929 ông là Đại biểu Kỳ bộ Trung kỳ sang Hương Cảng dự Đại hội Toàn quốc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Ngày 22-5-1929 về nước vận động thành lập An Nam Cộng sản Đảng Trung kỳ và tổ chức Tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi. Công việc đang tiến triển không may vào ngày 19-8 năm này ông bị địch bắt xử 9 năm khổ sai 4 năm quản thúc chuyển từ nhà tù Quảng Ngãi qua nhà lao Qui Nhơn đến tháng 6-1931 thì bị lưu đày biệt xứ lên Ngục Kon Tum. Ở đây ngày 12-12-1931 ông dũng cảm đứng ra phanh ngực trực diện với cai ngục đấu tranh cho toàn ngục không đi làm đường 14 bị bọn chúng tức tối xả súng thị uy bắn chết cùng với 7 đồng chí khác. Lúc này ông vừa 25 tuổi! Cuộc đấu tranh này sau được gọi là ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT! Trương Quang Trọng là người trung nghĩa. Chuyện kể rằng khi người vợ trẻ chẳng may mất sớm trong lúc mang thai đứa con đầu lòng ông đã viết đậm dòng chữ "Biết đâu mà tìm!" đặt lên bàn thờ để tưởng nhớ vợ con. Sau đó trên bước đường hoạt động ông gặp lại bà Nguyễn Thị Du là bạn cũ thời học Ban Thành chung ở Huế và hai người yêu nhau. Mặc dù tình yêu thắm thiết nhưng cả hai vẫn giữ thầm lặng không dám để lộ ra vì sợ bà Du sẽ gặp khó khăn khi có liên đới với người cách mạng. Lúc ở nhà lao Qui Nhơn bà Du đến thăm và tặng ông chiếc áo lót bông chống rét có ấp iu thêu mấy chữ gửi gắm tâm tình. Chiếc áo ấy đã nhuộm đỏ máu đào Trương Quang Trọng vào buổi sáng mùa đông Tây Nguyên ngày 12-12-1931 tại Ngục Kon Tum khi ông ngã xuống trước nòng súng giặc!

 Trong khi tù tội Trương Quang Trọng có viết bài thơ nói lên tâm trạng và tình cảnh của hai người để an ủi người yêu:

"Đôi quả tim này đã kết tinh

Vì chưng nghĩa nước phải lặng thinh

Quân thù đế quốc ghê em nhỉ

Cướp cả non sông lẫn ái tình!".

Ở Quảng Ngãi khi hay hung tin người yêu mất chẳng quản thân gái dặm trường bà Nguyễn Thị Du lặn lội trèo núi vượt non lên Kon Tum viếng mộ. Trước ngôi mộ tập thể 8 người cùng hy sinh trong cuộc ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT chôn ở khuôn viên Lao Ngoài của Ngục Kon Tum bà Du đã xúc động cảm tác bài thơ nói lên tâm tình và chí khí của người nhi nữ trong thời cuộc:

"Nhật nguyệt soi ngời ngọn cỏ xanh

Tám người liệt sĩ chết toàn danh

Máu rơi thêm thắm tình đồng chí

Súng nổ khôn lay tấm nhiệt thành

Xương trắng ai đền ơn đất đỏ

Lòng son ta ấp nấm mồ xanh

Cao trào cách mạng càng lên mạnh

Tạc dạ công người biết tử sanh".

*Lê Viết Lượng - Phạm Thị Trang: Lê Viết Lượng sinh năm 1905 tại làng Cải Lương tổng Phù Lưu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1927 dạy học tại huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh. Ở đây ông được quan Tri huyện Phạm Văn Dương mến mộ gả con gái yêu là Phạm Thị Trang cho. Trước đó Lê Viết Lượng đã bắt đầu bí mật hoạt động cách mạng từ năm 1920 đến năm 1927 thì vào đảng Tân Việt. Sau khi các tổ chức cộng sản họp lại thành lập đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) thì ông được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Thừa Thiên. Ngày 7-10-1930 ông bị địch bắt đến ngày 25-11 năm ấy lĩnh án khổ sai chung thân và tháng 6-1931 thì lưu đày biệt xứ lên Ngục Kon Tum. Sau Cách mạng tháng 8-1945 ông được cử về làm Chủ tịch tỉnh Nghệ An rồi làm Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. (Hiện nay tại khuôn viên Học viện Ngân hàng ở Đống Đa - Hà Nội có đặt một bức tượng bán thân Lê Viết Lượng để tưởng nhớ vị Tổng Giám đốc mẫu mực của ngành Ngân hàng Việt Nam).

Thời gian ở ngục Kon Tum nghĩ mình lĩnh án chung thân sẽ không bao giờ còn về lại được với vợ con ông làm bài thơ gửi về nhà hàm ý khuyên nhủ người vợ trẻ đừng vì thủ tiết với mình mà chôn vùi tuổi xuân xanh nên đi lấy chồng khác bằng không thì nên tham gia làm cách mạng để cứu đất nước dân tộc:

          "Thân đây nghìn dặm bước lênh đênh

Xin mượn hồn thơ gửi chút tình

Vì nghĩa "búa liềm" ra biệt xứ

Nên tình "chăn gối" phải hy sinh

Bách niên đành chịu sai lời ước

Tái giá xin đừng nghĩ chữ trinh

Ân ái nếu còn ghi chút đỉnh

Ra làm cách mạng cứu sinh linh"!

          Bà Phạm Thị Trang đã giữ vẹn tấm lòng trung trinh với chồng và nghe lời khuyên nhủ quyết dấn thân vào con đường cách mạng qua một bài thơ họa lại gửi cho chồng:

"Thương chàng ngàn dặm bước lênh đênh

Nặng gánh bồng tang nhẹ gánh tình

Dù phải chông gai đành quyết tử

Để cho Tổ quốc được hồi sinh

Kìa chàng đã quyết lo tròn nghĩa

Đây thiếp rày xin giữ vẹn trinh

Nhi nữ phen này đà quyết chí

     Thề cùng xã hội trước gươm linh"!


     Hai câu chuyện tình cao đẹp sáng ngời qua bốn bài thơ đầy xúc động đã đủ cho người đời sau thấy rõ hình ảnh một tình yêu đạo lý và nghĩa khí của những con người sống vào một thời lịch sử chưa xa!

     Lê Viết Lượng và Trương Quang Trọng đều là tù nhân của Ngục Kon Tum nên thơ của họ dĩ nhiên phải được xếp vào "dòng văn học" hình thành ở Ngục Kon Tum mà đỉnh điểm tinh thần của phong trào sáng tác này là việc thành lập tổ chức "TAO ĐÀN NGỤC THẤT" ngay trong lòng nhà ngục tại thời điểm ấy.

     Riêng hai bài thơ của hai bà Nguyễn Thị Du và Phạm Thị Trang có lẽ cũng nên được liệt vào chung với nhóm thơ văn này thì mới trọn đạo của người sau đối với lớp người đi trước vô cùng khả kính. Nó xứng đáng có mặt trong các tuyển tập Thơ Văn ở Kon Tum vốn dĩ đã ít oi hiếm hoi mà lại còn... bỏ sót lâu nay!

 

TB: Mong các bạn có biết được tư liệu nào về thơ Kon Tum xin liên lạc về tavansy@gmail.com như "THƯ NGỎ" đã đưa trên trang blog này trước đây. Chúng tôi xin đón nhận và cám ơn.

 

Tạ Văn Sỹ

More...