NGUYỄN XUÂN TƯỜNG

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Sau khi đưa bài "Ai lên Xứ Lạng..." thì có bạn đọc ở Bắc Ninh gọi điện thoại nhắc lại chuyến về chơi xứ Quan họ mà anh bạn nhà văn Nguyễn Xuân Tường có bài "tường thuật" rất chi là tình cảm! Nhắc thì nhớ nhớ thì lục lại và trình ra đây như một kỷ niệm bạn bè.

                            CUỐC XE ĐÊM CỦA NHÀ THƠ TẠ VĂN SỸ

          Còn đang trong hoàn cảnh phải nuôi gia đình khiến khó tin có một ngày vào tháng 12 năm 2004 Tạ Văn Sỹ đã dùng phương tiện xe máy đơn thương độc mã đi từ Kon Tum ra tận Tam Đảo mờ mây rồi ngược Lạng Sơn trập trùng đèo dốc lại vòng về Bắc Ninh làm một cuộc thăm thú bạn bè!...

          Vậy mà điều ấy đã xảy ra! Đầu giờ chiều ngày 12-12 anh gọi cho tôi: -Em đang trên đường từ Lạng Sơn về Quế Võ - Bắc Ninh với anh đây. Anh ở loanh quanh bên máy để làm hoa tiêu cho em khỏi lạc đường!

          Nghĩa là nhà thơ này đã "cô đơn" vượt gần 2.000 cây số với rập rình bao nhiêu tai ương khó nhọc và không ít tốn kém dọc đường để đến đây. Hỏi ra mới biết anh được Hội Văn nghệ tỉnh cấp cho mấy trăm nghìn để đi trại viết thế là cứ việc bổ sung xăng nhớt vào xe và lên đường! Dọc đường thiên lý ấy chắc anh sẽ khó quên những cú phạt không khoan nhượng của cảnh sát giao thông về các tội vượt quá tốc độ cho phép và không đội mũ bảo hiểm! (Khốn khổ! Thì từ xưa đến giờ anh có quen chịu đội cái gì trên đầu bao giờ?!). Hồn trai tráng ưa dọc ngang sông núi còn chưa nguôi trong tâm thức của gã đàn ông đã sắp năm mươi này.

          Thấp thỏm tôi nghe liên tiếp các cuộc gọi: -Em còn cách 80 km... Còn 40 km nữa... Hiện đang ở chân cầu vượt đường 18B rồi. Đi thế nào nữa đây?...

          -Rẽ phải hết vòng cua thì rẽ trái qua cầu vượt dzông thẳng gặp ngã tư thị trấn Phố Mới lại rẽ trái đúng 900 mét...

          -Rõ bắt đầu đây!...

          Tôi đọng trong đầu cái giọng khàn khàn của Sỹ vừa thắt thỏm vừa thơ thẩn trước cửa nhà để chờ đón cả con người và chiếc xe ôm đã lăn bánh dọc khắp ba miền Nam Trung Bắc. Có lẽ nhà thơ đầy bụi bặm giữa đời thường này đang tranh thủ lúc còn sung sức để sống hết mình với "nước non ngàn dặm" và bạn bè làng văn?

          Xẩm tối thì Sỹ tới lặng lẽ giữa dòng người ồn ã. Mấy năm cách xa nay gặp lại trông chàng thi sĩ xứ Tây Nguyên vẫn như ngày nào: Đen và đen nét đen của người dầm gội trong mưa nắng gió mùa nhiệt đới! Vẫn giọng đùa tếu táo Sỹ khoe: Em vẫn khoẻ toàn thân và đen toàn phần! Chỉ có mỗi cái Bossini (ví đựng tiền) là... trắng ruỗng mà thôi!

          Mừng rỡ hỏi han nhau coi như tạm đủ tôi bảo phải vào bàn ăn để nạp lại phần năng lượng đã tiêu hao suốt dọc đường dài vừa qua rồi sáng ngày mai sẽ dẫn sang Thuận Thành thăm chơi nhà Đỗ Công Tiềm (một bạn văn chương cùng đi trại viết năm 2001 tại Hà Nội với Sỹ). Sỹ vẫn thích những cốc rượu quê hơn những lon bia thị thành - Một sở thích có vẻ hợp lý và có phần bắt buột đối với Sỹ. Hỏi lấy đâu ra mà chơi cả điện thoại di động sang vậy? Rằng của thằng con nó loại ra nó cho cả xim nữa thì cứ xài cho nó... hiện đại một tí với thiên hạ chứ!

          Lời nối lời ly cụng ly đang ngà ngà chuyện đời chuyện văn thì Đỗ Công Tiềm gọi tới báo sáng mai có cuộc họp quan trọng của ngành giáo dục không thể vắng được nên muốn tranh thủ gặp Sỹ ngay trong đêm nay. Mà khổ nỗi Tiềm lại cận thị nặng không thể lặn lội vượt 20 km đường đê sông Đuống trong đêm tối trời để sang đây được!

          Tôi hứa với Sỹ sẽ cùng đi đến nhà Tiềm ngay sau khi xong bữa. Tôi nói cứng như vậy là có ý giữ Sỹ lại để hàn huyên tâm sự đêm nay chứ với sức lực của tôi có mang xe cứu thương theo hộ tống thì cũng xin bái dài!

          Đã quá 9 giờ đêm hy vọng với chút men rượu nãy giờ sẽ buột chúng tôi lên giường nghỉ ngơi trò chuyện rồi thiếp đi đến khi tiếng con chim lợn kêu vang sau nhà mỗi sáng thì sẽ trở dậy sang nhà Tiềm sớm. Nhưng lạ kìa tỉnh như sáo Sỹ chào gia đình tôi nhất quyết lên xe bảo anh vẽ đường giúp em đi một mình tốt thôi quen rồi! Gặp được anh rồi giờ gặp Tiềm thăm tí đỡ nhớ bạn bè mai em đi về nơi khác!

          -Đồ đạc chú luộm thuộm thế kia đi đường đê tối tăm vắng vẻ lại nảy xóc nữa nếu không rơi rớt thì kẻ cướp nó cũng không tha! - Tôi ái ngại nói và chỉ vào mấy be rượu bạn bè dọc đường cho Sỹ đang treo lủng lẳng trên xe.

          -Ô ông anh ơi em kinh nghiệm rồi ra đường càng gọn ghẽ bọn trộm cướp nó lại càng chú ý lúc đó muốn giữ cũng không được!

          Sự nhất quyết của Sỹ buột tôi phải chìu theo ý dù trong lòng rất lo vì đường này Sỹ chưa hề đi qua bao giờ. Tôi lấy túi đựng buột lại cái nhóm hành lý "Lý Bạch" cho gọn và đưa Sỹ ra nơi quầng sáng của thị trấn đổ thêm xăng vào xe đề phòng nhỡ cạn dọc đường thì chỉ còn nước mò trên... "mặt đất" (*) mà đi cho tới sáng! Đến một chỗ tối om om thoảng cơn gió mùa Đông Bắc lạnh ngắt tôi rùng mình bảo:

          -Quay lại ngay đi kẻo cả hai cùng trúng cảm bây giờ đây!

          -Anh Hai quay về nghỉ ngơi cho khoẻ đi. Vài chục cây số với em thì nhằm nhò gì mà anh Hai lo!

          -Đừng coi thường! Nhỡ gặp bọn nghiện hút dặt dẹo thì sao? "Bên kia sông Đuống" đâu chỉ có "xanh xanh bãi mía bờ dâu" đâu Sỹ ơi!...

          Sỹ vẫn quyết đi để tranh thủ được gặp bạn trong đêm. Trời cuối tháng của tháng cuối năm âm lịch tối sâu hun hút dọc triền sông gió mùa Đông Bắc thổi về lạnh cóng vắng tanh vắng ngắt bóng Sỹ và xe chìm vào bóng đêm đen kịt độc hành ngược dòng sông Đuống. Tôi đứng lại thẫn thờ tưởng tượng: Gần hai mươi cây số mới tới cầu Hồ rồi còn rẽ trái qua cầu còn phải hỏi thăm nhà giữa chốn đồng không mông quạnh đêm khuya mà nhà Tiềm lại ở cuối chân đê nơi thưa thớt cửa nhà...

          Không an lòng tôi quay về nhà nhấc ngay điện thoại gọi bảo Tiềm có cận thị cách gì cũng phải mò ra ít nhất là đầu cầu Hồ để đón Sỹ. Nửa tiếng sau tôi lại gọi về nhà Tiềm. Chưa thấy tăm hơi. Có sự cố gì không? Tôi tưởng tượng một nhà văn cận nặng lò dò trong đêm tối với một nhà thơ lãng tử đang thả hồn theo thơ Hoàng Cầm se sắt vọng đôi bờ... Không biết đêm nay hai người có được bình an mà gặp nhau không gặp nhau lúc nào ở điểm nào trong đêm trường giá rét?!

          Nửa giờ sau nữa điện thoại nhà tôi reo vang tôi chụp vội ống nghe. -"Ă...n (anh) không phải lo cho bọn em nữa nhé! Lại đang nhậu tiếp nữa đây nè!". Tôi hét lên trong máy: -"Lần sau còn đi như thế này nữa thì Hội Nhà văn sẽ không kết nạp lại nữa đâu nhé! Lỡ mà lao xuống dòng sông Đuống là... hớt (hết) đời đấy nhé!"...

          Vẫn cái giọng nói cười khàn khàn đục đục chân tình: -"Ă... n khỏi lo!".

           Nguyễn Xuân Tường

          (Bắc Ninh 10-01-2005)

(*) Tên một tậo thơ của Tạ Văn Sỹ.

More...

TRỊNH THANH SƠN

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Khuya nay trong lúc chờ hết giờ giải lao giữa 2 hiệp đấu bóng đá châu Âu nằm nghĩ vẩn vơ bất giác sực nhớ hôm nay là ngày mất của nhà thơ - nhà bình thơ Trịnh Thanh Sơn. Lại nhớ năm 2007 có dịp ra Hà Nội ngồi mấy vại bia hơi với nhà thơ Vân Long ở phố Hoàng Hoa Thám anh Vân Long bảo ở gần nhà Trịnh Thanh Sơn. Thế là bèn nhờ anh Long dẫn đến thăm anh Sơn để cám ơn anh ấy có bài viết về thơ mình in trên báo Văn nghệ Trẻ từ năm 2003.  Thì ra lúc này anh Sơn đang bệnh rất nặng. Và cũng đến lúc này anh em mới biết nhau. Xong việc về lại Kon Tum. Vừa chạm chân đến nhà thì hay tin anh Sơn mất! Thế là tiếc nuối vì nếu muộn một vài ngày đã có thể đưa anh về nơi an nghỉ! Nhân kỷ niệm 3 năm ngày mất xin đưa lại bài viết này như cách tưởng nhớ về anh.

THƠ TẠ VĂN SỸ - PHỐ NÚI CÓ MƯA BAY

          Tôi xin mượn câu thơ của Tạ Văn Sỹ để làm đầu đề cho bài viết này: -"Mùa thu rồi phố núi có mưa bay..." (Phố núi mưa thu). Đọc hai tập "Mặt đất" (2002) và "Cõi người" (2003) đều do nxb Quân đội nhân dân ấn hành tôi rất vui mừng vì được gặp thêm một người thơ mới. Tôi chưa được quen biết anh bao giờ nhưng qua thơ tôi hiểu Tạ Văn Sỹ là người thơ có thể chơi dài dài và tin cậy được. Nói thế có thể là vội vàng nhưng dẫu vội vàng tôi vẫn tin bởi người thơ này đã tự xưng trước tôi và bạn đọc: -"Hồn tôi như địa chất/ Tầng tầng trầm tích xưa/ Suốt đời tôi khai quật/ Tìm nỗi buồn ban sơ!" (Có một nỗi buồn).

          Sao lại đi tìm nỗi buồn? Mà lại là nỗi buồn ban sơ kia! Bây giờ người ta đi tìm những cái khác chỉ có các nhà thơ là vẫn đồng thanh đồng hành đồng vọng đi tìm nỗi buồn! Người đời hay quan niệm các nhà thơ là những gã khùng những kẻ ngu ngơ thậm chí là những kẻ bất trị không dạy cho khôn được! Nhưng nếu những định nghĩa về nhà thơ kia là đúng thì cũng cần xem lại cho rành rẽ chứ bởi họ là người một tập đoàn người đông đảo lắm. Họ có mặt ở khắp nơi luôn nâng đỡ nỗi buồn NGƯỜI. Họ luôn đứng về phe nước mắt (Dương Tường) và họ luôn đứng về phía nhân văn nhân bản. Và đây họ có mặt ở Kon Tum tên của họ là Tạ Văn Sỹ - vốn người sinh ra từ Bình Định - Vậy mà nhờ sống ở núi rừng họ viết: -"Sống tràn qua những tuổi/ Ngày tháng tuột sau lưng/ Mắt quen nhìn thấy núi/ Nên hồn xanh như rừng!" (Ở Kon Tum)...

          Rồi từ tình yêu mảnh đất nuôi dưỡng mình họ nhìn ra tình yêu quê hương đất nước: -"Tôi yêu đất nước của tôi/ Yêu mũi thuyền vượt trùng khơi vững bền/... Tôi yêu từ thuở ấu thơ/ Tập quen vẽ bức dư đồ cong cong/ Yêu đau đớn yêu xé lòng/ Lom khom cái dáng lưng còng khổ đâu!" (Tôi yêu đất nước tôi)...

          Khi ngồi viết và viết được những câu thơ như thế tôi tin họ là người tử tế. Người tử tế theo định nghĩa của riêng tôi là người biết yêu mảnh đất quê hương mình yêu đất nước và dân tộc mình không thấy khổ đau mà bỏ chạy tìm phương trời khác sung sướng hơn. Người tử tế cũng là người biết chịu đựng những thua thiệt về mình vì nghĩa lớn vì cộng đồng vì những người khác.

          Thơ Tạ Văn Sỹ có lối diễn đạt chân thực chân thực đến hồn nhiên cái gì yêu anh nói rằng yêu cái gì ghét anh bảo rằng ghét phảng phất cách nói và giọng điệu trong thơ Phùng Quán trước đây. Tuy vậy anh chưa sa vào hay chưa tới được cái nhiệt tâm đến cực đoan của nhà thơ tiền bối. Anh cực đoan có mức độ có điểm dừng nhưng dẫu sao vẫn là cực đoan: -"Em lúc đó nếu đừng ăn trái cấm/ Đừng để lòng cám dỗ bởi gian tham/ Đừng lén chúa lừa tôi tin lũ rắn..." hoặc: -"Và em hỡi chiếc xương sườn tội lỗi/ Đã vì tôi chối bỏ cả thiên thần/ Nếu lần nữa vì em mà phạm tội/ Tôi cũng xin lầm lỗi đến muôn lần!" (Gửi chiếc xương sườn nhỏ của tôi).

          Từ "Mặt đất" đến "Cõi người" thơ Tạ Văn Sỹ càng về sau càng tĩnh. Anh động ở phía mặt đất để tĩnh dần về phía cõi người. Điều đó nhờ vào thời gian nhờ những chiêm nghiệm và nhờ từng trải sống. Và bởi vậy ở tập Mặt đất Tạ Văn Sỹ còn viết những câu thơ nồng nhiệt như: -"Tôi muốn ghì trong ngực máu thanh tân/ Cho tim đập nhịp đời vui dào dạt/ Tôi muốn giữ màu tươi trong ánh mắt/ Với màu non ngan ngát ở trong hồn" (Tự bạch). Đó là những câu thơ phảng phất Xuân Diệu thời tiền chiến kiểu: -"Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"!

          Viết thế cũng hay nhưng có người đi trước rồi nên tự nhiên thấy cũ thấy sáo. Mỗi thế hệ phải có thơ của mình mỗi nhà thơ phải có riêng giọng điệu thơ của mình. Người ta yêu Tây Thi chứ không thích cái bóng của Tây Thi các tiền nhân dạy thế (Tuỳ viên thi thoại). Bởi vậy sang đến tập Cõi người tôi cảm thấy Tạ Văn Sỹ điềm tĩnh và tiết chế hơn. Cũng viết về tình yêu nhưng giọng điệu đã khác: -"Vẫn đấy Hồ Gươm ngăn ngắt liễu/ Hồ Tây vẫn sóng dập dềnh sương/ Lim dim hàng sấu lơ mơ ngủ/ Hoa sữa u trầm lẳng lặng hương" (Giữa lòng thu Hà Nội). Hoặc: -"Những điều bất khả luận/ Lại thường hay nói nhiều/ Càng nói càng luẩn quẩn/ Ví dụ như Tình yêu!" (Tứ tuyệt tình yêu).

          Thơ là nghệ thuật ngôn từ ai cũng hiểu điều căn cốt đó. Nhưng để nâng ngôn từ lên tầm nghệ thuật thì mỗi nhà thơ cầm phải có thời gian và tâm sức. May sao Tạ Văn Sỹ đã hiểu thấu đáo điều này. Bởi vậy trong thơ anh việc sử dụng ngôn từ được chăm chút rất thận trọng với ý thức của "thôi - xao" với sự tự giác về phương pháp tu từ. Chữ dùng trong thơ anh nghiêng về khẩu ngôn dân dã nhưng đầy sáng tạo: -"Đưa người về buổi học chiều/ Mây bay cũng có ít nhiều xót xa/... Đưa người không đưa đường xa/ Lỡ mai đời khuất mất ta mất người!..." (Khúc đưa người).

          Hoặc đây nữa trong một đoạn thơ văn xuôi Tạ Văn Sỹ mô tả thật hay tâm trạng một thi sĩ đáng yêu: -"Hôm qua trằn trọc mãi đến khuya không ngủ được bắt chợp tứ thơ trở dậy chong đèn định viết bỗng trước mắt anh tờ giấy trắng tinh khôi cứ trắng bệch dần ra rồi nhập nhoà nhập nhoà ảo ảnh tờ giấy trắng loang dần rồi phủ cuốn lấy anh anh điếng lặng ngồi yên đành giấu kín bao nhiêu điều trăn trở!" (Thơ tình tuổi ba mươi).

          Đọc những tâm sự và tâm trạng ấy tôi biết rằng Tạ Văn Sỹ là một nhà thơ!

 Trịnh Thanh Sơn

 (Hà Nội 12-2003)

* Bài in trên Văn nghệ Trẻ năm 2003.

More...

ALO! ALO!

By tavansy@gmail.com

 

Chiều nay vừa nhận được điện thoại của nhà văn Đoàn Thạch Biền thông báo nhóm làm TUYỂN TẬP THƠ TÌNH của Đoàn Thạch Biền Lê Minh Quốc Nguyễn Đông Thức... (đã làm các Tuyển tập THƠ TÌNH SÀI GÒN THƠ TÌNH HÀ NỘI THƠ TÌNH XỨ HUẾ...) cho biết đang hợp tác cùng với xí nghiệp Sơn Ca xúc tiến làm tiếp Tuyển tập THƠ TÌNH CAO NGUYÊN. Anh Biền có nhờ Sỹ thông báo và tuyển giúp bản thảo của các tác giả thơ ở Kon Tum để gửi kịp gửi trước ngày 20-10-2010 cho Ban tuyển chọn.

Vậy xin thông báo các bạn thơ ở Kon Tum tự chọn 2 đến 3 bài của mình thấy thích nhất gửi vào địa chỉ email của Sỹ để Sỹ tập hợp và chuyển tiếp cho nhóm thực hiện Tuyển tập. Nhớ gửi từng bài rời để dễ xử lý. Xin nhắc rõ là "thơ tình" và chỉ...  THƠ TÌNH mà thôi!

Theo kế hoạch dự kiến thì Tuyển tập sẽ được tổ chức ra mắt tại thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng vào khoảng tháng 12-2010 trước Giáng sinh. Và cũng theo dự kiến thì các tác giả có mặt trong Tuyển tập sẽ được mời về và được tiếp đón ở Đà Lạt để gặp gỡ giao lưu trong buổi giới thiệu sách.

Mong các bạn mau mắn tham gia.

Tạ Văn Sỹ

More...

AI LÊN XỨ LẠNG…

By tavansy@gmail.com

 

"Ai lên xứ Lạng..." là lời hỏi phiếm định đẩy đưa của bài ca dao xưa "Đồng Đăng có chợ Kỳ Lừa/ Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh/ Ai lên Xứ Lạng cùng anh...". Và bài ca dao ấy đã dắt lối tôi không cưỡng nổi tò mò bèn phi xe máy thẳng từ Kon Tum ra Hà Nội rồi từ Hà Nội dò đường băng tới Lạng Sơn.

Hết đất Bắc Giang địa hình núi đất là gặp Hữu Lũng huyện địa đầu phía nam Xứ Lạng bắt đầu sừng sững những vách núi đá vôi. Đây rồi ải Chi Lăng! Cái địa danh lịch sử đã thuộc nằm lòng hôm nay mới đến! Thật tình Ải không như tưởng tượng của thời thơ bé! So với những truông những hẻm núi Tây Nguyên quê mình thì đây "thoáng" hơn nhiều đâu nhiêu khê hiểm trở bằng? Nhưng có sao đâu giặc Liễu Thăng rơi đầu và bao vó ngựa phương Bắc khác phải chồn chân ngay tại chốn này là đủ!

Đến đầu thành phố gọi điện thoại cho người bạn quen duy nhất. Bạn ra đón đưa về nhà nghỉ nhờ. Thời gian không nhiều nên lên kế hoạch nhanh trong đầu chỉ "khám phá" vài điểm đặc biệt thôi rồi... rút gọn! Đêm đầu tiên Xứ Lạng trong ngôi nhà nhỏ ấm áp thăm hỏi chuyện trò và... nghỉ ngơi! Là do bạn bắt nghỉ ngơi chứ thật tình rạo rực muốn loanh quanh ngay liền tắp lự.

Sáng ra bạn có việc cơ quan nên giao chìa khóa nhà để chủ động việc đi về. Dẹp xe máy đi bộ để nhìn ngắm được cụ thể hơn. Loanh quanh một hồi nơi phố lạ cuối cùng cũng hỏi được đường lên thành Nhà Mạc và hòn Vọng Phu. Biết rằng hòn Vọng Phu thật biểu trưng cho nghĩa tình chung thủy đã bị người đời nay "nung vôi" mất rồi nhưng ngó nghiêng nhìn ngắm cái hình hài đắp lại kia giữa lơ mơ sương sớm cũng thấy lòng mang mang một mối cảm hoài. Không sao cả có còn hơn không nàng Tô Thị trong tâm thức bao người vẫn đấy vẫn là một biểu tượng nhân văn rờ rỡ muôn đời.

Không nhớ leo bao nhiêu bậc đá thì lên được thành Nhà Mạc. Những bậc đá rêu phong và vách núi hoang sơ nhuốm màu cổ sử ít nhiều cũng đưa được trí tưởng tượng quay về mấy trăm năm cũ. Cảnh quan binh xa mã một vương triều thất thế năm xưa như vẫn còn in hằn đâu đó. Nhưng khi đi sâu vào giữa lòng Thành cảnh đào bới xới lật để thi công khu du lịch với quy trình "hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng" (thơ Thế Lữ) của mô hình một công viên thì... buồn quá! Sao thiên hạ lại đang tâm biến một di tích lịch sử thành một công viên kiểu... vui chơi giải trí được nhỉ?!

Vào viếng động Tam Thanh. Luồn lách loanh quanh trong ruột núi cảm cái kỳ bí và kỳ vĩ của thiên nhiên cảm cái nhỏ nhoi của thân và kiếp con người giữa bủa vây trùng trùng huyền tích. Động Nhị Thanh ở kề bên. Cả một quần thể di tích lịch sử và thắng cảnh thiên nhiên như tạo thế liên hoàn. Quả không hổ danh Xứ Lạng!

Trên đường tha thẩn trở về ngắm núi Phai Vệ một di tích lịch sử với lá cờ đỏ tung bay trên chóp đỉnh như vươn với trời xanh. Ngang qua chiếc cầu nhỏ mới hay đây là sông Kỳ Cùng đã bao người đề vịnh. Con sông ương bướng không chịu theo tập quán sông ngòi của cả nước đổ về Đông mà một mình một cõi xuôi theo phương Bắc!

Trưa bạn rủ đi huyện nhân có chuyến xe công tác của cơ quan. Thì đi! Đến điểm cuối cùng của Lạng Sơn rồi quay về dần. Đây là Tràng Định. Có 7 con suối đổ về đây nhập với Kỳ Cùng nên gọi Thất Khê. Nếu đi quá nữa là Đông Khê - Thạch An của tỉnh Cao Bằng. Nhớ rồi trận Thất Khê - Đông Khê trong chiến dịch Biên giới năm xưa đã củng cố địa bàn chiến lược quan trọng! Quay ngược lại là Văn Lãng chật hẹp phố xá lấn chen cùng núi đá. Quay ngược nữa rẽ vào chơi cửa khẩu Tân Thanh. Một khu chợ ngờm ngợp hàng hóa lọt thỏm dưới chân những vách núi cao dựng đứng che ngăn trời biên giới. Chợ Việt trên đất Việt mà nhiều người Trung buôn bán quá! Nghe toàn một giọng tiếng Việt lơ lớ! Quay ngược tiếp là thị trấn Đồng Đăng. Ngu ngơ hỏi chợ Kỳ Lừa? Thì ra ngày xưa vùng này gọi là Phủ Đồng Đăng. Phủ Đồng Đăng có chợ Kỳ Lừa cách Phủ 30 cây số. Sau này khi lập tỉnh Lạng Sơn thì thủ phủ của tỉnh chuyển về phía chợ Kỳ Lừa. Đồng Đăng thành đơn vị hành chánh thuộc tỉnh... Thế thì tối nay về lại thành phố phải đi chợ Kỳ Lừa thôi! Xuôi khỏi Đồng Đăng một đoạn bạn chỉ tay vào vũng rừng xa xanh bãng lãng sương chiều bảo ải Nam Quan ở đó cột km 0 đường Một ở đó nhưng tối muộn quá rồi phải về thôi! Tiếc! Chợt nhớ vu vơ những vần thơ tiêu sái của bao bậc cổ nhân đã từng ngẫu chiếm nơi ải quan lịch sử này.

Đêm dạo chợ Kỳ Lừa. Là đi cho thỏa lòng "khám phá" chứ có vì bán buôn mua sắm gì đâu. Biết thêm chợ Kỳ Lừa chủ yếu sống động về đêm tấp nập bán buôn suốt sáng. Sà vào một quán ăn. Bạn gọi rượu. Rượu Mẫu Sơn. Và vịt quay đặc sản. Thế là ngồi nhấm nháp cái... cảnh sắc chợ đêm! Khuya lắc khuya lơ tha thẩn ra về trong cơn ngâm ngấm rượu và... ngấm cả cái lạnh tháng Chạp lịch âm của núi rừng ải bắc.

Sáng ra bạn lại bận việc cơ quan. Một mình xách xe lần đường đi Mẫu Sơn. Đến Cao Lộc đường bắt đầu lên cao hun hút. Đèo núi cheo leo những nóc nhà lác đác ẩn chìm nơi lưng chừng núi cheo leo thấp thoáng những bóng áo chàm tha thẩn dọc đường hay bên những vạt nương cũng cheo leo như treo vào vách đá!

 Nhớ chừng này năm trước đỉnh Mẫu Sơn có tuyết rơi. Xem phóng sự trên Truyền hình thích quá! Mong hôm nay cũng vậy vì đã hai mươi tư tháng Chạp rồi mà! Rạp mình với gió núi ạt ào như muốn xô nhào xuống vực đẫm mình trong sương giá mịt mù đến cay nhòe nước mắt lạnh cắt da tím thịt một người phương Nam vốn chưa quen với cái rét nơi cực cùng xứ Bắc! Rồi cũng lên đến đỉnh. Tuyết năm nay không rơi! Không tuyết mà cũng chẳng thấy được gì ngoài mịt mờ sương gió giăng phủ cỏ cây bị ảnh hưởng sương muối đã hắt hiu vàng! Thì có sao đâu vẫn là xứ Lạng!...

Vừa về đến nhà thì được người bên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh đến mời cơm trưa giao lưu với Hội! Được gặp gỡ quen biết thêm bè bạn mới ngoài người bạn duy nhất mấy hôm nay. Cuộc vui chan hòa tình văn nghệ và ấm tình người miền núi. Say ngất ngư ngật ngưỡng rượu Mẫu Sơn! Anh chị em giữ lại song nhất quyết ra về. "Ta đi nhưng biết về đâu chứ/ Đã dấy phong yên lộng bốn trời"! (thơ Nguyễn Bính).

Con xe máy cà tàng và men rượu Mẫu Sơn bâng lâng đưa tôi về đến Hà Nội khi Thủ đô đã rực rỡ hoa đèn. Ơ thế là mình vừa được lên xứ Lạng!

                                                                                                                           Tạ Văn Sỹ

More...

CUỐI TRỜI ĐÔNG BẮC

By tavansy@gmail.com

 

*LỜI THƯA: Đang đà ngon trớn viết lại hồi ức và cảm xúc những chuyến "giang hồ vặt" thì "vớ" được chuyện "hi hữu" PNT bèn "cao hứng" đưa ra để bàn dân thiên hạ biết thêm chuyện một "thiên tài"  khiến bị... "cụt hứng" mất tuần lễ! Có bạn đọc bảo "Đã có Văn học giả tưởng Văn học viễn tưởng rồi sao không có thêm khái niệm... hoang tưởng" nhỉ"?! Thôi không "bình loạn" nữa trở lại với chuyện mình thôi. Xin tiếp tục những mảnh nhỏ hoài niệm riêng. Mong các bạn có phát hiện gì chưa đúng chưa chuẩn trong những dòng hồi tưởng ở các bài viết xin góp ý giúp để hạn chế sai sót (vì hoàn toàn viết theo trí nhớ). Xin được cám ơn trước.

Nói cuối trời Đông Bắc là nói về Móng Cái điểm tận cùng của tỉnh Quảng Ninh (xưa là xứ Hải Ninh).Tính từ Hà Nội đi đường bộ mất chừng 400 cây số. Nửa đường thì tốt nửa còn lại đoạn từ vùng Mông Dương qua Tiên Yên Đầm Hà Hải  Hà... đường bắt đầu hẹp xấu ngoằn ngoèo men theo đồi núi quanh co dốc đèo. Thế mà khi sắp đến Móng Cái lại bất ngờ mở ra một vùng rộng bằng thoáng đãng lồ lộ vẻ phong nhiêu.

Buổi tối ngồi thư giãn bên bờ Ka Long hóng gió lắng nghe con sông nhỏ rì rầm thầm lặng dưới sâu. Nhưng trên bờ thì loang loáng phố đêm ở cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc. Vẩn vơ chợt nghĩ có phải từ cái eo biển tận cùng vịnh Bắc Bộ này chính là nơi hình thành một mùa gió lạnh trong năm gọi là Gió mùa Đông Bắc? Và có phải những ngọn gió ấy đã đi vào đất liền xứ Bắc đi vào thơ nhạc văn chương đẹp một màu tiêu sái cổ kim cũng là khởi thủy từ đây?

Trong buổi sớm mai trời bắt đầu chớm một mùa Gió mùa Đông Bắc mới rời trung tâm thành phố theo đường đi Trà Cổ chừng 15 km thì ra đến một nơi mà đã về đây không ai không đến ấy là mũi Sa Vĩ. Đây chính là nơi người Việt Nam nào cũng đều phải chấm ngòi bút xuống đó để làm điểm bắt đầu khi vẽ cái hình chữ S cong cong thân thuộc của bờ biển trên bản đồ Tổ quốc mình.

Đưa mắt dõi sang bên kia vụng nước biển ngầu ngầu của cửa sông Bắc Luân đổ ra và vạt rừng mắm xa xanh nơi ấy là xã Giang Bình của đất nước Trung Quốc mênh mông. Giang Bình gồm 3 đảo nhỏ Vạn Mị Mú Thàu Sơn Tâm và thôn Trúc Sơn nguyên thuộc Việt Nam xưa. Năm 1887 theo Nghị định ký kết giữa Nhà Thanh và Chính phủ Bảo hộ Pháp lấy chính giữa dòng chảy sông Bắc Luân chiếu thẳng ra biển để phân chia ranh giới thì Giang Bình ném về phương Bắc! Từ bấy đến giờ bà con ở đó vẫn mãi lưu câu nói truyền đời "Dân Trà Cổ Tổ Đồ Sơn" để luôn nhớ mình nguyên là người Trà Cổ gốc từ Đồ Sơn (Hải Phòng) ra khai khẩn định cư.

Theo tay bạn chỉ ngóng sang phía xa kia là Mũi Ngọc nơi bóng núi canh chừng bến tàu thủy chạy về Nam. Mũi Sa Vĩ và Mũi Ngọc là hai điểm nhấn ở hai đầu Trà Cổ. Ngay địa điểm này một tấm bảng xây cách điệu ngọn dương 3 chóp lá núp dưới bóng rừng dương vi vút gió ghi đậm câu thơ hào tráng của Tố Hữu: "Từ Trà Cổ rừng dương/ Đến Cà Mau rừng đước...". Cũng tại đây Xuân Diệu cảm xúc bằng nỗi lòng đau đáu: "Sa Vĩ là đây kia Mũi Ngọc/ Bao giờ ta đến mũi Cà Mau?"! Vâng đứng tại nơi đây dẫu cho có là... "thương nữ bất tri vong quốc hận" cũng khó mà không rưng lòng một cảm khái thiết tha về Tổ quốc về thống nhất Bắc Nam! Ước gì đi được sẽ lội bộ từ đây theo dọc dài trên 3.200 km bờ biển thẳng tuột một lèo đến Mũi Nai (Hà Tiên) tận cùng miền Tây Nam Tổ quốc! Tố Hữu Xuân Diệu chỉ nhắc mũi Cà Mau vì đó là điểm cực nam chứ bờ biển ta còn đi vòng đến tận Mũi Nai giáp Kampuchia mới dứt.

Cũng không ai có thể bỏ qua mà không loanh quanh dưới những tán bàng cổ thụ để dạo thăm làng Trà Cổ xưa và Đình làng Trà Cổ. Đình Trà Cổ được xây dựng từ thời Hậu Lê đã trên 600 năm tuổi cổ kính bề thế uy nghiêm giữa không gian thoáng đãng. Gần đấy là Chùa Vạn Linh Khánh cũng trên 600 năm. Nhà chí sĩ Phan Bội Châu trên đường xuất bôn Đông Du đã từng ghé qua chùa này và còn lưu lại đôi câu đối.

Dừng chân bên sông nhánh Lục Lầm nhỏ như con suối. Đây là nhánh nhỏ của sông Bắc Luân. Nhớ vừa mới năm nào tại đây bên bờ Nam này bà con kiên cường đấu tranh quyết liệt để dành lại một nửa bãi Tục Lãm "rộng" vừa bằng... cái sân vận động (!) nằm giữa dòng chảy mà lân bang chỉ một đêm xây hẳn một con đập to nắn dòng hòng chiếm trọn! Ở đây mỗi tấc đất (vâng mỗi tấc đất - không nói quá đâu!) đều ghi đậm ghi sâu dấu ấn đấu tranh của truyền đời dân tộc!

Ghé đồn Biên phòng số 3 tức đồn Sa Vĩ đồn đầu tiên của chuỗi biên phòng Việt Nam vì tất cả được tính thứ tự từ Móng Cái trở đi. Trên đất liền bắt đầu bằng số lẻ 3 5 7... Ngoài biển đảo là số chẵn bắt đầu từ 4 6 8... (Không có 1 và 2). Anh em chỉ cho thấy đường biên nơi triền núi xa xa choải dần xuống đầm lầy ven biển. Bước tuần tra bảo vệ biên cương của các anh lúc nơi khô ráo khi thụt sâu vào bùn đất quê hương!

Ra chơi Cửa khẩu. Bên ta gọi là Móng Cái bên bạn gọi Đông Hưng. Cửa khẩu nằm kề ngã ba sông Ka Long và Bắc Luân. Sông Ka Long chảy vào đất Việt đến đây rẽ một nhánh nghiêng nghiêng về bắc nên gọi Bắc Luân. Nơi rẽ nhánh là Ngã ba Xoáy Nguồn. Bắc Luân đổ ra vịnh Bắc Bộ nơi mũi Sa Vĩ. Cửa khẩu tấp nập người qua kẻ lại đông vui. Ở đây người ta giao lưu giao dịch với nhau cả tiếng Trung và tiếng Việt! Chiếc cầu giới tuyến bắc ngang sông được kẻ vạch chia đôi. Cặp cột mốc biên giới số 1369 được cắm gần đầu cầu ở cả hai bên. Sông nhỏ quá nên đứng bên này nhìn sang thị xã Đông Hưng của Trung Quốc thấy và nghe rõ mồn một những sinh hoạt phố phường bên kia tưởng như gần gũi lắm! Ngôi đền Xã Tắc thiêng liêng đang được xây dựng lại ngay tại nơi đây để khẳng định chủ quyền "Nam quốc sơn hà Nam đế cư"...

Ngày về không theo đường bộ nữa mà đi đường thủy cho thành... một vòng khép kín! Ra cầu tàu nơi Mũi Ngọc cô bạn văn trẻ chỉ đảo lớn trước mặt giới thiệu đấy là Vĩnh Thực một đảo đẹp hùng vĩ của Móng Cái nơi cô có trên 10 năm dạy học. Anh bạn thơ "già" chỉ về phía phải khoe làng Vạn Ninh quê anh một vùng đất cổ khác của Móng Cái đã hình thành từ mấy trăm năm... Móng Cái còn nhiều điều để biết tiếc là mình chẳng ở được lâu chỉ một thoáng lãng du để ngấm hồn đất nước!

Tàu rẽ sóng phăm phăm ngang vịnh biển Vân Đồn trên 600 đảo núi trực chỉ Hạ Long. Đẹp không thể tả! Thảo nào ngày xưa Nguyễn Trãi có thơ đề vịnh: "Vân Đồn san trùng san"! (Vân Đồn núi tiếp núi)! Đúng vậy giăng giăng trước mắt là một "rừng" núi đứng  san sát nhau giữa biển trời vô tận như trận đồ địa võng thiên la để cho Trần Khánh Dư vùi sâu trên trăm tàu binh lương Trương Văn Hổ thuở kháng Nguyên Mông!

... Nhớ về Móng Cái nơi cuối đất cùng trời Đông Bắc diệu vợi xa xăm mà sao thân thương quá đỗi. Ơi cái nơi "đứng mũi chịu sào" gánh nhiều sóng gió của cả thiên tai và địch họa! Ơi cái nơi bắt đầu của những con Gió mùa Đông Bắc mang mang!...

*(Viết tặng anh Thiềm em Thúy)

Tạ Văn Sỹ

More...

CHUYỆN CỦA MỘT… THIÊN TÀI!

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Sau khi đọc bài "Chuyện người ảo mị văn chương" trên blog của tôi  có người bạn gửi cho một email chuyển tiếp "lời kêu oan" của một người đang chịu nhiều... o ép oan ức! Thấy hay hay xin cóp nguyên xi đưa lên đây để bạn bè cùng biết về một "thiên tài" của đất nước ta đáng ra phải được giải... Nôben!


--------- Thư đã chuyển tiếp ----------

Từ: Thái Ngọc <ngocthai194qt@ymail.com>

Ngày: 02:23 Ngày 01 tháng 9 năm 2010               

                                                                          

Nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI                                                

 

            Hữu Thỉnh  - Chủ tịch HNVVN thực ra cũng tầm thường tiểu nhân   không cao thượng. Tôi gửi tới mọi người các toà báo các tổ chức có liên quan về văn học nhất là với thơ ca - Hai bản "Tuyên cáo": Hy vọng rằng rồi đây chân lý sẽ sáng tỏ!

     Nhà bình thơ Phạm Khải trẻ tuổi có lần nói với tôi rằng: "Không ai người ta lại phong thi hào cho anh lúc còn đang sống"! Nào tôi đâu có đòi hỏi vậy? Chuyện đó rồi sẽ có thế nhân!...Nhưng các ông ấy ăn lương của Quốc gia hưởng nhiều bổng lộc của quốc gia... thì không thể có cách cư xử nhỏ mọn cố tình dìm lấp một nhà thơ như thế được.

     Sau khi tôi cho xuất bản tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM & biếu tặng -  Tôi  hỏi về sự nhận xét tác phẩm - Trong  một sáng mùa xuân dưới mái hiên của HNVVN ( tại 9 Nguyễn Đình Chiểu HN) chính Hữu Thỉnh đã nói: Anh vĩ đại rồi! 

       Nhà văn Cao Tiến Lê cũng khen hết lời.   

      Còn nhà thơ Lê Đình Cánh thì đánh giá: Phạm Ngọc Thái đã đi trước các nhà thơ đương đại của HNVVN 4-50 năm!

      Người bạn thơ Nguyễn Quang Thiều của tôi cũng rất ca ngợi: Tập thơ rất tuyệt!

      Nhà thơ đồng thời là nhà bình luận "Chân dung & đối thoại" Trần Đăng Khoa  đã từng phát biểu: "Phạm Ngọc Thái - Một thiên tài cô độc!".

     Vào một buổi cùng ngồi uống bia nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thủ đô) đã nói với tôi: "Đúng là anh có cả một thế giới thơ riêng! Nhưng... số anh không may!".

       Không may có nghĩa là sao? Là sẽ có nhiều kẻ ghen ghét đố kỵ... tìm cách dìm lấp chăng? - Thế thì phải mượn cụ Nguyễn Du một câu thơ mà chiêm nghiệm rằng:

                     Chữ tài đi với chữ tai một vần

      Hay là phải ngửa mặt lên trời mà than như Tố Như:

                     Bất tri tam bách dư niên hậu

                      Thiên hạ hà nhân..."có khóc ta"?...

      Nhưng anh Bằng Việt là ai nhỉ? Cũng một tầm bậc có tên tuổi đương thời. Trong lĩnh vực báo chí văn chương... quyền hạn có kém gì Hữu Thỉnh? Thế đấy!...

      Chẳng thế mà nhà thơ Chử Văn Long - Khi tôi chuẩn bị cho xuất bản tập thơ "Rung động trái tim" ấy anh nói: "Ông cẩn thận kẻo chúng hơi hóng biết được... chúng sẽ đâm chọc với NXB sẽ phá - Ông khó mà xuất bản"!

     Thực tình tôi đã phải lẳng lặng mà làm... cho đến khi tập thơ xuất bản trót lọt xong rồi! Cầm tập thơ rất đẹp trên tay tôi biếu anh phải thốt lên : Đúng là... thượng đế đã không cắt hết đường ai!

     Tôi bảo: Đúng thế - Trời hại thì mới sợ chứ... người hại thì không sợ!

      Để rồi xem mây mù có thể che lấp được bầu trời mãi hay không?                    

 

                  Sau đây là nguyên văn hai bản tuyên cáo đó!

 

Nhà thơ Phạm Ngọc Thái 

Lên án những gian tà                                             

           

                                 Gửi ông: Hữu Thỉnh

                                             Chủ tịch  HNVVN

                                        Cùng Ban chấp hành HNVVN                                                                                                           

                                                                   

          ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (II)

       Sau đơn phản bác (ĐPB) đầu tiên tôi đã gửi tới các ông các Viện và trong Hội Văn học từ ngày 15/1/2010 - Trong ĐPB.II này tôi không nói lại cái việc mà các ông cùng ban bệ đã có dã tâm cố tình dìm lấp tôi!...mà chỉ muốn nhắc với các ông một số điểm như sau:

1/- Nếu các ông gạt bỏ được sự vị kỷ nhỏ mọn của con người: 

      Có tổ chức đánh giá tập thơ Rung động trái tim (RĐTT) tôi đã cho xuất bản tại NXB Thanh niên 2009 vừa qua -  Tôi tin:  sự vô giá của tập thơ sẽ không còn chỉ của riêng tôi mà nó sẽ là tài sản của cả nền văn học quốc gia.

      Tôi xin khẳng định lại: Tập thơ RĐTT không chỉ là một tập thơ sâu sắc và tầm vóc nhất so với hàng nghìn các tập thơ đã xuất bản từ 1975 đến nay mà nó còn là một tập thơ hay độc đáo của cả nghìn năm văn hiến Thăng Long.

    Thì trong Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long đó chẳng phải là thành quả quí báu của nền thi ca đối với nước non hay sao? Trong đó các ông là những người lãnh đạo cầm cân nẩy mực... vừa tỏ ra cao thượng và có trách nhiệm chí ít cũng của một giai đoạn thơ ca trong đương đại nước nhà. Đằng này các ông chỉ giỏi kiếm bổng lộc quốc gia - Chỉ sợ PNT này vượt lên trên mặt tức là vượt lên trên chân dung các ông!

2/-Các ông định cứ lơ đi ư? Các ông định tâm "để lâu cứt trâu sẽ hoá bùn" ư?

         Nếu các ông tìm mọi cách để phủ nhận bới móc hay thoá mạ lên các tình thơ trong tập RĐTT - Thì đồng thời cũng chính là dịp cho mọi người sẽ xô vào để  đọc nghiền ngẫm và thưởng thức... lập tức thế giới bên trong các tình thơ của tôi sẽ trở nên bất hủ kỳ diệu ngay!.... Đó là nguyên lý của loại thơ tồn tại thơ hay và sâu sắc điển hình của tập thơ RĐTT. Trong Tuyển thơ đại bàng (TTĐB) của tôi có đến cả trăm bài tôi đã đạt được sự viên mãn như thế!

      Như tôi đã nói trong ĐPB.I (xin xem lại - có lưu kèm theo với văn bản này) rằng: Tập thơ RĐTT dám nói là có thể đem so sánh với tầm vóc thơ bà Hồ Xuân Hương một trong ba thi hào dân tộc của nước nhà.  Đấy tập thơ tôi đang cho công bố: ai cũng có thể đọc và phán xét nó ai cũng có thể cào xé hoặc bôi xấu nó - xem có thể dập vùi nổi nó không? 

       Tập thơ "Rung động trái tim" chính gốc đẹp và dầy 200 trang đã được xuất bản ấy (chứ không phải là tập thơ mỏng nhỏ tôi trích ra photo ít bài quảng bá) - Riêng các nhà lý luận phê bình hay các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học  thì PNT xin biếu tặng còn với quảng đại văn nghệ sỹ và công chúng... tác giả có thể bán để còn có khả năng mà tái bản tiếp - Ai muốn mua liên hệ với nhà thơ qua ĐT 01683024194 Email phamngocthai48@yahoo.com.vn gửi thư hoặc đáo qua thăm nhà. 

3/-Vào mùa thu năm Giáp Thân (2004) tôi đã gửi tới ông Hữu Thỉnh cùng ba Viện một bức thông điệp dưới dạng viết ngỏ -  

       Hồi đó còn gọi ông là Tổng thư ký Ban chấp hành HNVVN. Trong bức thông điệp đó có đoạn tôi đã viết:

      "... Nhìn chung TTĐB của tôi là loại thơ muôn tuổi thứ thơ thuộc ngôn ngữ thi ca triết học. Rất nhiều các bài thơ hay hoặc khá hay vào hàng đẳng cấp thơ của mọi thời đại. Từ thơ tình tới thơ đời tuy chắt ra từ trong đời riêng tác giả nhưng đều mang nỗi nhân quần thế thái tính xã hội sâu xa...".

      Và tôi còn nhấn mạnh:

      "Tôi xin sẵn sàng diễn trình: đọc thơ bình luận và phân tích - về TTĐB nói chung (cụ thể là với tập thơ RĐTT này mà tôi tin là đã đạt đến đỉnh thi sơn) trên cơ sở những bài thơ hay và kiệt tác - Trước tất cả các nhà văn nhà thơ các nhà lý luận phê bình các tiến sỹ giáo sư thạc sỹ hay các viện sỹ văn học trong toàn quốc trên đại sảnh của HNVVN... bằng phong cách tuỳ hứng của một thi nhân!".

       Hôm nay tôi vẫn xin nhắc lại với các ông điều đó.

4/-Cũng trong bức Thông điệp năm Giáp thân ấy có đoạn tôi đã viết: 

    " Khi xưa Hàn Mặc Tử vì lâm bệnh hiểm nghèo đã mất sớm ở Gành Ráng lúc đó thi nhân cũng chỉ mới xuất bản được một tập Gái quê - Ông Trần Thanh Mại là một nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Huế đã lên tận nơi mà thi nhân tạ thế thu lượm từng trang bản thảo viết tay lúc sống thi nhân đã sáng tác bị vương vãi trong dân. Để sau này (vào năm 1988) - Nhà thơ Chế Lan Viên (CLV) đã biên tập trọn vẹn "Tuyển thơ Hàn Mặc Tử" và xuất bản cho Người cũng lưu giữ lại cho nền văn học của nước non.

     Trong lời đề tựa cho tuyển thơ chính CLV đã từng đánh giá: Hàn Mặc Tử (HMT) anh là ai? - Ông đã khẳng định: Mai sau những cái tầm thường mực thước biến tan đi không còn nữa và còn lại của cái thời kỳ này một chút gì đáng kể đó là HMT!... Và lời tiên tri của ông đã đúng HMT chính là một thi nhân lớn nhất thời tiền chiến"! Còn các ông diễn văn và miệng nói thì có vẻ nhân văn đấy mặc dù làm việc quốc gia... nhưng tấm lòng và trái tim nhân đạo thì chưa bằng một nhà văn như Trần Thanh Mại của thời kỳ thực dân phong kiến cũ.

5/-Tôi đã định tìm cách gửi tập thơ Rung động trái tim đi thế giới để tham dự giải Nobel!

      Nhưng khó khăn lớn nhất chính là công việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài. Hơn nữa vấn đề dịch thơ nó đòi hỏi không chỉ ngoại ngữ giỏi mà trình độ chuyên nghiệp dịch tác phẩm văn học phải cao

      Nếu được HNV với tư cách quốc gia đứng ra đảm nhận việc đó thì chắc không phải là việc quá khó. Nhất là vừa qua (vào ngày 5/1/2010) ông Hữu Thỉnh có tham gia một Hội nghị mang tính Quốc tế để mở rộng việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài - gồm các nhà văn nhà thơ và các dịch giả từ 32 nước trên thế giới đến nước ta - Tôi thiết nghĩ: Một tập thơ với giá trị như tập RĐTT có lẽ cũng xứng đáng để được HNV quan tâm làm điều đó.

      Ở Ấn Độ - Đại thi hào Tagore   chẳng phải Người đã được giải Nobel cũng chỉ bằng tập thơ Lời dâng đó thôi!

6/-Tôi viết tiếp ĐPB (II) này còn mang theo mục đích:

      Mai sau khi lịch sử nghiên cứu về tôi sẽ hiểu sâu sắc hơn - Nhà thơ đã phải sống trong một đương đại mà những chân dung thi ca của ta hạn chế thế nào? Nhất là thực chất khuôn mặt thật của những người cầm cân nẩy mực trong HNV đối với  nền thi ca đó như các ông... thì lòng dạ tâm địa đã cư xử với Người ra sao?

      Nói đi rồi nói lại: Đại thi hào Uýt-Man nước Mỹ trong buổi đương thời Người chẳng cũng đã từng phải chịu cảnh dập vùi thoá mạ của bao phường văn sỹ nhỏ nhen đó hay sao?... Những tầm bậc siêu nhân thường phải gánh chịu "nợ đời" chẳng phải chỉ riêng tôi!

    Hoài Thanh đã từng viết trong Thi nhân Việt Nam khi Người bình bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên rằng: Một thiên kiệt tác một bài thơ hay cũng đủ để lưu danh!... Huống chi cả tập thơ RĐTT dám nói là trang trọng và bất hủ có cả chục bài thơ hay và kiệt tác - Tôi tin rằng: Rồi đây cùng với bao nhiêu thiên tuyệt tác nữa trong Tuyển thơ đại bàng của tôi lần lượt được xuất bản nó có khả năng để tạo nên cả một "vạn lý trường thành" của thi ca mà sừng sững đến muôn năm. 

                                                                               Viết tại đất Thăng Long                                                                     

                                                                                     NGƯỜI PHẢN BÁC

                                                                                               (đã ký)

                                                                                            Phạm Ngọc Thái

* Sao gửi đến ba Viện và lưu vào lịch sử                          

 

               Xin xem tiếp ĐƠN PHẢN BÁC (I) - tức là ĐPB đầu tiên đã gửi tới                Ban chấp hành HNVVN  vào ngày 15/1/2010 - nguyên bản như sau:

               Gửi: Ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội nhà văn                                                      

               Cùng ông Vũ Quần Phương Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)                                                      

 

                              ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (I)

 

         Tôi - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái hiện trú ngụ tại ngõ 194 (số 34) phố Quán Thánh Hà Nội.

A- PHẢN BÁC I/.

Việc làm thiếu trong sáng thuộc vào nhân cách đạo đức (của ban bệ nào hay do các ông chỉ đạo thì tôi không biết?) - Theo như cách xử sự mà tôi nhìn nhận trong những năm tháng qua tôi cho rằng rất thiếu trách nhiệm và cả nhân tâm đối với một nhà thơ như tôi. Như đã cố tình dìm lấp trong đợt xét duyệt vừa qua nhằm gạt bỏ người xin vào Hội. Tôi chỉ biết rằng trong hàng trăm nhà thơ xin vào HNVVN năm 2009 này đều có danh sách (xem công bố của HNV trên mạng internet) riêng tôi bị ỉm đi. Cá nhân tôi nhận định: Đó là một sự hèn kém thậm chí là thiếu liêm sỉ của những người có cương vị  trong công tác văn học (riêng về thơ ca). Sự chưa được nhân đức đó không thể chấp nhận được.

B-  PHẢN BÁC II/.

Thực tình do tâm dạ luôn muốn hướng tới lòng nhân hòa của con người dẫu có tồi tệ hơn thế tôi cũng sẽ chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng với tôi các ông tư cách là những người có trách nhiệm quốc gia   tâm linh tình cảm cùng khát vọng là nhà thơ với nhau. Tất nhiên là số vận của các ông thì đã được hưởng bổng lộc quá nhiều chứ không "chó ăn đá gà ăn sỏi" như tôi - làm như thế... thì có lẽ là nhỏ mọn. Để tự cứu mình tôi buộc lòng phải lên án! Như nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có lần nói với tôi: "Phải tự cứu mình thôi Thái ạ!".

    Đi vào ngay việc cụ thể tôi xin nói về chân dung thơ tôi! Như trong lá đơn gửi Hội nhà văn (do nhà thơ Bằng việt và anh Phạm Đức giới thiệu) tôi đã viết - Đến nay tôi đã cho xuất bản 3 tập thơ:

            - Có một khoảng trời NXB Hà Nội 1990.

            - Người đàn bà trắng NXB Thanh niên 1994.

            - Rung động trái tim NXB Thanh niên 2009.

     Tôi xin tập trung nói về "Rung động trái tim" là tập thơ tôi mới cho xuất bản trong năm 2009 vừa rồi. Vì trên giấy tờ tôi nói thẳng ngay vào những ý chủ chốt - Còn tất cả những gì cần hỏi... khi các ông hay là Ban chấp hành HNV tổ chức: cần gì tôi sẽ giải thích thích gì tôi sẽ chiều.

            1/-"Rung động trái tim" (RĐTT) là một tập thơ hay hiếm có độc đáo và thi phẩm có giá trị tầm vóc cao đối với thi ca hiện đại nói riêng cũng như của nền thi ca trong nghìn năm văn hiến Thăng Long nói chung.

-Về độ dày của tập thơ là 200 trang số lượng bài thơ thì ngót 50 bài. Nghĩa là số lượng bài thơ đã xuất bản trong tập ấy cũng tương đương với số bài thơ (cũng gần 50 bài) của bà Hồ Xuân Hương (HXH) để lại cho đời. Sở dĩ tôi dẫn chứng cụ thể với HXH là để nói rằng: Về độ hay và tầm vóc trong chân dung tập thơ RĐTT của Phạm Ngọc Thái (PNT) - chưa dám nói là vượt lên trên chân dung thơ HXH nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi! Mà HXH là ai thì các ông đã biết: Bà là một trong ba thi hào dân tộc! (xem trong tuyển văn luận "Ba thi hào dân tộc" của Xuân Diệu - NXB Văn học) - Tại sao tôi dám nói như thế?

a/-Tập thơ RĐTT của tôi cơ bản là thuộc loại thơ trường cửu thơ tồn tại qua mọi thời đại.

Số bài thơ đạt khá hay trở lên cũng nhiều.

 Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay?

Tôi đưa ra đây vài ví dụ cụ thể:  Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan Điếu thu của Nguyễn Khuyến Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay! Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá trường cửu đó. Theo con mắt thơ của tôi: trong những nhà thơ lớn thời tiền chiến Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất - Ông có 3 bài thực sự được gọi là thơ hay như tôi đã điểm trên. Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT) mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi...   

Thế mà chỉ riêng trong tập thơ RĐTT: Số lượng bài thơ hay đã khoảng chục bài nếu kể từ khá hay trở lên thì phải trên đôi chục bài - Nghĩa là chỉ tính riêng những bài thơ hay trong tập tôi đã vượt gấp 3 lần thơ hay của thi nhân HMT là nhà thơ lớn nhất thời tiền chiến. Trong đó ít bài còn có giá trị của những kiệt tác tôi đã đạt đỉnh thi sơn cao hơn ông! Tập thơ RĐTT tôi đã cho xuất bản rồi còn đó! Những bài thơ đó sẽ còn tồn tại mãi với đời. Không thể phủ lấp dập vùi được! Cứ càng đọc càng đào xới lên... càng sâu sắc càng hay. Cho nên có thể nói rằng: Tập thơ RĐTT là một thi phẩm có chân dung loại cao chí ít cũng sánh với tầm vóc của chân dung thơ HXH.   

b/ Tôi xin đặt giải và thách đố:

Nếu có ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ năm 1975 đến nay kể cả các tập thơ đã từng được giải nhất của HNV hoặc do có điều kiện tốt đẹp nào đó mà đã được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định) - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập thơ RĐTT của tôi - Thì PNT xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy phải có bình luận phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó cụ thể bao nhiêu bài thơ hay - là những bài nào? Về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? Đó có phải là những bài thơ có khả năng đạt giá trị bất hủ thơ của mọi thời đại

     Dám nói là sẽ không thể có một tập thơ nào XB từ năm 1975 đến nay tầm vóc cao được như thế đâu! Bởi lẽ nếu có một nhà thơ nào đó sáng tác được một tập thơ hay và cao hơn tập RĐTT tôi cam đoan chắc chắn người đó sẽ trở thành đại thi hào!... Và dám nói kể cả kẻ có con mắt nhìn ra giá trị của tập thơ đó phải là một thiên tài... có khả năng thẩm định thi ca ít nhất cũng cỡ Hoài Thanh - Người đã từng làm nên một Tuyển "Thi nhân Việt Nam" bất hủ truyền đời.  

  2/-Tại sao lại nói: Phạm Ngọc Thái sẽ là nhà thơ vĩ đại nhất VN !?  

  Nói "sẽ là" có nghĩa: rồi trước sau thời đại cũng như lịch sử sẽ xác nhận như thế! 

    Với Tuyển Thơ Đại Bàng 500 bài mà tôi đã cho công bố toàn bộ (kể cả lời bình) trên mạng internet qua Web. của Việt Nam Thư quán (vnthuquan.net - Trang Diễn đàn - Danh mục Tác giả người Việt). Tôi cũng đã rút ra một số lớn gần 400 bài đóng tuyển cẩn thận gọi là: Quyển I - Tuyển thơ đại bàng! Để gửi biếu một số nhà thơ như: Ông Hữu Thỉnh Vũ Quần Phương Bằng Việt Trần Đăng Khoa... GS. Mã Giáng Lân đồng thời gửi biếu lưu ở Viện Văn học VN Hội nhà văn VN Khoa văn trường Đại học Nhân văn Quốc gia v.v...  Tôi từng nói với Trần Đăng Khoa rằng tôi thường lấy Nguyễn Du để so sánh với chân dung thơ của mình - Thực ra tôi tin là tôi đã vượt qua Nguyễn Du rồi!...

     Nguyễn Du vĩ đại thật Người là thánh thơ thật (với Kiều thể thơ lục bát... còn tôi cũng như Chế Lan Viên thuộc loại thơ tự do hiện đại) - Nhưng lịch sử thi ca không phải cứ đến Nguyễn Du là dừng lại? Nếu cứ cho rằng: Tôi đã vượt qua Nguyễn Du đi thì "Hậu sinh khả úy"... điều đó cũng có gì là trái với tự nhiên đâu! Sở dĩ tôi dám nhận định như vậy cứ biết thế đã để rồi lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có thể đưa ra vài nhận định được tóm tắt cơ bản như sau:

   a/.Ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở Kiều của Nguyễn Du chính nằm trong nỗi kiếp đoạn trường theo thuyết bản mệnh của Kinh Phật - Đời sống Thế giới có thiên mệnh! Con người có bản mệnh!

  Song Vũ trụ và Cuộc sống có cả duy tâm lẫn duy vật. Nghĩa là tuy duy vật chưa thắng và cũng không thắng được duy tâm!... Nhưng vẫn có "nhân thắng thiên" như thế giới có cả vô thần cùng hữu thần. Tình yêu và cuộc sống xã hội... luôn chứa chất tính triết học đa dạng và rất sinh động! Chính trong Tuyển thơ của tôi nhất là trong các bài thơ hay đã chứa bọc được cả thế giới trong nó mà tạo thành vũ trụ thơ ca - Chứ nó không hạn hẹp ở một chủ thuyết cố định. Nghĩa là thi phẩm phản ảnh tất cả những gì của thế giới đã có với tình yêu và cuộc sống con người!

    b/.Trong Tuyển thơ Đại Bàng 500 bài đó - số lượng các bài thơ hay và kiệt tác hàng chục nhất là nếu tính từ các bài thơ sâu sắc khá hay trở lên - Tôi đã đạt được đến mức độ khổng lồ hàng trăm. Cũng như tôi đã nói: Nó đã tạo nên tầm vóc của một vũ trụ thi ca! Lịch sử của nghìn năm văn hiến Thăng Long chưa từng có một thi nhân nào đạt được nhiều thơ hay và kiệt tác như thế! Còn nghìn năm sau có hay không thì tôi không biết?

    "Kiều" của Nguyễn Du bất hủ thật hay thật vĩ đại lắm!...nhưng tác phẩm của Người chưa mang tính của một vũ trụ thi ca.

c/.Về nghệ thuật : Kiều của Nguyễn Du viết theo thể lục bát - Thơ Đường dĩ nhiên đạt độ mẫu mực hay tuyệt vời! Ông là một Đại thi hào.

     Còn thơ tôi thuộc loại thơ tự do hiện đại:  Một số lượng thơ không nhỏ tôi đã  hòa quyện giữa sự sâu sắc của dòng thơ cổ phương Đông - Với các trường phái thơ lãng mạn tượng trưng và cả siêu thực... của thơ hiện đại thế giới - Làm nên rất nhiều các bài thơ hay và kiệt tác!

     Hiện nay tập thơ Rung động trái tim do NXB Thanh niên 2009 ấn hành tôi vẫn dành một số tập. Các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học các nhà lý luận phê bình cũng như các Hội văn học tỉnh thành trong nước - Nếu muốn tham khảo có thể liên hệ gặp gỡ -  tác giả xin biếu tặng.

                                                                          Viết tại đất Thăng Long

                                                                              Ngày 15/1/2010

                                                                             NGƯỜI PHẢN BÁC

                                                                                          (đã ký)

                                                                                      Phạm Ngọc Thái

 

* Sao gửi đến ba Viện: Viện Văn học VN Viện Ngôn ngữ học

     Quốc gia và Viện Văn hóa dân gian - để biết.

* Văn bản này sẽ được công bố rộng rãi trong Hội văn học

    và lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét.

                                                                                                                                                                                                         

    Hai bản tuyên cáo trên đã được gửi tới Ban chấp hành HNVVN cùng nhiều nhà văn nhà thơ... có tên tuổi trong đương đại đồng thời cũng đã được gửi đến các ông viện trưởng viện phó & các phòng ban của Viện Văn học Việt Nam Viện Ngôn ngữ học Quốc gia - và rộng rãi trong Hội Văn chương báo chí.

 

    Tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM tuyệt vời của PHẠM NGỌC THÁI

                                         Xem ở đây:

                 http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=625782                          

               Muốn biết ông HỮU THỈNH

        - Chủ tịch HNVVN ăn cắp thơ thế nào?

                                xem ở đây:

            http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=270021 

          NHỮNG CÁ NHÂN TỔ CHỨC HAY NXB NÀO MUỐN

           COM MĂNG XUẤT  BẢN TẬP THƠ "RUNG ĐỘNG

       TRÁI TIM" SÂU SẮC & RẤT HAY  NÀY... ĐỂ BÁN

          (xuất bản lần đầu hạn chế - chưa có bán ra thị trường)

         XIN LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ QUA ĐIỆN THOẠI

              DĐ 01683024194 HOẶC EMAIL

        (Tác giả sẽ biếu các Quý vị một quyển thơ do NXB Thanh niên

                               đã xuất bản để tham khảo) 

More...

MỘT CHUYẾN TÂY NAM

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Như đã thưa ở các bài trước tiếp tục kể chuyện những chuyến đi xin có bài này.

          Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức chuyến tham quan miền Tây Nam Bộ cho một nhóm nhà văn hội viên là người dân tộc thiểu số phía Bắc.

          Chạm chân đến bến phà Cần Thơ cảnh sắc mênh mang của dòng sông Hậu như điểm nhấn bắt đầu mở ra một vùng sông nước! Dừng lại Cần Thơ giao lưu với Quân khu 9 đêm giao lưu với Hội VHNT. Chan hoà tình bạn tình văn. Đêm Tây Đô không dám ngủ sớm vì sợ... phí một đêm đầu tiên ở phương nam bèn rủ nhau lang thang thưởng thức đặc sản chè bưởi rồi tấp vào quán cóc ven đường gầy cuộc nhậu. Sáng viếng đền thờ Phan Văn Trị người bút chiến với Tôn Thọ Tường bằng 10 bài họa thơ "Tôn phu nhân quy Thục" thể hiện chính khí và lòng ái quốc lương dân. Tiện đường tham quan chợ nổi Cái Răng nơi bến Ninh Kiều. Háo hức với cảnh lênh đênh sông nước và vồ vập với vô vàn các loại cây trái miền Nam...

Trên đường đi Cà Mau tạt ngang Sóc Trăng tham quan Chùa Đất Sét Chùa Dơi. Ngước trật ót ngắm nhìn hàng trăm hàng nghìn chú dơi to hơn nắm tay chúc đầu treo lủng lẳng chi chít trên tán rừng bao quanh chùa mà ngạc nhiên đến toét cả mắt!

Đến Cà Mau đã 7 giờ tối. Được Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp đãi. Lúc này nhà văn nữ trẻ Nguyễn Ngọc Tư và BTG vừa có sự cố "trục trặc" một tí qua tác phẩm "Cánh đồng bất tận". Anh em kháo nhau liệu có mặt Tư ở cuộc gặp này không? Không thấy Tư! Thì ra hôm nay đúng ngày giỗ Mạc Cửu - người khai lập vùng đất Hà Tiên - là cụ tổ bên ngoại của Tư nên Tư về bên ấy. Bật điện thoại gọi Tư bảo em đang trên đường về lại Cà Mau đây hẹn sáng mai gặp nhé.

Sáng ra nao nức đi thăm Đất Mũi điểm chót cùng Tổ quốc. Ngồi trên xuồng bay vun vút rẽ sóng nước sông Gành Hào những ánh mắt miền núi phương bắc như giãn căng hết đồng tử ra trước lạ lùng sông nước phương nam. Có cảm giác được đi chuyến đi dài vạn dặm này là bằng bước chân của mấy ngàn năm ông bà mở cõi! Cái bước chân mà... "Đến lúc chết kẽ chân còn lấm đất"! (Thơ Trần Đăng Khoa). Nghỉ dưới chân tượng đài cách điệu con tàu ra khơi nơi mỏm Mũi liền nổ ra cuộc bình thơ... đểu (!) hai câu thơ Xuân Diệu "Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau". Rằng sao vừa mới bảo "tàu" lại hạ ngay xuống "thuyền"?! Mà cái tượng đài biểu tượng này đích thị là mũi tàu chứ phải thuyền đâu!

Ngồi trên mỏm đất tận cùng đất nước thi sĩ dân tộc Thái Lò Cao Nhum tức cảnh sinh tình bèn "phun" ra: -"Không đi không biết đường xa/ Đi rồi mới thấy  dưa cà... mau thâm"! "Lão" Lò chơi chữ từ tên gọi Cà Mau thì đây cũng là một địa danh khác: Cần Thơ: -"Không đi đâu thấy đường gần/ Đi rồi mới biết cái cần... thơ ta"!

Lại một đêm giao lưu "hết cỡ" với bạn văn nơi chóp cùng Tổ quốc.

Hôm sau qua mấy lần phà mới xuôi được về Rạch Giá. Lại được đón tiếp trong phong cách nồng nhiệt chân tình của anh em Hội VHNT Kiên Giang. Chỉ tội cho nhà văn nữ trẻ Nguyễn Thị Diệp Mai đang có việc ở Cần Thơ cũng phải lật đật đáp xe chạy ngay về gặp gỡ. Lại một đêm phương Nam chênh chao theo sóng nước.

Viếng đền thờ Nguyễn Trung Trực người anh hùng của lời nguyền lịch sử: "Khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam nước Nam mới hết người đánh Tây"! Định đi Phú Quốc nhưng giá máy bay cao quá bèn hẹn đến Hà Tiên sẽ đi tàu thủy. Kế hoạch bị... phá sản bởi khi đến Hà Tiên gặp ngày biển động tàu không ra khơi! Thế là lỡ hẹn với "hòn ngọc phương nam".

Trên đường về Hà Tiên đến vùng Kiên Lương giữa mênh mông đất bằng bất ngờ nhô lên ngọn Hòn Đất "nguyên mẫu" "Hòn đất" của nhà văn Anh Đức. Tưởng tượng bóng dáng chị Sứ còn phảng phất đâu kia. Trong xe bỗng râm ran tiếng xì xào: -"Ôi núi kìa nhớ núi quá!". Thì ra dân miền núi vắng núi mới mấy ngày đã... nhớ núi đã... thèm núi rồi! Đến đây đã lát đát thấy núi phía giáp Kampuchia.

Ở Hà Tiên đoàn viếng khu mộ và nhà thờ Mạc Cửu người lập nhóm tao đàn "Chiêu Anh các" một tổ chức văn chương rất sớm ở miền cực tây Nam Bộ. Thăm nữ sĩ Mộng Tuyết và nhà thờ thi sĩ Đông Hồ tác giả "Hà Tiên thập cảnh" khiến khách phương xa càng yêu Hà Tiên hơn qua những vần thơ tiêu sái. Tham quan cửa khẩu Xà Xía nơi năm 1979 bọn Pôn Pốt tràn sang giết hại gần 200 người dân vô tội.

Hôm sau đi An Giang. Qua ngả Bảy Núi rẽ về Châu Đốc viếng đền Bà Chúa Xứ. Hội VHNT cho sang Cù lao Ông Hổ thăm khu tưởng niệm Bác Tôn. Tối giao lưu đờn ca tài tử tuyệt vời đậm đà Nam Bộ. Nhớ lại có lần một mình giang hồ vặt về đây gặp mùa nước nổi gần như suốt ngày ngồi xuồng với bạn bè lênh đênh trên nắng dưới nước dưới mênh mang một sắc trời màu trứng sáo nhậu "quắc cần câu"! Phải về phương Nam này đúng mùa nước nổi mới thấy hết "hương vị" của nó.

Về ngang Đồng Tháp. Viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc. Tiếc là không đến được khu sinh thái Tràm Chim và di tích cách mạng Xẻo Quýt theo lời mời của Hội VHNT. Về Mỹ Tho. Quá gấp gáp nên cũng chỉ kịp ghé thăm Hội VHNT và ra bờ sông Tiền tham quan Rạch Gầm - Xoài Mút nơi vua Quang Trung đại thắng quân Xiêm. Tối đoàn đến Bến Tre. Ở nơi nào cái tình bằng hữu văn nghệ cũng đậm đà... khó quên!

Ở Bến Tre đoàn đi viếng nhà thờ cụ Nguyễn Đình Chiểu khu tưởng niệm bà nữ tướng Nguyễn Thị Định. Đất phương Nam mênh mông nên bà con ta đã dành để lưu dấu và tưởng niệm các danh nhân bằng những khu đất rộng rãi thoáng đãng... vô tư đi! Định về thăm quê nhà thơ liệt sĩ Lê Anh Xuân nhà thơ Chim Trắng và nhà văn Trần Kim Trắc nhưng bị... vỡ kế hoạch! Không biết cái vụ bể kế hoạch này có phần đóng góp của các "đại ca văn nghệ" ở đây hay không khi cho uống rượu Phú Lễ đến... hết còn thấy "dáng đứng Bến Tre" đâu nữa cả!

Thế là một vòng khép kín miền Tây Nam. Tiếc là còn "để sót" Long An Vĩnh Long Trà Vinh Hậu Giang Bạc Liêu. Một "phát hiện" nho nhỏ nơi miền "viễn tây" là ở bất cứ một công viên hoa viên nào dù lớn nhỏ dù của tư nhân hay công cộng đều có cụm tượng TRÂU! Một con hay cả đàn. Đấy là biểu tượng đặc trưng cho nền văn minh nông nghiệp của xứ sở được mệnh danh là vựa lúa của cả nước này.

Suốt chuyến đi nhà văn trưởng đoàn Đào Thắng vì cái bụng phệ nên thỉnh thoảng phải xốc lại quần cho khỏi... tụt! Bèn có thơ rằng: -"Trưởng đoàn Đào Thắng cũng gay/ Lâu lâu lại thấy thò tay kéo... quần"! Còn phó đoàn Dương Thuấn lại có cái thú dị kỳ là dọc đường hễ thấy chỗ nào có bày bán chuối là bắt tài xế dừng lại để mua! Mà xứ cây trái Miền Nam ở đâu không thấy chuối! Do vậy có thơ rằng: -"Phó đoàn Dương Thuấn cũng vui/ Thấy đâu có chị bán... chuồi (chuối) xuống ngay!". Thông minh và sắc sảo nhà văn Cao Duy Sơn thỉnh thoảng đế vào những câu những ý trái khoáy hóm hỉnh góp cười bèn nhận được "thơ": -"Duy Sơn văn sĩ họ Cao/ Góp nhiều ý kiến... " tào lao" nhất đoàn"!...

Ấy là những... "sáng tác" tại chỗ! Chắc chắn từ chuyến đi nhiều ấn tượng cảm xúc đặc biệt này những tác phẩm hay sẽ được bắt đầu.

*Tái bút: Trong chuyến đi ngẫu hứng được 2 bài có thể gọi là... thơ xin đưa kèm bài viết cho... vui!

CHƠI MÙA NƯƠC NỔI Ở TÂY NAM

                                  "Con đi mẹ dặn câu này

                                    Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua"

                                                                           (Ca dao)

Đã mùa nước nổi rồi em

Biết đâu lối lội mà tìm thăm nhau

Anh về trời đổ mưa mau

Đồng không sông rộng trắng màu nước lên

Lần qua sông Hậu thăm em

Vừa hay người đã sang bên sông Tiền

Ngẩn ngơ anh quẩn quanh tìm

Lênh đênh xuồng lạc khắp miền Tây Nam

Mênh mang những xẻo những vàm

Những kênh những rạch biết làm sao đây

Cầm như lỡ chuyến đò đầy

Tìm em anh vội sang ngày sông sâu!

Phải lòng câu "Lý thương nhau"

Mà anh như cá mắc câu giữa dòng

Nước rong còn lúc nước ròng

Gặp em anh biết còn mong lúc nào?!...

VỀ ĐẤT MŨI

Đã đến nơi rồi ơi Phương Nam

Trời Phương Nam này đất Phương Nam

Ở đây tất thảy mênh mang quá

Người Phương Nam và tình Phương Nam

Áp bàn chân ấm lên Đất Mũi

Ngóng về Lũng Cú vọng xa xăm

Để có chuyến đi dài vạn dặm

Ông bà đã bước mấy ngàn năm

Về đây tĩnh lại hồn viễn xứ

Trầm bước phiêu bồng ta lắng nghe

Trong rì rầm sóng Phương Nam ấy

Có tiếng ngàn nơi nhắn vọng về


Về nghe đất quặn mình sinh nở

Với rừng "mắm trước đước theo sau" (*)

Xưa đi mở đất nay... đất mở

Rộng dài xa mãi mũi Cà Mau.

(*) Phương dao Cà Mau.


Tạ Văn Sỹ

More...

MỘT VÒNG TÂY BẮC

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Tiếp theo bài trước xin có bài này cũng chỉ là ghi lại vài kỷ niệm nhỏ của những chuyến lãng du đầy ngẫu hứng.

Trại viết bế mạc anh em về lại Hà Nội tôi một mình từ huyện Mường Khương nơi duy nhất của nước ta giáp ranh với cả hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc về thành phố Lao Cai. Từ Lao Cai vượt dốc Ô Quy Hồ đến Sa Pa mộng mị như nàng sơn nữ ngủ trong sương. Lại từ đây theo quốc lộ 12 thẳng đường... "tây tiến"! Ngang qua Thác Bạc như rút từ ruột trời xanh tuôn xuống thì gặp đèo Hoàng Liên cao ngui ngút. Leo đến đỉnh đèo là hết đất Lao Cai bước vào địa phận Lai Châu. Giữa trập trùng núi cao vực sâu Tây Bắc bất ngờ hiện ra một Bình Lư - Tam Đường phẳng rộng đất đai màu mỡ ruộng vườn cây trái sum suê không khỏi ngỡ ngàng!

Năm 1991 tỉnh Lai Châu cũ được tách đôi. Phần phía nam sông Đà thành tỉnh Điện Biên thành phố Điện Biên Phủ là tỉnh lỵ. Phần phía bắc sông Đà là tỉnh Lai Châu mới. Thị xã Lai Châu cũ thuộc về Điện Biên được đổi tên thành thị xã Mường Lay. Phần đất nằm giữa huyện Tam Đường và huyện Phong Thổ vốn là nơi "sơ tán" của Phong Thổ thời kỳ chiến tranh biên giới trước đây được chọn làm nơi đặt "đại bản doanh" cho tỉnh Lai Châu mới cho nên thị xã Lai Châu bây giờ gần như được hoàn toàn xây dựng mới. Bên cạnh cái "dở" là sinh sau đẻ muộn lại được có cái hay của nó!

          Ngày tôi đến chỉ vừa sau 4 năm thành lập nên trước mắt là cảnh tượng một... đại công trường! Nhà cửa hàng quán của thị dân đua nhau mọc lên cao thấp đủ kích cỡ kiểu dáng màu sắc... Cái nào trông cũng bề thế hiên ngang. Đường sá cầu cống được làm mới nắn sửa to rộng thậm chí có đường rộng đến 58m nên được gọi luôn tên là Đường 58! Tất cả khu đô thị đều được quy hoạch đang chờ mọc lên những công trình quy mô hiện đại. Tiếng ầm ào của các loại xe tải của máy cơ giới bụi khói mịt mờ trong những ngày nắng gió và bùn đất lầy lội sau những cơn mưa... Tất cả đang trộn lẫn vào nhau làm thành một mớ bòng bong. Nhưng đấy là tất cả những điều đang nói lên rằng nay mai một đô thị mới tinh khôi bề thế đẹp đẽ sẽ xuất hiện nơi cuối trời Tây bắc xa xôi.

          Với địa thế núi đồi sông suối có độ chia cắt mạnh ở đây thì thị xã Lai Châu lại đúng vào một nơi tương đối thoáng. Phía đông là rặng Pu Sam Cáp ba tầng uy nghi như ngoái nhìn một Tam Đường trù phú phía tây là rặng Pu Ta Leng trùng điệp duỗi dài về Phong Thổ nhiêu khê. Đứng trên đỉnh dốc cao nhìn vọng sang sẽ thấy hai dáng núi này châu tuần về trung tâm thị xã như thế rồng chầu hổ phục! Lai Châu - Tây Bắc của vùng Tây Bắc đầy ấn tượng và quyến luyến!

Theo đường 12 chạy dọc sông Nậm La qua huyện Sìn Hồ đến bờ sông Đà chia đôi tỉnh cũ. Cầu Hang Tôm bắc ngang sông đưa về thị xã Mường Lay. Chiếc cầu mới đang rộn rã thi công nghĩa là chiếc cầu sắt Hang Tôm cũ kỹ chứng tích của thời gian và lịch sử này sẽ đi vào quá vãng! Mường Lay cũng đang là một... "đại công trình" nữa trong quá trình di dời định canh định cư lòng hồ thủy điện Sơn La! Dọc đường về thành phố Điện Biên Phủ các bản nhà sàn người Thái dọc theo các sông suối triền đồi là những bức tranh đẹp đặc trưng miền Tây Bắc.

Ở phía Lai Châu còn thấy núi đá vôi ở Điện Biên đã bắt đầu có nhiều núi đất và cũng ít gặp ruộng bậc thang. Núi đất ở đây cảnh sắc gần giống Tây Nguyên. Ở kìa vừa thoáng nghĩ đã thấy trên triền núi xa xa phất phơ một vạt cúc quỳ vàng lưa thưa làm xôn xang nỗi nhớ! Điện Biên còn "giống" Kon Tum quê tôi điểm nữa là cùng nằm ở ngả ba biên giới. Điện Biên: Việt-Lào-Trung Kon Tum: Việt-Lào- Kampuchia!

Quanh co hết con đèo cao có tên Cò Chạy bất ngờ mở ra trước mắt một cánh đồng Mường Thanh ngút ngàn. Ai chưa đến đây sẽ không thể nào tưởng tượng ra được cảnh có một "đồng bằng" thực thụ trên núi non trùng điệp! Thảo nào mà có câu truyền "Nhất Thanh nhì Lò tam Than tứ Tấc" để nói về bốn cảnh mường Tây Bắc!

Chưa phai ngỡ ngàng ấn tượng Mường Thanh lại là quần thể di tích lịch sử của chiến thắng Điện Biên "chấn động địa cầu". Đứng bất cứ nơi đâu trên đồi A1 nóc hầm Đờ Cát đồi Độc Lập hay Nghĩa trang liệt sĩ... lòng người đều bâng khuâng một cảm khái tráng ca một hoài niệm xa xăm về một thuở anh hùng đã trở thành huyền thoại.

Đường về Sơn La gặp đèo Pha Đin. Con đèo cao ngút trời đang trong thời kỳ sửa chữa và làm mới nên cũng nhiêu khê như... ngày xưa đi kháng chiến! (Nay chắc đã đẹp hơn rồi). Vẩn vơ nghĩ sao đèo cao thế này mà Tố Hữu viết "Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô anh hò chị hát"? Chắc là vì vướng phải cái phép "tiểu đối" trong làm thơ (dốc để đối lại với đèo) nên nhà thơ đành phải gọi đây là "dốc" mà thôi! Tiếc là ở Sơn La không được lâu chỉ kịp thăm nhà tù với cây đào Tô Hiệu thăm bia khắc bài thơ vua Lê Thái Tổ trên chênh vênh triền núi thăm đại công trường thủy điện Sơn La... rồi về xuôi. Ngang cao nguyên Mộc Châu xứ bò sữa lại bắt gặp hoa cúc quỳ vàng rưng rưng trong sương mơ và hiu hiu gió lạnh. Lại nhớ Tây Nguyên mặc dù cúc quỳ ở đây không dày đặc như ở quê mình. Ngang Hua Tát cảnh đẹp hoang sơ vẩn vơ tự hỏi không biết lúc trước Nguyễn Huy Thiệp dạy học ở đây ngồi ở đâu nơi này mà viết "Những ngọn gió Hua Tát" "Muối của rừng" "Tướng về Hưu"... hay đến vậy?

Còn mải miên man với... những ngọn gió Hua Tát đã thấy Mai Châu - Hòa Bình! "Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"! (Quang Dũng). Rẽ về Mai Châu thăm bản Lát của nhà thơ dân tộc Thái Lò Cao Nhum. Đêm bản Lát nồng nàn hương rượu núi với tiếng hát điệu xòe... làm nghiêng ngả hồn say. Đường về qua dốc Thung Khe sà vào những mái lá ven đường ăn ngô luột bà con bán dọc dài như chợ. Lạc Sơn Tân Lạc đẹp vô cùng với quần thể núi đá vôi như tranh thủy mặc vẽ chốn bồng lai. Rẽ vào Kim Bôi suối khoáng vào Đồng Thếch thăm khu mộ cổ hoang tịch tiêu sơ của một dòng tộc quan lang... Biết thêm ở bản Mường Bình Thanh nay vẫn còn tục "tắm truồng" bên mó nước! Hòa Bình lùi tuột phía sau lại lách núi luồn rừng để... "qui hồi cố quận"!

Đến cuối Lương Sơn như được chui ra từ núi bất ngờ mở toang trước mắt cảnh sắc ruộng đồng Bắc Bộ của Hà Tây (nay là Hà Nội). Ngoảnh nhìn rặng núi vươn ra gần mép đường số 6 như một dấu chấm (.) tách bạch giữa đồng bằng và đại ngàn Tây Bắc!

Chuyến này không vòng sang Yên Bái vì năm trước đã đến chơi rồi nghe nhiều chuyện kể và kính cẩn nghiêng mình trước tượng đài con người yêu nước Nguyễn Thái Học. Tiếc là không lên được Mù Cang Chải để mục sở thị "vương quốc" ruộng bậc thang. Và cũng tiếc là mùa này không có hoa ban để vẹn tròn sắc màu Tây Bắc.

Sực nhớ câu văn Thanh Tịnh trong truyện "Tôi đi học": "Ngày ấy tôi không biết ghi bây giờ tôi không nhớ hết" mà tự giận cho mình! Mải ham vui không ghi chép không chụp hình để bây giờ một Tây Bắc kỳ vĩ chỉ viết theo... trí nhớ!

Tái bút: Chuyến đi này "nhặt nhạnh" được 3 bài thơ đã hoàn chỉnh. Xin đưa thêm vào đây bạn bè đọc chơi vui. Những xúc cảm khác xin còn... nợ sẽ trả sau!:

        

MƯỜNG KHƯƠNG

Cứng chân bước vững tay lái

Len hết núi lách hết rừng

Leo hết trời luồn hết đất

Ấy là đã gặp một Mường Khương

Mường Khương cao tít và xa tắp

Nơi cuối trời mây cuối đất sương

Cheo leo đèo dốc chênh vênh vực

Xa xanh Pha Long rồi Cao Sơn...

Mường Khương là nghĩa mường gang thép (*)

Ý hẳn rằng đây đất kiên cường

Tiễu bao nhiêu phỉ tiêu bao giặc

Giữ sắc yên bình trời biên cương

Thương bao tên đất sao mà nhớ

Những Lao Pao Chải Tả Ngải Chồ...

Những La Pán Tẩn Tung Chung Phố...

Khấp khểnh như nghe bước ngựa thồ!

Mường Khương ai hẹn ai tìm đến

Đến để mà thương để vấn vương

Mai về xuôi phố trong niềm nhớ

Có một Mường Khương ở cuối đường...

(*) Mường Khương là đọc chệch từ Mưng Khảng

nghĩa là miền đất gang thép kiên trung.

      

TRĂNG LAI CHÂU

Người Mông ở lũng sâu Nùng Nàng

Từ Lao Tỷ Phùng Chin Chu Chải Xảy Xan

Đêm thả ngược vầng trăng lên khỏi núi

Từ ấy trên đỉnh cao vời vợi

Pu Sam Cáp - Núi Ba Tầng

Ngời ngợi một vầng trăng

Từ ấy Lai Châu đêm đêm sương giăng

Bàng bạc chảy một màu huyền hoặc

Mảnh trăng cuối trời Tây Bắc

Như mắt ai chờ thăm thẳm phía Hoàng Liên...

Khuya nghiêng dần về đỉnh Pu Ta Leng

Tan thành màu trăng Phong Thổ

Dõi ngược Tam Đường ai đi ai ở

Ai trở về mang nỗi nhớ Lai Châu...

     

VIẾT Ở LƯƠNG SƠN

*(Tặng Nhum Va Thao)


Bắt đầu đã núi rồi em nhé

Đi tiếp thì ta đến Hòa Bình

Ra đứng sông Đà xem thủy điện

Rồi về Đà Bắc ngắm hồ xanh


Tiếp nữa thì ta chơi suối khoáng

Kim Bôi Đồng Thếch gợi niềm thơ

Đến nữa... Cao Phong rồi Tân Lạc

Huyền thoại xa xưa Chúa Thác Bờ


Đi tiếp... Làm sao anh kể hết!

Mường Bi Mường Động nối mường xa

Leo đỉnh Thung Khe đùa gió núi

Về với Mai Châu bản Thái ta...


... Hòa Bình là thế em yêu nhé

Đã đến là em thích ở luôn!

- Ấy là anh nói còn đi tiếp

Chứ giờ... ta mới tới Lương Sơn! (*)


(*) Huyện cửa ngõ tỉnh Hòa Bình giáp Hà Nội là nơi bắt đầu của trùng điệp núi non.


   Tạ Văn Sỹ

More...

THOÁNG CHIẾN KHU XƯA

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Nhận được email của Phong Điệp nói rằng báo Văn nghệ Trẻ có mở mục "Nhà văn kể chuyện" cho những bài viết có tính cảm nghiệm từ các chuyến đi về các nhân vật cảnh sắc sự kiện... bắt gặp trên đường và trong đời. "Hay là anh kể chuyện giang hồ vặt của anh cũng được"! -Nguyên văn P.Đ. bảo thế! Sực nhớ loạt bài ghi chép cũ lục ra chỉnh sửa lại. Không biết P.Đ có dùng được không chuyện ấy tính sau ở đây cứ sẽ lần lượt đưa lên để sẻ chia cùng bạn bè tứ xứ cái đã!

         Năm 1942 thoát khỏi ngục tù của Quốc Dân Đảng Trung Quốc từ Liễu Châu Bác Hồ về nước dừng chân ở Pác Bó tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ở đây đã sẵn chiến khu  Cao - Bắc - Lạng. Theo đề nghị của đại tướng Võ Nguyên Giáp Bác và Trung ương quyết định lấy thêm liên tỉnh Thái - Tuyên - Hà lập thành chiến khu Việt Bắc. (Sau mở rộng sang một phần các tỉnh giáp ranh phía Nam chiến khu).

         Bà con ta đa phần chỉ biết chung chung về Chiến khu Việt Bắc hoặc An toàn khu (ATK) qua sách báo phim ảnh chuyện kể... Ít ai có được cơ may "mục sở thị" nơi thiêng liêng ấy. Tôi may mắn được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức chuyến "Về nguồn" thăm lại một phần chiến khu xưa. Trên 50 nhà văn nhà thơ ở các vùng miền náo nức hân hoan. Niềm xúc động thiêng liêng lộ rõ trên từng gương mặt.

          Ngang Phú Thọ bỏ quốc lộ 2 rẽ vào tỉnh lộ 32. Địa thế trung du nhấp nhô đồi cọ rừng chè. Làng quê gợi cảnh yên ả thanh bình từ muôn thuở trước. Dừng chân nơi cây đa Yên Kỳ - ngã ba Đào Giã huyện Thanh Ba (quê hương nhà thơ Phạm Tiến Duật). Đứng dưới tán đa rợp mát bên ngôi đền cổ đoàn được biết đây là nơi diễn ra Đại hội Văn hóa cứu quốc năm 1942 đồng chí Trường Chinh trình bày bản Đề cương "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình văn hóa văn nghệ cách mạng Việt Nam hiện đại. Chúng tôi hiểu rằng mình đã bắt đầu chạm chân đến vùng "thánh địa" chiến khu xưa.

          Cũng lại những "rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt" đưa chúng tôi về xã Gia Điền thuộc huyện Hạ Hòa. Đây là vùng mở rộng về phía nam của chiến khu Việt Bắc như đã nói ngày ấy gọi là Chiến khu 10 nơi đặt nhiều cơ quan kháng chiến. Thăm nhà bà bủ Nguyễn Thị Gái nơi năm 1948 - 1949 Hội Văn hóa Cứu quốc cho ra đời số báo Văn nghệ đầu tiên; nơi Văn Cao Tố Hữu Kim Lân Xuân Diệu Nguyễn Đình Thi Nguyễn Huy Tưởng Nguyễn Xuân Sanh... từng ở và làm việc. Ngôi nhà xưa còn đó đơn sơ nép mình bên bóng núi. Tiếc là Bà Bủ đã về nơi chín suối! Tại đây những "Trường ca Sông Lô" "Bà Bủ" "Bầm ơi"... những đêm kịch của đôi vợ chồng tài danh Thế Lữ - Song Kim còn để lại dư ba cùng năm tháng...

          Đền Chu Hưng cổ kính tọa lạc trên gò đất mai rùa giữa hóc ruộng hẹp trung du. Xưa vua Trần Nhân Tông kinh lý qua đây tức cảnh làm thơ vịnh còn khắc lưu trước sân đền. Đây là nơi thượng tướng Lê Trọng Tấn cùng đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản tuyên bố thành lập quân đội Pa-thét Lào. Cũng nơi đây vợ nhà thơ Lưu Quang Thuận trong khi sơ tán đã chuyển dạ sinh ra Lưu Quang Vũ. Có phải hồn thiêng sông núi nơi thờ phụng linh thiêng này đã nhập hòa vào Lưu Quang Vũ để dân tộc có thêm một tài năng lớn?

          Tiếp tục hành trình qua ngã Đại Phạm về Tuyên Quang. Đến đây xe bắt đầu mỗi lúc một luồn lách sâu hơn vào miền núi cao dấu vết trung du dần khuất phía sau.

          Đêm Tuyên Quang yên bình và trầm tịch dưới chân đoạn thành Nhà Mạc ly rượu Na Hang nồng nàn tình bè bạn sau khi giao lưu với trường cấp 3 Anh hùng Lao động. Lòng nôn nao chờ sáng mai về Sơn Dương thăm khu lịch sử Tân Trào.

          Đến Tân Trào. Tất cả lặng im trong sự thành tâm thành ý bồi hồi của kẻ hành hương. Xóm nhỏ Kim Long với những nóc nhà sàn cũ kỹ lặng lẽ nép mình dưới chân núi Hồng hùng vĩ. Kia là mái đình Hồng Thái đây là cây đa Tân Trào... Và lán Nà Lừa! Căn lán nhỏ nép mình cô tịch giữa rừng trúc bít bùng nhưng sạch quang thanh thoáng. Nơi đây có lúc Bác lâm cơn bệnh nặng thập tử nhất sinh. Chuyện kể: Có ông lang Tày chữa cho Bác bằng bài thuốc gia truyền từ lá rễ cây rừng. Xong bệnh ông đi. Không ai biết ông cụ là ai cứ như một tiên ông quá cảnh trên bước nhàn du!

          Rời lán Nà Lừa mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào của đất Tuyên Quang xe vượt đèo De quanh co chật hẹp men bên sườn núi Hồng sừng sững uy linh để về Định Hóa - Thái Nguyên. Ở đây có lán Tỉn Keo - cũng như lán Nà Lừa - là một trong những căn lán Bác đã dùng để thay đổi chỗ ở trong suốt thời kỳ kháng Pháp. Đây là nơi ra đời của Quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân năm 1953. Trên một ngọn đồi phong quang nằm thế "hữu bạch hổ tả thanh long" một công trình to đẹp hoành tráng vừa được hoàn thành. Đó là nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh như một minh chứng cho lòng ngưỡng vọng Lãnh tụ của bà con Việt Bắc.

Đêm ở lại Tỉn Keo. Giữa bóng chiều buông phủ khói sương rừng dưới chân bóng núi và dáng uy nghiêm của nhà tưởng niệm mọi người lững thững dạo quanh áng chừng đang tìm thi tứ! Đội văn nghệ dân gian dân tộc Tày với những nàng sơn nữ đêm ấy làm say lòng người bằng những cốc rượu ngô những điệu Lượn điệu Then hòa cùng tiếng đàn Tính ngân nga réo rắc âm âm giữa núi rừng u tịch.

          Buổi sáng về Khuôn Tát ngoái đầu nhìn lại bên lán nhỏ Tỉn Keo thấp thoáng cây dâm bụt tự tay Bác trồng nay đã sum suê cành lá nâng những chùm hoa đỏ như những ngọn "đèn lồng treo cao" bên sườn đồi ngút ngàn xanh một màu hoang vắng.

          Lán Khuôn Tát lại cho ta một cảm xúc khác. Cũng vẫn chiếc lán nhỏ giữa rừng với lối đi bí mật dẫn vào một đường hầm dài bốn năm chục mét được đào đục xuyên qua sườn đồi làm nơi Bác và cộng sự trú ẩn khi cần thiết. Lán Khuôn Tát nằm giữa khu rừng có nhiều cây phách cao cổ thụ. Nơi này có lần đến làm việc với Bác nhà thơ Tố Hữu đã để lại câu thơ đẹp miên man: -"Ve kêu rừng phách đổ vàng...". Vẫn những dòng suối nhỏ róc rách trong veo làm gợi nhớ ý thơ "Tiếng suối trong như tiếng hát xa" và những bóng đa cổ thụ dễ khiến liên tưởng hình ảnh "Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" của Bác. Tất cả vẫn đang trầm ngâm làm chứng tích một thời.

          Đoạn đường ngắn từ Định Hóa về Đại Từ của vùng "Thủ đô gió ngàn" vô cùng ngạc nhiên và tràn dâng xúc cảm theo những biển báo loang loáng hai bên cửa xe. Đây quả là một quần thể di tích cách mạng đan dày! Nếu không ghi chép kịp sẽ khó thể nào nhớ hết những: "Nơi ở và làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng" "Nơi đóng trụ sở Hội Phụ nữ Việt Nam" "Nơi đóng tòa soạn báo Cứu quốc" "Chợ Chu - nơi giam cầm các chiến sĩ cách mạng" "Nơi..." v.v... và v.v...

          Điểm dừng chân nhiều xúc động nhất ở Đại Từ đối với các nhà văn là ngôi nhà nhỏ của cụ bà Tạ Thị Vệ ở xóm Chòi xã Mỹ Yên. Đây là nơi đóng trụ sở báo Văn nghệ vào những năm 1949 - 1950. Hãy như còn thấp thoáng quanh đây bóng dáng những bậc tiền bối Ngô Tất Tố Nguyễn Đình Thi Tố Hữu Nguyễn Huy Tưởng Kim Lân v.v... Họ đã một thời cam khổ mà tâm huyết kiên trì cho nền văn nghệ nước nhà được sâu thêm nhiều vỉa tầng giá trị.

          Đêm Thái Nguyên ấn tượng không phai với buổi giao lưu tại trường Đại học Thái Nguyên. Một không khí văn nghệ một mạch ngầm văn học một nối tiếp văn chương đẹp sáng muôn đời luôn nối cầu qua các thế hệ.

          Một thoáng chiến khu xưa thấy mình đang trầm mình trong nguồn thơm hoài niệm.

                                                                                                                                Tạ Văn Sỹ

More...

CHUYỆN VỀ NGƯỜI… “ẢO MỊ VĂN CHƯƠNG”!

By tavansy@gmail.com

 

Cuối tuần bạn thơ trẻ Hoàng Việt ở huyện xa về ghé thăm. Lâu ngày gặp nhau chuyện đủ các thứ trên đời! Trong "đủ các thứ" ấy có chuyện nhắc lại cái tin nhắn cách đây gần một năm của B. gửi cho Việt bảo chúc mừng B. vừa đoạt giải Nobel và Hội đồng giải thưởng sắp về tận nhà trao cho B.! Chuyện khiến tôi nhớ lại Chuyên san Cảnh sát toàn cầu số 8 ra ngày 15-10-2009 có bài "Có một kẻ đang sống trong ảo giác" của tác giả Hồ Điệp. Hồ Điệp cũng nói về việc B. nhắn tin trách tác giả sao không chúc mừng B.?! B. còn đồng loạt nhắn cho nhiều người khác cùng nội dung như thế. Trang web Phongdiep.net đưa lại bài viết với tên gọi "Những ảo mị văn chương"!

          Tôi là người "được" nhắc đến ở một chi tiết nhỏ trong bài viết: -Thấy tôi ký tặng tập thơ vừa in của mình cho Hồ Điệp nhân gặp nhau ở khóa Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du thì B. "xì nước bọt qua kẽ răng phát biểu lạnh te: -"Chơi làm gì với bọn xe ôm này. Thơ phú biết gì"! Bạn bè đọc được gọi về hỏi tôi sao lại như thế nhỉ? Tôi trả lời: Tính cách và "bệnh tật" của B. vốn là vậy rồi mà! Nhân nhớ lại xin "nối điêu" thêm đôi chuyện về một người có hiện tượng bệnh lý ảo giác thật chứ không hẳn chỉ là "ảo mị văn chương". Và qua đây biết đâu chừng lại thấy được một số người quanh ta cũng... na ná như vậy!

          Thật ra từ lâu B. đã có thơ tặng tôi (bản viết tay kèm theo thư thăm hỏi tôi còn lưu giữ): -"Anh dẫm lên những nhỏ nhen/ Lầm lụi sáng với ngọn đèn văn chương/ Cõi người còn lấm bụi đường/ Phận thơ tình quặn đau thương nỗi đời"!(Nam Định 1-10-2003). Rõ ràng là B. rất đồng cảm và quý mến tôi ấy chứ? Thế mà tự dưng lại có cái giọng "lạnh lẽo độc ác" đến nỗi người nghe có cảm giác "như một mũi dao nhọn hoắt xoi vào tim" (chữ dùng trong bài báo)! Vài mẩu chuyện nhỏ sau đây cho thấy phần nào cái "bệnh" ảo giác và cách ăn nói ngẫu hứng "văng mạng" của B.

          Như Hồ Điệp viết năm 2007 Hội Nhà văn có mở khóa Bồi dưỡng viết văn. Gần 80 người dự học. Chừng 20 anh chị em được bố trí ở chung tại khu Quảng Bá trong đó có B. Một hôm tự dưng nước từ tầng 6 chảy tràn xuống tầng 5 mọi người chạy lên xem thì thấy cảnh tượng tại phòng của B. nước được xả vào bồn tắm đầy ắp rồi cứ tự do tràn ra ngoài mà B. thì đang nằm hát nghêu ngao trên giường. Anh em vội khóa nước lại và nhắc nhở B. B. nói gọn lỏn: -"Em thích nghe tiếng nước chảy mà"! Thì ra B. mở nước rồi để vậy nghe chơi chứ không phải quên tắt!

Cũng vì cái tính cách "dị biệt" ấy mà nhiều lần B. tự động lén lấy tập thơ của tôi đem tặng nhiều người tôi không quen biết. Phát hiện được tôi trách sao lại làm thế B. trả lời như không: -"Thì em tặng giúp cho anh thôi chứ em được gì đâu mà anh mắng"!

Nhà văn Nguyễn Trí Huân Tổng biên tập báo Văn nghệ có lần gặp tôi nói: -"Này ở chỗ học của cậu có thằng B. gửi thơ về báo rồi liên tục nhá máy và nhắn tin bảo tớ phải in vì thơ nó hay và trẻ báo chí không được thờ ơ! Tớ chịu hết nổi nên bảo bộ phận biên tập lựa in cho nó một bài vào số sắp tới để khỏi bị quấy rầy đấy"!

Được bài nào in báo như vậy - y như Hồ Điệp viết - là B. liền phô-tô phát khắp lượt mọi người như tờ rơi quảng cáo đến độ có người khuyên B. thôi đi để dành tiền mà tiêu vặt! Có người thông cảm cho cái kiểu khoe khoang có vẻ trẻ con nhưng có người lại cho đó là một cách của người... "ảo mị văn chương"!

Có lần anh em quây quần bữa rượu đọc thơ. Tôi góp ý một từ nên sửa lại. B. nổi đóa bảo thơ B. là không thể chỉnh sửa biên tập gì ráo trọi! Từ đó anh em cạch không động đến chuyện văn chương chữ nghĩa với B. nữa. Cũng có lần tôi kể B. nghe chuyện: Năm 2001 trước Đại hội viết văn trẻ toàn quốc lần 5 phóng viên M.P báo Nhân Dân lấy tư liệu viết bài giới thiệu 2 gương mặt trẻ tiêu biểu (1 nam 1 nữ). Tình cờ gặp nhau M.P hỏi tôi có biết gì về Bùi Chí Vinh kể cho nghe vài chi tiết. Tôi bảo B.C.V "già" rồi làm gì còn tiêu chí mà dự Đại hội nhà văn trẻ? M.P bèn chuyển qua giới thiệu một cây bút nam trẻ khác. Thì ra M.P hỏi thăm B. (tức B.Đ.V) nhưng nhầm thành B.C.V vì hai cái tên này có âm sắc rất giống nhau nghe thoáng qua rất dễ nhầm! Tôi đâu biết M.P nhầm nên cứ thật tình bảo thế (vì nhà thơ B.C.V "già" hơn B. đến một phần tư thế kỷ kia mà)! Nghe chuyện B. đùng đùng nổi khùng: -"Anh hại em rồi! Thằng cha ấy có là gì đâu so sao với em được mà anh lại nhầm lẫn? Tai ác quá"!

 Cái khoản nói năng văng mạng về người khác (như kiểu B. nói về tôi trong bài viết của Hồ Điệp hay nói về nhà thơ Bùi Chí Vinh vừa kể trên) thì... rất vô tư! Ví dụ có lần thấy tôi vừa bước ra từ phòng hai anh Lã Hoan và Lê Hai (người Thanh Hóa) B. phang ngay một câu: -"Anh chơi làm gì với bọn Thanh Hóa ấy chúng nó chẳng tốt đẹp gì đâu"! Tôi bảo đừng ăn nói bừa phứa mà mất lòng nhau các anh ấy làm gì mà bảo thế? B. xì dài lên giọng: -"Em nói thì cấm có sai"! Hoặc có lần thấy tôi đèo giúp chị Trần Thu Hà (người Nghệ An) từ Quảng Bá đến Hào Nam đi học liền bị B. "góp ý" ngay: -"Anh chớ vấy vào bọn Nghệ Tĩnh"! Tôi không hiểu "bọn Nghệ Tĩnh" có gì mà B. nói vậy?! Trước đấy tôi có đèo B. mấy hôm nhưng không chịu nổi cái kiểu ngồi sau B. cứ chồm chỗm áp cứng vào lưng kê mồm vào tai nói huyên thuyên liếng thoắng toàn những chuyện tôi không muốn dây vào hoặc không đồng tình nhưng cứ luôn bị B. vỗ vai thúc lưng véo đùi hỏi vặn buột người nghe phải đối thoại đại loại "Phải không?" "Đồng ý chứ?" "Đúng chưa nào?"... "Ngán" quá nên tôi tìm cớ thoái thác không thích đèo B. nữa!...

Chuyện của B. còn có thể kể dài dài. Chỉ thoáng qua một ít để thấy rằng cái việc chỉ thấy "Ta là một là riêng là thứ nhất!" (Xuân Diệu) là cố tật của B. và một số người khác. Những việc làm "bất bình thường" ấy là biểu hiện của một người... không giống mọi người hay là con bệnh "ảo mị văn chương"? Bạn bè cho biết hiện nay B. đang biểu hiện căn bệnh ấy nặng nề hơn trước nhiều cả thành phố N.Đ ai cũng rõ.

Cũng như Hồ Điệp tôi (và nhiều bạn bè khác) đều thương và tiếc cho B. một cây bút trẻ từng được bạn đọc đặt nhiều kỳ vọng lúc ban đầu xuất hiện. Phải nói rằng thơ B. rất trẻ và khỏe nhiều bạn đọc quý yêu nguồn thơ ấy. Có ai ngờ!... Mong sao tự bản thân B. kịp ý thức lại hoặc giả may ra gặp thầy gặp thuốc để chữa trị căn bệnh gần như mãn tính của B. để khỏi uổng phí một tài năng.

Ở chỗ tôi hiện cũng có người như thế. Có lẽ nhiều nơi cũng như vậy. Sao cánh viết lách hay có hiện tượng này nhỉ? Con người văn chương là người đầy tự do và cá tính. Nhưng tính cách ấy chỉ có ở những tài năng thực thụ và các tài năng cũng chỉ biểu hiện trong sáng tạo chứ họ có đem "ứng dụng" ngoài đời như thế đâu?!

 

 Tạ Văn Sỹ

More...