MỘT HOẠT ĐỘNG VĂN HỌC ĐỘC ĐÁO TẠI KON TUM!

By tavansy@gmail.com

 

Lâu nay qua thiên ký sự "Ngục Kon Tum" của Lê Văn Hiến (công bố năm 1937) mọi người đều biết đến "Tao đàn ngục thất" như một tổ chức sinh hoạt văn học tại nhà ngục Kon Tum khoảng những năm 1932-1935:"Sau cuộc đi Đăk Tao lần thứ 2 về nhà phạt (tức tù chính trị phạm - TVS) lại bị giam vào lao cũ lúc bấy giờ anh em xin phép tu bổ mấy nấm mồ xây đắp lại tử tế. (Tức 2 ngôi mộ chôn tập thể xác tù chính trị phạm bị sát hại của 2 cuộc đấu tranh Lưu huyết 12-12-1931 và Tuyệt thực 16-12-1931 - TVS).

Nhân lúc chế độ nhà lao nới rộng chính sách đối với nhà phạt có hơi khá hơn anh em mới thiết lập ra "Tao đàn Ngục thất" mục đích là để cùng nhau làm thơ phú. Mỗi tuần làm một bài do anh em ra đề mà cũng do anh em lựa chọn bài nào hay thì thưởng. Phần thưởng không có gì lạ: chỉ một vài cái bánh ú nếp năm ba cái bánh tráng (bánh đa) bài thơ nào hay lắm tuyệt bút lắm thì được thêm vài ba trái chuối!

Tôi còn nhớ khi "Tao đàn Ngục thất" mới thành lập vừa gặp lúc xin được phép đắp mấy nấm mả của anh em bị bắn. Đắp mả xong về lao anh em ra đầu đề: "Viếng mồ liệt sĩ" rồi mỗi người làm một bài bát cú.

Còn nhớ được vài bài nhân tiện xin chép ra đây để kỷ niệm những phút giải trí đầy ý nghĩa của anh em chính trị phạm khi còn trong lao".

Kế sau đoạn văn trên Lê Văn Hiến chép 3 bài thơ đều có tên chung "Viếng mồ liệt sĩ" (do đề tài đã ra sẵn) của Trịnh Quang Xuân (được chấm nhất) Hồ Tùng Mậu (nhì) và Võ Trọng Bành (ba).

Như vậy có thể coi đây chính là "tổ chức văn học" đầu tiên và là những sáng tác mở màn dòng văn học viết ở Kon Tum vì trước đó chưa hề có! Những cái bánh ú bánh tráng trái chuối... chính là... "giải thưởng văn học" đầu tiên ở Kon Tum - một "giải thưởng" vô cùng độc đáo!

Còn có một "độc đáo" nữa ít người biết đến:

-Báo Nghệ An (không rõ cụ thể số phát hành dẫn lại trên mạng Max Reading.com) 2 tác giả Mai Hồ Minh và Hồ Đức Thỉnh trong bài viết về Hồ Tùng Mậu có đoạn: "Trong lao tù đế quốc Hồ Tùng Mậu đã biến nhà tù thành trường học cách mạng nuôi dưỡng ý chí chiến đấu bằng việc đề xướng lập "Tao đàn Ngục thất" làm "báo miệng" sáng tác thơ văn như tiểu thuyết "xuất bản miệng" có tên "Giọt máu hồng"...".

-Trang web Huyện Điện Bàn có bài của tác giả Trịnh Minh Thế viết về Trịnh Quang Xuân: "Cùng bị giam giữ với ông (tức Trịnh Quang Xuân - TVS) có Hồ Tùng Mậu và Võ Trọng Bành. Ngoài đấu tranh đòi quyền lợi vật chất các ông còn đòi sách báo để đọc và cho ra tờ "Ngọ báo" (báo giữa trưa) tổ chức anh em lượm lặt những thông tin trên các mẩu báo để đọc đồng thời viết bài tuyên truyền giáo dục củng cố tinh thần đấu tranh cho mọi người mà nhất là anh em tù thường ở chung với tù chính trị. Bài viết của người nào người ấy đọc. Ngoài ra các ông còn sáng tác thơ rồi tổ chức thi thơ bài "Viếng mồ liệt sĩ" của ông đạt giải nhất".

Nếu những dữ liệu này là khả tín xâu chuỗi 3 dẫn chứng trên sẽ thấy: Ngoài "Tao đàn ngục thất" sinh hoạt hằng tuần thì tờ "Ngọ báo" và cuốn tiểu thuyết được thực hiện hằng ngày với kiểu "bài của ai người ấy đọc" vì chỉ là... "báo miệng" "xuất bản miệng" và đọc vào giữa trưa là lúc tù nhân có được "những phút giây giải trí đầy ý nghĩa"! Như vậy đây cũng chính là "tờ báo""tiểu thuyết" đầu tiên ở Kon Tum với cách "xuất bản" quá ư... độc đáo cách nay gần 80 năm!

Những việc làm "vô tiền khoáng hậu" ấy của các bậc tiền nhân khiến những kẻ "hậu nhân" có tâm huyết không khỏi so sánh và ngậm ngùi nghĩ ngợi về hiện tình ngày nay.

Trong cảnh cá chậu chim lồng trăm bề thiếu khó chỉ bằng vài cái bánh đôi trái chuối chỉ bằng vài mẩu giấy thậm chí chỉ bằng những ý tưởng sắp xếp sẵn trong đầu... các cụ cũng lập được một Hội Thơ cũng làm được một "giải thưởng" cũng ra được một "tờ báo" cũng "xuất bản" được một tiểu thuyết (!) - Nghĩa là đã làm được một việc đầy ý nghĩa và cần thiết cho tinh thần "lấy cán bút làm đòn xoay chế độ" (Sóng Hồng) cho phong trào sáng tác văn nghệ lúc bấy giờ manh nha khởi đầu cho một "không khí" văn học trên đất Kon Tum vốn chưa có gì trước đó.

Ngày nay đã có hẳn một chính quyền vững mạnh một Hội Văn học nghệ thuật đầy đủ tư cách pháp nhân một tờ tạp chí Văn nghệ được in ấn đàng hoàng... hằng năm được rót mấy trăm triệu đồng để hoạt động thế mà một cái giải thưởng Văn học nghệ thuật toàn tỉnh một vài tặng thưởng cho những bài viết những tác phẩm đạt chất lượng trong năm của Tạp chí nhằm khích lệ động viên tinh thần hội viên cộng tác viên để thu hút được bài hay bài tốt... cũng chưa làm được!

"Ôn cố tri tân"! Vẩn vơ chợt nghĩ nếu với điều kiện như hiện nay mà gặp vào ý chí nhiệt huyết và tài năng của các cụ thì chắc các cụ đã đưa phong trào sáng tác và sự nghiệp văn học nghệ thuật của Kon Tum đến kết quả khác xa như hiện giờ!

Mới hay các cụ lớn lao đến nhường nào! Và chúng ta đến bao giờ mới bằng được như các cụ? Tỉnh Kon Tum chuẩn bị kỷ niệm 100 năm thành lập (9-2-1913 - 9-2-2013). Nhà Ngục Kon Tum - di tích Lịch sử cấp Quốc gia - cũng đã tròm trèm trăm tuổi (sau thành lập tỉnh vài năm). Những "sự kiện lịch sử sự kiện văn học" đặc biệt và độc đáo đầy xúc động và đáng kính trọng kể trên cũng sắp chẵn 80 năm. Chuyện xảy ra ngay trên đất Kon Tum Kon Tum sẽ làm gì để kỷ niệm để ghi nhớ để noi gương học tập tiền nhân? - Ví dụ như một công trình tập hợp - nghiên cứu; ví dụ như định ra một ngày trong khoảng thời gian xảy ra những sự kiện ấy để làm ngày "truyền thống" cho hoạt động Văn học Kon Tum (như Ngày Thơ của tỉnh Quảng Ninh lấy sự kiện vua Lê Thánh Tông kinh lý về đấy đề thơ lên vách núi Bài Thơ chẳng hạn); hoặc chí ít ra cũng là... những buổi gặp gỡ tọa đàm tưởng nhớ hằng năm?

 

Tạ Văn Sỹ

More...

TỪ TÊN GỌI KON TUM…

By tavansy@gmail.com

 

Kon Tum là tỉnh nằm ở cực bắc Tây Nguyên thuộc cao nguyên Trung phần. (Cực nam là tỉnh Đăk Nông đông nam là Lâm Đồng khoảng giữa là 2 tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk). Theo tiếng đồng bào Ba-na bản địa: Kon có nghĩa là buôn làng vùng đất... Tum nghĩa là ao hồ đầm lầy... Đây là vùng trũng dọc theo lưu vực sông Đăk Bla có nhiều ao chuôm nên được gọi nôm na như vậy. Vị trí địa lý: Bắc giáp Quảng Nam đông giáp Quảng Ngãi nam giáp Gia Lai tây giáp tỉnh Ratanakiri - Kampuchia và 2 tỉnh Sê Kông Atôpơ - Lào. Đây là 1 trong 2 nơi của Việt Nam có ngả ba biên giới. (Nơi còn lại là Điên Biên giáp Lào và Trung Quốc).

Một "nỗi buồn" và khó chịu vô cùng của người Kon Tum lâu nay là tên gọi địa phương mình luôn bị viết sai đọc sai! Sai trên sách báo trên đơn thư công văn v.v... Các kiểu viết sai là: Kông Tum Công Tum Kom Tum Con Tum Kum Tum Kon Tom v.v... Thậm chí còn viết 2 từ Kon và Tum liền nhau thành Kontum như một từ đa âm tiết của các ngôn ngữ nước ngoài! (Giống như thành phố Plei Ku của tỉnh Gia Lai bây giờ luôn "bị" viết liền là Pleiku! Thật ra Plei nghĩa là "làng" và Ku là "cái đuôi trâu" theo một truyền thuyết của bà con ở đấy chứ không phải một từ đa âm).

Kon Tum có lẽ là tên tỉnh bị viết sai gọi sai nhiều nhất nước! Có vài tỉnh cũng bị sai như vậy nhưng ít kiểu dạng hơn. Ví dụ Bắc Kạn thì chữ Kạn có khi thành "Cạn". Đấy là chưa nói chữ Bắc có thể là "Pắc" - như Pắc Bó - vì đây là âm tiếng Tày có nghĩa là "cửa ngõ". Tỉnh Lao Cai là biến âm từ Lão Nhai có nghĩa là "phố cũ" sau khi chia tách tỉnh Hoàng Liên Sơn ra thì thành Lào Cai. Tỉnh Đăk Lăk thì thành Đắc Lắc (âm "K" theo cách phát âm của đồng bào ở đây không như âm "C"!)... Các tỉnh có dấu hỏi dấu ngã cũng thường bị sai dấu ví dụ Hà Tĩnh thành Hà "Tỉnh" rồi Quảng Ninh Quảng Bình Quảng Trị Quảng Nam Quảng Ngãi có khi thành "Quãng"...

Việc viết sai chính tả là điều khó tránh khỏi có khi do cách phát âm của từng vùng miền hoặc do ít học ít để ý đến môn Tiếng Việt... Nhưng ở đây không phải đơn thuần là sai chính tả về mặt ngôn ngữ mà thuộc về phạm trù kiến thức tri thức. Đã là địa danh danh từ riêng thì buộc phải biết và viết đúng vì nó đã được quy định trong văn bản hành chính chính thức Nhà nước qua các thời kỳ đặc biệt là nó có một ý nghĩa riêng về mặt địa văn hóa truyền thống lịch sử của riêng nó.

Đáng trách nhất là các nhà văn nhà báo cũng viết sai một cách tùy tiện. Là những người đụng chạm nhiều nhất đến chữ nghĩa thì hẳn biết chữ nào có nghĩa nấy không thể tùy tiện được cũng giống như không ai viết Việt Nam thành... Việc Nam cả!

Không những viết sai tên gọi mà rất rất nhiều người không hình dung tưởng tượng được Kon Tum ở đâu nằm vị trí nào trên bản đồ đất nước! Đây không những thuộc về kiến thức địa lý mà còn là một khiếm khuyết về ý thức công dân. Chỉ cần chịu khó nhìn vào bản đồ Hành chính Việt Nam thì sẽ thấy ra chứ đâu cần có dịp đến được nơi mới biết. Nhiều lần ra Bắc vào Nam tôi đã dở khóc dở cười khi giới thiệu mình ở Kon Tum liền nhận được những câu hỏi lại: "Tức là Đăk Lăk đấy à?" hoặc "Là Gia Lai phải không?"!... Những lúc ấy xin nói thật tâm lý vừa tức giận vừa coi thường cái kiến thức người ấy lắm! Sao lại như thế nhỉ? Cả khu vực Tây Nguyên rộng mênh mông này đâu chỉ có mỗi Đăk Lăk hoặc Gia Lai!

Mỗi khi "khoe" cái Thẻ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam của tôi thấy ghi ở mục "Chỗ ở hiện nay" là tại... "Kông" Tum có người thắc mắc "Hội Nhà văn mà cũng viết sai thế à?"! Nhiều lần tôi được Hội Văn học nghệ thuật Đăk Lăk Gia Lai cho hay mình có cái giấy báo nhận tiền gửi về địa chỉ ấy. Trời ạ lâu lâu có được cái nhuận bút còm mà bộ phận Trị sự các báo thấy ở Tây Nguyên thì cứ việc đề ngay Đăk Lăk hoặc Gia Lai! Người biết chuyện lại thắc mắc "Báo chí mà cũng sai thế à?"! Lắm lần ở Hà Nội có người bảo khi nào về lại Kon Tum cho họ gửi tí quà cầm tay về chuyển cho người thân ở Đăk R Lấp hoặc Buôn Hồ hoặc Chư Sê...! Họ đâu biết những nơi ấy ở tít tận Đăk Nông Đăk Lăk Gia Lai... cách nhau từ cả trăm đến bốn năm trăm cây số!...

Ngẫm lại mà... buồn! Chỉ tại Kon Tum là một tỉnh nhỏ tỉnh nghèo (hiểu theo nghĩa về nhiều mặt xã hội) lại heo hút xa xôi... nên ít ai biết đến. Nhưng yêu cầu kiến thức địa lý - lịch sử phổ thông đối với mỗi công dân đặc biệt là người viết lách người làm công tác hành chính - văn hóa thì không thể vì thế mà không cần biết đến! Đơn giản chỉ nhìn vào bản đồ Hành chính Việt Nam sẽ hình dung ra 63 tỉnh thành nó nằm ở vị trí trí nào mà hình dung ra thôi. Đã là tên riêng các địa danh thì nhất quyết không nên gọi sai viết sai kỳ lắm!

"Lý sự trách móc" nhau tí thế thôi chứ cái âm thanh "kon tum" nghe ra cũng... hay hay có gì đó là lạ rất tượng âm rất núi rừng! Có phải vì thế không mà anh bạn làm thơ Nguyễn Thánh Ngã ở Lâm Đồng có bài thơ về Kon Tum không giống bất cứ cảm xúc nào về Kon Tum trước nay. Xin trích vào đây để khách ngoài Kon Tum đọc chơi và nhớ Kon Tum lâu hơn.

 

KUM... TON... KRUM... TON...

Kum... ton...

Krum...m... ton...n...

Krum...mm... ton...nn...

Giọt mưa trên mái nhà lợp thiết

Vọng tiếng vàng anh của một góc Kon Tum

 

Vài đứa trẻ trần

Lon ton dáng núi

Lon ton

Dấu sau tay áo nụ cười ướt nhẻm

Để lòi cái mông đen

Gồ lên chiếc gùi đầy quả

 

Mưa cứ kum... ton... krum... ton...

Chiều Kon Tum điệu ba-zan mòn lỉn

Dính vạt gió dài dụn dịn xanh dai

 

Đâu đây

Dòng Đăk Bla khề khà uống cạn vừng ráng đỏ

Ngồi thừ để thõng vòng tai

 

Ta muốn nhìn Kon Tum tận mí mắt

Tận khóe mưa

Ùa va đập lên tiếng chim hót

 

Buồn buồn hiên dột

Từ mái thiết này nghe rõ Kon Tum

Đang gõ lên tiếng vọng

Kum...m... ton...n...

Krum... mm... ton...nn...

Krum... mmm... ton... nnn...

 

          Xin cám ơn những cảm xúc chân thành mới mẻ và sáng tạo về Kon Tum của tất cả bạn bè nào yêu mến Kon Tum quê tôi. Mong không còn sai sót nữa!

 

Tạ Văn Sỹ

(Viết cho... đỡ buồn trong lúc... chưa biết viết gì!)

More...

ĐỖ TIẾN THỤY

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Nghe bạn bè ngoài Hà Nội gọi bảo trên báo Văn nghệ Công an số 138 vừa ra ngày19-10-2010 có bài viết về Sỹ của Đỗ Tiến Thụy. Vội gọi tác giả "meo" cho ngay để đọc thử (vì ở Kon Tum này phải tuần sau mới có báo về). Thấy cũng vui vui mặc dù đôi chỗ có hơi "mắm muối mặn nhạt" ít nhiều. Xin đưa luôn lên đây để "bá cáo" với bà con xa gần!

Gặp lại "Thi sĩ xe ôm"

 

          Vóc người vâm váp nước da màu củi cháy cạnh chiếc Dream Tàu cóc cáy đôi mắt luôn luôn mơ màng dán vào cuốn thơ nhưng sẽ vụt ánh lên khi thấy có khách thấp thoáng xa xa. Cò kè ngã giá gã "kị sĩ xe thồ" sẽ ra roi khiến "con nghẽo già" rên lên những tiếng nhọc nhằn trước khi cõng khách ngược những con dốc dài đứt hơi phố núi. Đó là hình ảnh quen thuộc của nhà thơ Tạ Văn Sỹ. Quen đến nỗi về Kon Tum lần này không thấy cảnh ấy tôi bỗng thấy... nao nao!

 

          Mỗi khi về tôi thường gầy một độ nhậu với anh em văn nghệ Kon Tum. Và Tạ Văn Sỹ bao giờ cũng là người sốt sắng có mặt đầu tiên. Vậy mà lần này gọi mãi mới thấy một tiếng thầm thào bắt máy: Mình đang ngồi cạnh sếp... Sếp đang giao việc... Mình sẽ đến sau...

Đúng giọng... công chức khiêm tốn đến tội nghiệp khác xa với cái giọng thường thấy của gã nhà thơ hoang dã. Sao lại có sự đột biến thế nhỉ? Kể từ ngày mấy bài thơ đăng báo bị chụp mũ suy diễn thô thiển thầy giáo trẻ Tạ Văn Sỹ đã quyết định bỏ nghề không thương tiếc. Rồi đã mấy lần gã nhà thơ phố núi được nhận vào làm việc ở một cơ quan nào đấy nhưng chỉ được mấy bữa lại văng ra cũng bởi cái tính ngang tàng. Chả nhẽ về già "con ngựa bất kham" này đã chịu cho ai đó cưỡi?

          Đúng 7 giờ tối Tạ Văn Sỹ mới ghé chỗ hẹn. Vẫn "con nghẽo già" ọc ạch. Vẫn vẻ mặt ngầu ngầu. Vẫn bộ áo quần bụi bặm xuềnh xoàng. Vẫn bàn chân thô tháp xỏ trong đôi dép lê mốc thếch... Trang phục thì rất "phu hồ" vậy mà trên vai lại khoác một chiếc cặp da rất sang sang đến độ... khả nghi! Bộ dạng này mà đi ngoài phố đêm Hà Nội thì dễ bị cảnh sát cơ động hỏi thăm lắm!

Tạ Văn Sỹ giơ bàn tay thô ráp ra bắt và thanh minh cho sự chậm trễ: Mình phải nhờ mãi mới có người trực giúp để đến đây đấy. Nhưng đến 10 giờ đêm là phải về.

          Ực một ly đế nhón một miếng xoài xanh nhai tóp tép châm một điếu thuốc Eagle phả khói mơ màng Tạ Văn Sỹ bắt đầu... cười. Bao giờ Tạ Văn Sỹ cũng mở màn tâm sự bằng điệu cười hì hị rất dễ thương như thế.

Hoá ra cái điều tôi ngờ ngợ là có thật.

          Sau hơn chục năm tung hoành gió bụi dọc ngang khắp các nẻo đường gã "kị sĩ xe thồ" vẫn chưa có dấu hiệu chồn chân mỏi vó. Thế nhưng một hôm chàng rể quí là chủ thầu xây dựng rụt rè đề nghị: Ba ơi tuổi ba đã nhiều mắt ba đã kém cái xe cũng tã tượi lắm rồi ba hành nghề xe thồ nữa nguy hiểm lắm. Con muốn mời ba làm việc cho con. Con sẽ gửi ba mỗi tháng 3 triệu...

Mới nghe thế máu kẻ sĩ trong người nhà thơ đã vọt lên... 100 độ. Còn lâu nhé! Đây chưa già nhé mới có... 55 tuổi thôi nhé "con thiết mã" của tôi cũng mới có... 12 tuổi thôi nhé! Vừa rồi tôi còn định cưỡi nó ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn Việt Nam nữa đấy đừng có mà coi thường!

Đoán trước được sự tình ái nữ của nhà thơ thẽ thọt: Nhà con nói thế là vì thương ba muốn ba có thời gian để nghỉ ngơi. Chúng con sẽ sắm cho ba một con laptop đời mới mua cho ba một quả USB 3G để ba online. Hàng ngày ba chỉ cần tới công trường và ngồi... làm thơ thôi! 

Kể đến đây nhà thơ lại cười hị hị: Đúng là đẻ con khôn mát... lòng rời rợi. Chúng nó nói phải quá. Về làm cho chúng nó thì đúng là nhất cử tam tứ tiện. Vừa an toàn vừa gần con gần cháu vừa có thu nhập ổn định vừa có thời gian viết lách. Thế nhưng mình cũng phải... cảnh giác. Đành rằng làm bảo vệ công trình thì... sang hơn chạy xe ôm. Nhưng làm bảo vệ cho con lí tình lẫn lộn khó lắm. Được cái thằng rể mình là đứa rạch ròi. Nó giao kèo trước: Về gia đình con là con của ba. Nhưng trong công việc ba là quân của con. Mà đã là quân thì phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh cấp trên làm việc có qui chế khen thưởng kỉ luật nghiêm minh.

Thấy điều kiện cũng nhẹ nhàng mình OK. Ngày xưa mình viết bài thơ Làm ngựa cho con là viết cho thằng con trai lúc nó ba tuổi không ngờ nó lại đúng với cả con rể. Với đời ba trật đường đua/ Với con - yên chí ba chưa mỏi chồn/ Tóc ba con giật làm bờm... Đúng là thằng con rể nó giật đúng... "bờm" mình thật rồi! Nó nhận thầu cùng lúc mấy công trình nên mình cứ phải "phi" vòng quanh tít mù hết Ya Chim tới Đăk Ruồng lại về Đăk Hà... Được cái công việc nhẹ nhàng chỉ là trông vật liệu xây dựng cho nó thôi nên có thời gian vào mạng.

Nhà thơ xoa xoa vào chiếc cặp da khoe: Mình mày mò tự lập được blog rồi nhé. http://tavansy.vnweblogs.com/. Cũng kha khá khách truy cập đấy!

Tôi quá choáng bởi mới mấy tháng trước thấy nick của Tạ Văn Sỹ trong Gmail sáng đèn tôi nhảy vào chào nhưng nhà thơ không đáp lại đợi mãi mới thấy ông nhắn tin qua... điện thoại di động: "Minh thay Thuy chao nhung khong biet go tra loi cho nao?" (Mình thấy Thụy chào nhưng không biết gõ trả lời chỗ nào?). Vậy mà bây giờ ông đã biết dùng những thiết bị công nghệ tối tân để làm cư dân mạng quả là một cuộc "đại nhảy vọt"!

Dưới con mắt của mấy chú thợ xây thì "ông gác công trường" quả là một dị nhân! Suốt ngày quẩn quanh một chỗ mà chuyện gi gỉ gì gi cái gì ông cũng biết! Ông biết mở cái "máy chữ chạy pin" gõ cồng cộc một hồi được một đống chữ rồi nhấp chuột gửi véo... lên giời vậy mà ngày hôm sau đã thấy bài viết ấy chễm chệ trên các báo to trung ương thật là kinh dị! Thi thoảng lại thấy "ông gác công trường" được toàn những nhà thơ nhà văn khét tiếng gọi điện hỏi han thì họ lại càng nể tợn. Chuyện! Bố vợ chủ thầu cơ mà khà khà...

Vừa uống vừa kể. Vừa kể vừa cười. Hoá ra cái nghề xe ôm cũng hay! Mình đi nhiều gặp nhiều chuyện đời nó cứ thấm vào mình hồi nào không hay. Có mấy tờ báo ngoài Hà Nội đặt mình viết về văn hoá Tây Nguyên từ cây kơ-nia hoa pơ-lang mái nhà rông cho đến các phong tục tập quán của đồng bào... Tháng túc tắc gõ vài bài cũng có ít tiền tiêu rủng roẻng...

 Tôi phụ hoạ: Thì bác đã viết "Hồn tôi như địa chất/ Tầng tầng trầm tích xưa/ Suốt đời tôi khai quật/ Tìm nỗi buồn ban sơ" là gì. Bây giờ bác cứ ngồi "khai quật kí ức" lên mà xài thôi.

Nghe tôi nói thế Tạ Văn Sỹ bỗng giật mình nhớ ra mình là... nhà thơ! Ông khoe: Mình in sắp xong tập thơ thứ 4. Ba tập trước là Trời xa Mặt đất Cõi người THIÊN - ĐỊA - NHÂN đủ rồi tập này đặt là Tuỳ khúc gồm những cảm nghiệm về cuộc đời. Mình đọc thử Thụy nghe mấy khúc viết theo kiểu Raxun Gamzatôp nhé:

Đề ở đôi dép

Đi khắp bốn phương trời

Bàn chân lầm cát bụi

Đuổi theo mãi bóng đời

Đường dài còn lầm lụi.

Thơ bác vẫn hay tôi khen. Tạ Văn Sỹ hỉ hả: Cho mình đọc thêm khúc nữa. Khúc này mình viết để khắc vào... bia mộ đấy.

Đề ở bia mộ:

Họ tên: Tạ Văn Sỹ

Sinh một chín năm lăm

Xong một đời vô vị

Nằm ngẫm chuyện ngàn năm.

Tôi cười kha kha kha! Bác còn lâu mới chết bài thơ này sợ sẽ lạc hậu đấy! Tạ Văn Sỹ sững lại rồi ngồi trầm ngâm: Ừ nhỉ biết đâu đấy. Thôi thế thì cho mình đọc thêm bài này nữa nhé!...

Biết ông bắt đầu "thăng" tôi nhắc 10 giờ rồi đấy. Tạ Văn Sỹ trợn mắt: 10 giờ thì sao? Tôi bảo thôi bác về gác công trường đi. Tạ Văn Sỹ nạt lớn: Tui mà phải đi gác công trường à? Bữa nay chơi xả láng sáng về sớm!

Nhưng... "câu hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng". Điện thoại của nhà thơ réo như còi xe cứu hoả. Tiếng chàng rể quí của nhà thơ thông báo: Kẻ trộm vừa đột nhập công trường lấy đi một cuộn thép phi 14. Ba làm sao sáng mai phải có cho thợ thi công!

          Nhà thơ buông máy ngồi nghệt ra mất mấy phút rồi lật đật phóng xe đi.

Mãi tới 12 giờ đêm Tạ Văn Sỹ mới điện thoại cho tôi giọng hùi hụi bi thương nhưng lại rất chân tình: Xong rồi! Tao phải chạy ra cửa hàng vật liệu xây dựng lấy chịu một cuộn. Nhậu với mầy... tốn quá! Nhưng không sao. Sáng mai mời mầy và mấy người ăn sáng cà phê. Tao bao!

Tạ Văn Sỹ nhấn mạnh hai tiếng "tao bao" một cách tự tin đến... khó tin. Thế nên tôi hỏi lại: Bác bao? Nhà thơ văng tục và cáu: Mầy coi thường tao hả! Tao giờ nhiều tiền rồi nghen. Mầy thấy tao có ngon không?! Tôi cười: Ngon ngon!

Cái quán bún bò giò heo nấu theo kiểu Huế nằm sát nhà Tạ Văn Sỹ. Chúng tôi đến Tạ Văn Sỹ quát to khiến chủ quán chạy có kèn. Ăn xong Tạ Văn Sỹ kéo ngay chúng tôi đi. Tôi nhắc nhỏ: Tiền! Tạ Văn Sỹ khoát tay: Khỏi lo tao có tài khoản gửi ở đây! Đi cà phê rồi thăm nhà tao chút.

Hoá ra sự hào phóng đột xuất của Tạ Văn Sỹ là có lí do. Ông muốn khoe căn nhà mới xây khang trang có công trình phụ khép kín có phòng văn đầy đủ tủ sách bàn ghế tiếp khách... Ngó nghiêng một hồi tôi nhận xét: Hơi nhỏ. Anh con trai nhà thơ liền đùa: Khi xây cháu đã nói ba làm rộng rộng ra một chút để mai này có chỗ cho anh em của con ở các nơi tìm về... Nhà thơ nạt con: Mầy thì!... Xấu xí nghèo khổ như ba... ma nó thèm! Chị Phúc vợ nhà thơ đang làm bếp nghe thế thì buông một câu lững lờ: Ma nó không thèm đâu mà người thèm!

Câu nói chất chứa nỗi hờn ghen của người vợ đã chịu quá nhiều vất vả bởi ông chồng thi sĩ. Nhưng chơi với Tạ Văn Sỹ đã lâu tôi dám khẳng định: Tạ Văn Sỹ dù có bồng bềnh với những Nàng Thơ trong những mối tình gió thổi mây bay nhưng về đời thường thì ông luôn là người đàn ông vô cùng trách nhiệm với gia đình. Hơn mười năm sống ở Kon Tum tôi luôn chứng kiến cảnh ông đứng ở bến xe thồ Cổng Xanh là nơi đồng bào thường gùi hàng ra chợ để đón mua từng quả bí nương từng đọt măng rừng từng mớ tép suối để vào giỏ xe rồi khi có "cuốc" là tranh thủ mang về nhà cho vợ con nấu nướng. Ông chắt chiu từng đồng bạc lẻ để mua từng cuốn vở từng cây bút cho đàn con năm đứa ăn học nên người toàn đại học với cao đẳng cả. Giờ ông lại xây được nhà đó chẳng phải là điều phi thường với một thi sĩ xe ôm nơi tỉnh lẻ hay sao!

Trước khi tôi đi Tạ Văn Sỹ điện thoại giọng reo vui: Tuỳ khúc ra rồi! Mời Thụy lên nhà nhậu mừng và mang giùm ra Hà Nội mấy cuốn tặng các nhà văn. Tôi phóng xe lên nhà ông nhưng ngồi đợi mãi đến 11 giờ đêm mới thấy ông về. Chiếc xe máy cà khổ chở một bao tải nặng những cục vuông vuông. Tôi chạy ra bảo bác in thơ nhiều thế này lấy tiền đâu trả? Tạ Văn Sỹ không nói gì nét mặt có vẻ buồn mệt. Ông vuốt mồ hôi trên mặt rồi lễ mễ bê chiếc bao sang nhà... bà chủ quán bún bò giò heo! Tôi hoảng hồn khi thấy ông cởi dây buộc túm đáy bao rồi trút tất cả vào... bếp. Tôi bật cười vì những thứ trong bao không phải những tập thơ mà là những đầu mẩu xà gồ cây que gom ở công trường về cho em gái nấu bún.

Đến lúc ấy tôi mới biết rằng bà chủ quán bún là em gái nhà thơ. Vì thương ông anh vất vả nên bà đã nghĩ ra cách "trao đổi hàng hai chiều" bà có củi để ninh chân giò còn nhà thơ thì có bún bò giò heo mỗi sáng. 

 Nhìn cảnh hai anh em nhà thơ lui cui trong căn bếp điện đỏ hoắt hoe giữa đêm khuya vắng trong tôi dấy lên cảm giác thật buồn. Cuộc sống của nhà thơ phố núi vẫn còn lầm lụi lắm. Có lẽ ông trời muốn Tạ Văn Sỹ phải sống một cuộc đời nhọc nhằn như thế để có những câu thơ gió bụi nhưng vẫn ánh lên những tia lấp lánh tài hoa?

Đỗ Tiến Thụy

More...

CHUYỆN THÀNH NHÀ MẠC Ở TUYÊN QUANG

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Ghé blog nữ sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh (nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đương kim Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên - Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên) quá ngỡ ngàng với chuyện "trùng tu tôn tạo" Thành Nhà Mạc! Liên tưởng đến chuyện các Di tích lịch sử cấp quốc gia ở Kon Tum quê mình (đã đưa trên blog này) mà buồn! Chuyện làm biến dạng (kể cả biến mất) các Di tích cổ đang là vấn đề đáng báo động trên cả nước. Không rõ các vị hữu trách nghĩ gì? Chuyện Thành Nhà Mạc không phải của riêng Tuyên Quang mà là của toàn quốc gia dân tộc. Xin được đưa lại đây để bạn bè nào chưa đọc blog Thúy Quỳnh có thêm một thông tin. Nhất là các bạn ở Kon Tum sẽ có dịp ngẫm nghĩ thêm về mấy cái "Di sản" ở xứ mình! Xin bấm vào "Đường dẫn cố định".

Nguyễn Thúy Quỳnh

"BỖNG DƯNG MUỐN KHÓC" VỚI THÀNH NHÀ MẠC TUYÊN QUANG

nguyenthuyquynh 09 September 2010 17:09 Album Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (36) Bản in

Lần đầu tôi đến Tuyên Quang là năm 1987. Quyên chở tôi bằng xe đạp đi qua tường thành rêu phong khuất lấp sau những rễ si tua tủa đầy vẻ cổ kính kiêu hãnh giới thiệu: Thành nhà Mạc đấy! 
Quyên sinh ra và lớn lên ở Tuyên nên tự hào về cái thị xã xinh đẹp này lắm. Mà hình như tất cả những người Tuyên tôi gặp đều giống Quyên. Thành nhà Mạc là một phần niềm tự hào của họ.







Thành nhà Mạc ở Tuyên Quang được xây dựng từ thời nhà Mạc vào khoảng năm 1552 còn gọi là thành Tuyên Quang. Thành được xem là một biểu tượng lịch sử của vùng đất Tuyên Quang được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.


Những năm sau đó  tôi còn nhiều dịp trở lại thị xã Tuyên Quang và nhìn thành nhà Mạc với cái nhìn của bạn tôi thành kính ngưỡng mộ một thời lịch sử mà nhờ nó một phần của cái thị xã bé nhỏ này có một cái tên rất ấn tượng : Thành Tuyên.





Hôm qua trở lại  tôi và những người cùng đi bất ngờ đến sửng sốt trước cái vật thể này:










Được biết chúng là một phần của công trình tôn tạo trị giá 9 8 tỉ đồng từ nguồn vốn của
Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa do Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch cấp.  Sau nhiều tháng thi công  đã kịp chào mừng thị xã Tuyên Quang được nâng cấp lên thành phố tháng 7 vừa qua.

Mấy văn nghệ sĩ Tuyên Quang đi cùng gọi là cái lò gạch. Dấu ấn cổ kính nhất của thành Tuyên hơn 450 năm tuổi bây giờ là cái "lò gạch" 1 tuổi.

Bao giờ được 450 năm nữa để nó bằng tuổi nó của... năm ngoái?

Quyên bây giờ theo chồng không còn ở Tuyên nữa. Lướt blog của mình  nhìn thấy mấy cái ảnh này Quyên có "bỗng dưng muốn khóc" không nhỉ? (xin lỗi nhé lười nghĩ nên mượn cụm từ này!)

Chả lẽ tại mình dân trí thấp nên nhìn gà hóa cuốc thế vì người ta bỏ gần chục tỉ chắc phải dự án dự iếc ngon lành lắm chứ di tích quốc gia ngân sách nhà nước niềm tự hào của địa phương... có phải chuyện "oẳn tù tì ra cái gì ra... cái lò" đâu.
Chẳng biết hay dở đúng sai thế nào...Chỉ thấy mình "bỗng dưng" muốn... post cho Quyên xem!

HAI BỨC THƯ VÀ MỘT BÀI THƠ TỪ TUYÊN QUANG

nguyenthuyquynh 26 September 2010 08:26 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (0) Bản in

     Ngày hôm qua có 2 người Tuyên Quang gửi email và tin nhắn cho tôi đó là nhà văn Vũ Xuân Tửu và một người tôi chưa quen biết.

    Nhà văn Vũ Xuân Tửu cho biết "dư luận bên này về lò gạch ngày càng bùng phát" và lý giải nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc thành nhà Mạc bị hủy hoại:

    "Nguyên nhân dẫn đến sự vụ này thì có nhiều nhưng cái cơ bản nhất theo mình đó là đặt sai vị trí xây dựng cầu Nông Tiến làm cho sạt núi Thổ Sơn phá hủy thành Nhà Mạc nối đường Tân Trào lên cầu.cổng Tây Môn đứng giữa ngã tư đường Bình Thuận-Tân Trào bỏ không xong để thì che khuất tầm nhìn giao thông có nhiều vụ tai nạn chết người ở đó rồi. Con hào ngoài thành bị lấp đi làm đường Bình Thuận..."

    Còn tin nhắn từ số điện thoại 09827... thì có nội dung như sau: Tôi là một người dân Tuyên Quang. Tôi vào mạng và đọc được bài của chị viết về thành nhà Mạc và thác Mơ. Tôi cung cấp thêm một cái phá hoại nữa của ngành văn hóa. Họ phá toàn bộ một cái đền đã có mấy trăm năm để xây mới. Đó là đền Cấm ở xã Tràng Đà cách cầu Nông Tiến khoảng 2 cây. Đền này rất linh thiêng và nhiều du khách đến hành hương. Tôi rất buồn..."   

 (Xem tiếp)

BÁO CHÍ VÀ DƯ LUẬN SÔI NỔI VỀ VỤ "LÒ GẠCH" TUYÊN QUANG

nguyenthuyquynh 25 September 2010 09:01 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (4) Bản in

Tiếp theo báo Lao Động ngày hôm qua các báo Vietnamnet Dân Trí Đất Việt đã bình luận lấy ý kiến của các học giả xung quanh sự kiện tôn tạo di tích thành nhà Mạc - Tuyên Quang thành "lò gạch".

 Bao giờ trở lại... ngày xưa?

 PGS-TSKH Nguyễn Hải Kế phản ứng khá gay gắt bởi ông rất bức xúc trước sự biến mất của một di tích lịch sử giá trị còn công trình mới được xây dựng theo ông là vô giá trị.

 "Tôi vô cùng bất ngờ và ngạc nhiên khi nhìn hình ảnh thành nhà Mạc bị biến dạng một cách kỳ quặc. Nghe người ta gọi thành nhà Mạc là cái "lò gạch" mà tôi thấy chua xót quá. Cần khôi phục lại thành nhà Mạc" - Nhà sử học DươngTrung Quốc chia sẻ.

 Nhà báo nổi tiếng  Trực Ngôn người được bạn đọc trông đợi hàng tuần với mục Phát ngôn& Hành động trên tuanvietnam.net viết những dòng phẫn nộ và chua xót bởi đây không còn là chuyện của riêng một địa phương mà là chuyện ứng xử với quá khứ của người Việt hôm nay:

 Sự biến mất của những cổng Thành Tuyên rêu phong cổ kính là một cái chết của văn hóa. Nếu bạn là người có trí tưởng tượng bạn sẽ thấy thi thoảng một di tích lịch sử hay di tích văn hóa trên đất nước chúng ta từ từ gục xuống bởi những viên đạn phi văn hóa bắn tỉa.

Nhưng mãi mãi cho đến khi giã từ cõi đời này tôi cũng không sao hiểu nổi vì sao những người quản lý văn hóa của Tuyên Quang cao hơn nữa là lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang và những cơ quan liên quan khác lại giết chết những di tích lịch sử vô giá kia và hung hăng đặt vào đó những cái lò gạch mới thê thảm tốn hàng tỷ đồng của Nhà nước. Và ngay cả những lò gạch mới xây ở Tuyên Quang cũng không có thẩm mỹ bằng những lò gạch thực sự mà chúng ta vẫn nhìn thấy ở một số làng quê.

Nếu vô tình mất đi những cổng Thành Tuyên rêu phong kia do thiên tai do chiến tranh... chúng ta có tiếc nuối nhưng không phải hổ nhục.Nhưng những di tích lịch sử ấy mất đi là do sự cố tình của con người. Mà những con người này lại không phải là bọn đào vàng hay đào mộ cổ tìm của quý phá hoại mà do chính một số người mang danh nhà quản lý văn hóa phá hoại. Đó là một sự hổ nhục ê chề.

Và không ai có thể biện minh cho những hành động phi văn hóa này. Xin quý vị nào định lên tiếng bảo vệ cho những hành động nói trên hãy"uốn lưỡi 7 lần" trước khi lên tiếng. Các quý vị hãy hỏi lương tâm và sự hiểu biết của mình thử xem. Nếu các quý vị không trả lời được câu hỏi đó thì hãy hỏi những người thân của mình thử xem.

Công luận đã lên tiếng đã tranh đấu về những cái chết văn hóa như thế này nhiều năm nay rồi. Nhà nước cũng đã ban hành bao chính sách vể bảo vệ các di tích lịch sử và văn hóa nhưng chúng ta vẫn cứ phải chứng kiến những di tích lịch sử di tích văn hóa và cả những di sản thiên nhiên bị giết chết một cách công khai bởi những người được giao nhiệm vụ bảo vệ. Nghe thật bi hài nghe thật kinh hãi nghe thật hổ nhục và nghe thật không tin nổi.

Nhiều trang mạng và blog tiếp tục bàn về chuyện này.

        Blog của nhà văn Phạm Viết Đào tiếp dòng dư luận bằng bài viết "Ai là thủ phạm phá thành nhà Mạc Tuyên Quang" từ một comment ở blog củaNTQ. Nhưng hình như bác Đào không để ý đây là một bài trên báo Tuyên Quang điện tử bạn đọc "men" post lại cho NTQ thôi. Tác giả Lê Quang Hòa viết ngày 23.11.2009 khi sự việc còn đang diễn ra kia mà.Bài của bác Đào có chỗ nhầm lẫn: "Tóm lại việc đầu tư tôn tạo di tích thành nhà Mạc ở Thái Nguyên". Oái sao bác lại "tóm" Thái Nguyên vào đây nhỉ?!!! NTQ định còm bên bác mà mạng báo lỗi không có chỗ nào để còm đành viết luôn ở đây nếu bác đọc được thì sửa bên đó nhé.

Nghe nói hôm nay các nhà quản lý văn hóa ở Tuyên Quang sẽ lên tiếng trước báo chí và dư luận. Chúng ta cùng chờ xem.  

BÁO LAO ĐỘNG ĐÃ LÀM PHÓNG SỰ VỀ "CÁI LÒ GẠCH" THÀNH TUYÊN!

nguyenthuyquynh 23 September 2010 18:35 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (4) Bản in

Tôi rất vui vì sau khi post entry "Bỗng dưng muốn khóc với thành nhà Mạc Tuyên Quang" nhiều đồng nghiệp và bạn đọc đã hưởng ứng. Nhà văn Trần Nhương nhà văn Phạm Viết Đào tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện và nhiều bloggerđã post lại khiến số người quan tâm đến sự vụ này đã khá đông đảo. Còn nhà báonổi tiếng của làng phóng sự Việt Nam Đỗ Doãn Hoàng thì đã nhanh chóng tác nghiệp và "xuất chiêu" bằng phóng sự này:

 Biến di tích 400 tuổi thành 1 ngày tuổi

Bây giờ thì chúng ta cùng chờ xem sức mạnh của báo chí và internet ra sao những người có liên quan sẽ nói gì.

Nhưng mà nói gì thì nói thành cổ cũng đã vĩnh viễn biến mất. Còn cái lò gạch trơ trơ kia thì người ta phải làm gì với nó bây giờ?Hay là cứ để thế và gắn biển: "Đây là bằng chứng của sự phá hoại di sản"! 

More...

ĐÁ ĐỒNG VĂN

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa:  Mải chúi mũi vào đống "sưu tầm" thơ Kon Tum 100 năm không viết gì mới. Có người bạn gọi hỏi sao không kể tiếp những chuyến đi? Xin viết vội bài này kẻo để lâu ngày nhớ quên lẫn lộn. Vì vội nên xin lỗi các bạn Hà Giang có gì sẽ "bổ sung sửa chữa" sau vậy!

 

Những ngày đầu tháng 10-2010 cùng với không khí náo nức Đại lễ Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội thì cũng là lúc cả nước tiếp nhận những tin vui: Khu Hoàng Thành Thăng Long được UNESCO trao bằng Di sản Văn hóa thế giới và Cao nguyên đá Đồng Văn - Hà Giang cũng vừa được công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu!

Hà Giang là tỉnh cực bắc Việt Nam. Nhìn trên bản đồ đường biên phía Bắc nước ta giống hình chiếc nón lá phụ nữ Việt Nam thường đội - Hà Giang là cái chóp nón ấy nơi có cao nguyên đá Đồng Văn với mỏm tột cùng Lũng Cú. Hà Giang những ngày này cũng dồn dập niềm vui: Ngày hôm trước (2-10) tổ chức lễ hội tưng bừng đón nhận Quyết định của Chính phủ nâng cấp Thị xã tỉnh lỵ lên Thành phố ngay ngày hôm sau lại đón tiếp tin Xứ Đá của mình được công nhận là Cao nguyên Địa chất toàn cầu!

Từ thành phố Hà Giang đi chừng chưa đầy 50 km gặp dốc Cổng Trời Quản Bạ. Đến đây là đã chạm vào Xứ Đá. Cổng Trời là hai vách núi đá dựng đứng sừng sững thành chiếc cổng tự nhiên để mở toang ra trước mắt một Quản Bạ lạ lẫm mênh mông giữa lưng chừng trời. Tên gọi Cao nguyên đá Đồng văn là gọi chung khu vực rộng lớn 4 huyện Đồng Văn Mèo Vạc Yên Minh Quản Bạ. Quản Bạ như bức tranh lập thể kỳ vĩ. Độc đáo hai chiếc núi tròn đều như ngực người phụ nữ nằm ngửa là ấn tượng đầu tiên đập vào mắt người thăm. Có người gọi là núi Đôi người gọi núi Cô Tiên anh bạn sính chữ nghĩa thì gọi cách thi vị là... Song Nhũ Sơn!

Bắt đầu từ đây con người ta phải trườn lên đá mà đi. Liên tục những khúc cua chữ M chữ W... Đoạn Quản Bạ - Yên Minh còn thấy lác đác một ít mảnh nương rẫy đất màu nho nhỏ giấu mình sau lũng hẹp. Sang đến Mèo Vạc đã trùng trùng đá núi! Ngờm ngợp đá trong mắt nhìn nhức nhối một màu xám xịt trọc trơ! Đá lóc nhóc lô nhô như được đặt bày được chăm trồng! Đá mọc lên trồi lên mặt đất như một vụ được mùa! Thậm chí có vô vàn cột đá dựng cao chen chúc như rừng cây hóa thạch trên con đường đá dẫn về chợ tình Khau Vai nổi tiếng cảnh sắc vô cùng kỳ thú.

Con đường 4C "kỳ tích" (tính đến Lũng Cú tròm trèm 190 km được làm gần 10 năm mới xong) được đục ra từ núi đá cứ hun hút chênh vênh trườn giữa vách cao dựng đứng hứng đựng ào ạt gió trời và vực sâu ngui ngút lởm chởm đá sắc nhọn như chông. Ai chưa đến không thể hình dung ra cảnh sắc có một không hai! Sẽ không có tài ăn nói nào tài viết lách nào tài quay phim chụp ảnh nào có thể diễn tả hết được hiện thực nơi đây nếu không đến tận nơi mục sở thị! Xin ghi lại vài cảm xúc và kỷ niệm chuyến đi từ 2007 không dám mong "mô tả" "diễn đạt" gì hơn về một Đồng Văn kỳ vĩ.

Từ Mèo Vạc "bò" đường lên Đồng Văn. Thị trấn Đồng Văn có khu phố cổ nhỏ như một mảnh xưa còn sót lại. Gặp đúng hôm rằm có phiên chợ đêm. Ánh trăng nhòa mờ sương núi hòa với bóng đèn lồng cho sắc đá nơi đây thêm lung linh huyền hoặc. Bà con Mông La Chí Pu Péo... tụ về bán buôn trao đổi chuyện trò... Những bóng áo chàm loang loáng lại qua như bóng đá xạ chiếu hắt về. Sà vào quầy thắng cố chiêu vài ngụm rượu ngô ngồi lặng lẽ ngắm nhìn những bóng người lặng lẽ. Ô hay chợ mà sao vẫn có cảm nhận tất cả đều đang... lặng lẽ!

Cuối đường là chóp nón Lũng Cú! Xa xa chừng cây số đã nghe tiếng phần phật của lá cờ Tổ quốc rộng 54 mét vuông (tượng trưng 54 dân tộc) reo trong gió rừng ào ạt. Leo lên từng bậc đá xây cao đứng dưới chân Cột Cờ nơi đỉnh núi Đầu Rồng phóng tầm mắt nhìn sang Thập Vạn Đại Sơn của Trung Quốc ngui ngút khói sương chiều ngỡ chừng vô tận. Những bản làng thưa thớt... như những chiếc cúc áo bé xíu đính vào tấm áo chàm rộng lớn mênh mông màu xám tro đá núi. Ra thôn Sẻo Lủng "tột bắc" nhớ tại nơi này năm 1964 nhà văn Nguyễn Tuân tỉ mẩn treo tấm bản đồ lên vách lấy dây giọi giọi xuống mũi Cà Mau để xem 2 mỏm nơi 2 đầu đất nước lệch nhau bao nhiêu độ!

Bữa cơm chiều Nhà Khách dọn toàn thịt và thịt! Hỏi xin đĩa rau xanh thì... khó hơn đặc sản! Người quản lý Nhà Khách nói như đùa mà... thật rằng: -"Anh thấy đấy chỉ đá và đá khát khô nguồn đất và nước lấy đâu rau sẵn hở anh! Con người ở đây sống trên đá chết chôn vào đá. Đá trong cuộc sống thường ngày và đá trong cả đời sống tâm linh. Có thể nói ở đây là cả một nền... "văn hóa đá" đấy anh ạ!

Đêm bất ngờ gặp nhóm thầy cô giáo trường Tiểu học. Thầm bái phục những con người miền xuôi về đây bám trụ. Thoáng để ý nét cười của vài cô giáo trẻ để kiểm chứng chi tiết trong bài bút ký của nhà thơ Cao Xuân Thái rằng các cô thèm rau nên phải ăn (và chỉ ăn) toàn lá cây ngải đắng. Nhựa ngải đắng nhuộm xỉn màu những hàng răng trắng ngọc như ngà! Lại nhớ câu thơ của bạn thơ nữ trẻ Chu Minh Huệ của xứ này: -"Thôi mà về nhé tháng năm/ Mỗi mùa ngải đắng em nằm trốn đông/ Một mình nghe núi rỗng không/ Gió hoang dồn vách mà ngong ngóng người"... Ơ hờ buồn quá thể!

Lúc đi vì chưa biết nên cứ thế mà đi đi hăm hở đi vồ vập. Đêm bâng lâng hơi rượu núi nằm trằn trọc nơi chóp đỉnh đá trời vẩn vơ nghĩ đến đường về mà... sợ! Vâng sợ thật sự! Đường sá kiểu này chẳng may...

Nhưng cũng phải về thôi! Ngang đỉnh Mã Pì Lèng ngun ngút trời cao. Nhớ thơ "Mã Pì Lèng" của Xuân Diệu nhưng cũng không thể nào không liên tưởng đến thơ "Tây tiến": -"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời/ Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống..."! Phải nắm chắc vào thanh lan can xây sẵn nơi mỏm đá sát mép vực để nhìn xuống dòng sông biên Nho Quế thăm thẳm dưới sâu. Có cảm giác chóng mặt như có ai ấn đầu mình cắm nhào xuống dưới mù tăm kia! Sông không phải màu xanh bình thường của nước mà là màu của trời cao bị kéo hút xuống vực sâu khúc xạ với vách đá đen mà thành một thứ màu của cõi... âm ti!

Dốc Chín Khoanh như chơi trò ú tim trốn tìm hồi hộp suốt dọc đường về. Chín Khoanh cũng chỉ là một cách gọi thi vị chứ đèo dốc ở đây biết bao nhiêu khoanh mà đo đếm rạch ròi mà nhớ ghi cho hết!

Ôi kỳ vĩ xứ Đá Thiêng địa đầu Tổ quốc! Chợt hiểu ra vì sao người nơi đây gọi con đường giao thương huyết mạch này là "cung đường Hạnh phúc"!

Tạ Văn Sỹ

More...

TRÚC THÔNG bình thơ (Bài 2):

By tavansy@gmail.com

 

KHÚC ĐƯA NGƯỜI

                                                                                         

Đưa người về buổi học chiều

Mây bay cũng có ít nhiều xót xa

Đưa người bóng nhỏ lòng ta

Xoè muôn cánh phượng giăng hoa ven đường

Đưa người bóng nhớ bóng thương

Biết mai sau bóng nào vương vấn đời

Đưa người bước nhỏ chia đôi

Cho đường chậm với tình tôi thật thà

Đưa người không đưa đường xa

Lỡ mai đời khuất mất ta mất người.

(Trích từ tập thơ "Cõi người" - Tạ Văn Sỹ)

Lời bình của Trúc Thông: -Si mê đã hẳn rồi nhưng nhút nhát e dè ẩn chứa nhiều lo lắng trân trọng của một trái tim trong trắng để dành. Nhịp lục bát từng cặp trầm buồn nghiêng về cello chứ không phải violon da diết như thể một sérénade. (Bản nhạc chiều cũng có thể dịch là Dạ khúc). Năm cặp lục bát mỗi câu sáu đều láy "Đưa người..." "Đưa người...". Cho nên cái đề bản thơ là rất ứng hợp.

Nếu vụ lợi nhằm đoạt được tình yêu của người mình yêu thì đầu đề "Khúc đưa người" nghe thật sái đã hàm ẩn trong ấy một bất thành một chia biệt ở thời tương lai. Nhưng "thắng lợi của bài thơ của tác giả không phải ở chỗ đoạt chiếm. Người đọc thương mến nghe rười rượi một âm hưởng chân thành một dâng hiến không đòi hỏi. Và đó là ngọt lành của tình người ươm trong đẩy đưa ngôn ngữ. Vị đắng của sự thật là một thứ bóng lảng vảng ở chân trời. (Đưa người không đưa đường xa/ Lỡ mai...). Hãy cứ dâng trình hồn tôi  ở buổi chiều này ở tuần tháng này ở thời gian này. Thương lắm nâng giấc lắm!...

Đưa người bóng nhỏ lòng ta

Xoè muôn cánh phượng giăng hoa ven đường

Không phải biết khéo miệng lượn lời đâu! Cứ từng nhịp chân nhẹ chậm dùng dằng của tôi rồi cũng sẽ tới một ngã rẽ "quy định" ngầm giữa chúng ta là em hẳn biết cả rồi!

Đưa người bước nhỏ chia đôi

Cho đường chậm với tình tôi thật thà.

Âm hưởng bài thơ đã vương vấn tôi từ vài tháng nay mỗi khi thầm nhẩm lại. Âm hưởng của chân thành nghệ thuật. Không rối lời khoe chữ. Thật giản dị nhưng đã vẽ nên đủ sắc thái của một tâm cảnh dâng hiến trân trọng phập phồng thắc thỏm... Hình như trong đời thơ một thi sĩ có lúc gam màu hiền trầm còn "ăn" hơn những gam màu chói ánh.

                                                                                                        Trúc Thông

                                                                                       (Trong tập "Mẹ và em")

More...

TRÚC THÔNG bình thơ:

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa:  Sau khi giới thiệu bài bình thơ của các bạn văn sực nhớ mình cũng có 2 bài được nhà thơ Trúc Thông bình đã từ lâu trên báo Phụ Nữ Việt Nam sau đó in lại vào tập phê bình - tiểu luận "Mẹ và em" của ông. Xin trình ra đây luôn thể!

VIẾT CHO CON TRAI

Bà sinh cha bà đau thế nào

Mẹ sinh con mẹ đau ra sao

Cha

Gã-đàn-ông-vô-tình

Làm sao biết được

Và con

Hỡi chú-bé-trai-vô-tình

Làm sao biết được

Cha con ta

Những tên đàn-ông-con-trai-vô-tình

Làm sao biết được ngọn nguồn

Những cơn đau sinh nở

Nhưng

Khi nhìn bà khổ

Khi thấy mẹ buồn

Cha

Gã đàn ông vô tình

Lại vô tình

Đau như trở dạ.

(Trích từ tập thơ "Mặt đất"- Tạ Văn Sỹ)

Lời bình của Trúc Thông: -Bài thơ có ngôn ngữ giản dị này gợi ý về sự sẻ chia với nỗi khổ về sự biết ơn với những người phụ nữ thân thương nhất của cuộc đời mình.

Đoạn một và đoạn hai từ "Bà sinh cha bà đau thế nào..." đến "...Những cơn đau sinh nở" qua các ý nhỏ "gã-đàn-ông-vô-tình" "chú bé-trai-vô-tình" rồi đến "những tên đàn-ông-con-trai-vô-tình" đều diễn đạt một ý chung khái quát: -Những người thuộc giới tính nam đều không sao cảm hiểu hết nỗi đau xé thịt xé da khi vượt cạn của những người phụ nữ dù là người mình gần gũi thương yêu nhất.

Đoạn ba: -Lật lại sự vô tình nam tính đó cha nói để con thấm thía rằng chính cái "gã- đàn-ông-vô-tình" kia lại đã vật vã không yên trong một nỗi đau gần như đau trở dạ của những người phụ nữ ấy. Đó là những khi hay nói đúng hơn là nhiều khi chứng kiến những nỗi buồn nỗi khổ những bất hạnh cuộc đời mà bà và mẹ của con phải chịu đựng. Từ nỗi đau da thịt vật chất tác giả Tạ Văn Sỹ chuyển sang nỗi đau tinh thần. Ý thơ khép lại dựa trên một cái trục ý cái xương sống của tứ thơ toàn bài là nỗi đau sinh nở nỗi đau trở dạ. Hoạt động cấu tứ của bài thơ đã diễn ra rõ ràng chặt chẽ đầy sức thuyết phục.

Qua nghệ thuật cấu tứ qua sự phát triển ý thơ bằng thủ pháp lặp từ có thay đổi chút ít ("gã-đàn-ông-vô-tình" "chú-bé-trai-vô-tình" "những tên đàn-ông-con-trai-vô-tình") hoặc lặp từ nguyên xi ("gã-đàn-ông-vô-tình") ở đoạn ba là nhà thơ muốn xoáy ngày mỗi sâu hơn vào nỗi ân hận nỗi day dứt. Xoáy sâu vào tâm trạng như thể một mặc cảm tội lỗi do từng trải đời sống mà người cha đã chứng nghiệm. Nay muốn trao lại tất cả những nỗi niềm ấy cho con trai của cha rằng: -Chúng ta đã sống quá vô tình vô cảm trước xiết bao đau đớn hy sinh vất vả gian lao mà những người phụ nữ đã sinh thành và gắn bó cùng ta suốt đời phải hứng chịu.

Những hiểm nguy sinh nở đã đúc kết ngàn năm thành ngạn ngữ Việt Nam: -"Người chửa là cửa mả" "Nuôi con trong bụng chín tháng mười ngày" v.v... Sự sinh đẻ ra một con người đâu phải dễ dàng mà đó chính là một cuộc "vượt cạn". Nó tương đương lớn lao khác nào một cuộc vượt biển đầy nguy khốn. Những người phụ nữ thực hành thiên chức thiêng liêng mà đớn đau rất mực ấy trong cuộc sống khốn khó hiện nay ở nước ta ở vùng Đông Nam Á và châu Á chúng ta ở cả thế giới chúng ta những nặng nhọc những thiệt thòi những hứng chịu vẫn còn đổ dồn xuống rất nhiều trên số phận họ. Chúng ta hãy cảm thương chia sẻ. Hãy luôn luôn dằn vặt tự vấn. Hãy suy nghĩ không ngừng về thực tế bất công với phụ nữ còn đầy rẫy. Chí ít cũng nên biết tự hành xử như một nỗi "đau trở dạ" trong cõi tinh thần của người cha trong bài thơ:

"Khi nhìn bà khổ

Khi thấy mẹ nuồn

Cha

Gã-đàn-ông-vô-tình

Lại vô tình

Đau như trở dạ!".

Sự ngắt chữ xuống dòng sự chơi chữ ("Gã-đàn-ông-vô-tình/ Lại vô tình...") sự lặp từ nhấn từ đặt vào vị trí kết bài ("Đau như trở dạ")... Những thủ pháp nghệ thuật trong bốn dòng thơ cuối đã nhằm tạo hiệu ứng day dứt như một tự thú một tạ lỗi cho sự "chí ít ra" là thức tỉnh lương tâm của người con người chồng và người cha trong mỗi người đàn ông.

Trúc Thông

(Trong tập "Mẹ và em")

More...

ĐẾN VỚI THƠ HAY

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Trong lúc mải mê bù đầu vào mớ bòng bong tư liệu để làm Tuyển tập Thơ Kon Tum 100 năm không viết được gì mới thì rất vui nhận được lời bình về bài thơ của  tác giả trẻ Đặng Thị Thúy cô bạn nhỏ vẫn âm thầm lặng lẽ dạy học viết văn và làm thơ nơi cuối trời Đông Bắc Móng Cái - Quảng Ninh. Là bạn văn chương xin giới thiệu vào đây để bạn bè cùng đọc với nhau. (Xin giới thiệu thêm: Đặng Thị Thúy đã đoạt giải Văn học Trẻ của báo văn nghệ Hạ Long (Hội VHNT Quảng Ninh) năm 2007. Cũng xin phép tác giả Vũ Trọng Hoài có "biên tập" lại đôi chỗ vì có lẽ vội viết vội gửi nên chưa được "kỹ" lắm!).

LẠC GIỮA ĐÔI DÒNG TƯƠNG TƯ

VŨ TRỌNG HOÀI

Giữa lúc người ta đang tìm cách hiện đại hoá những vần lục bát bằng việc băm vằm chặt chẻ nó ra thành mảnh khúc rã rời; hoặc nhọc sức tìm kiếm những hình ảnh lạ lùng chữ nghĩa lổn ngổn... thì Đặng Thị Thuý (Hội viên Hội VHNT Quảng Ninh) lại tìm về lối quen mượt mà nhẹ nhàng thanh tao ngọt ngào như điệu hát lời ru xưa. Điều kỳ diệu là đằng sau cái tưởng chừng khuôn sáo ấy lại khiến người thưởng thức xúc động bởi sự ngầm chảy thao thiết của một tâm hồn nhạy cảm tinh tế. Ấy là bài thơ LẠC GIỮA SÔNG QUÊ đăng trên blog HOA PHONG DU (hoaphongdu.blogtiengviet.net) ngày 2/3/2010:  

LẠC GIỮA SÔNG QUÊ

            "Sông quê nước chảy đôi bờ
                                   Để em chín dại mười khờ thương anh"...


Có ai về phía sông Chanh
Nhắn em theo với cho thành một đôi
Xuân về buông nắng ngang trời
Buông câu hát ví trách lời đong đưa


Em về chợ đã sang trưa
Trầu cau đã héo khách thưa cả rồi
Ngẩn ngơ còn mỗi mình thôi
Lạc chân bến vắng biết người nơi nao
Sông dài đất rộng trời cao
Thà vo nỗi nhớ ném vào thinh không
Tiếc gì một kiếp má hồng
Đa mang sao được cả chồng người ta!


Đò ngang một chuyến đã qua
Có còn chuyến nữa để mà ước mong
Nào đâu bên đục bên trong
Mình em lạc giữa đôi dòng tương tư.

                            Tác giả đã mượn cặp lục bát ca dao hết sức gợi cảm để đề từ cho bài thơ: -"Sông quê nước chảy đôi bờ/ Để em chín dại mười khờ thương anh"!
                       Ngỡ đây là lời than thân trách phận của người con gái trót nặng chữ tình rơi vào cảnh éo le mẹ cha cấm đoán trong thời phong kiến. Sự thật của cái "chín dại mười khờ" ấy được tác giả "hóa giải" khi đọc trọn bài thơ.
                             Dẫu nấp sau bộ cánh "liền chị" e ấp với câu hát huê tình trong lễ hội mùa xuân nhưng người con gái trong bài thơ không thể giấu được nét hiện đại qua những từ ngữ bộc lộ cá tính và khát khao thiết tha ngay ở khổ thơ đầu: "Có ai về phía sông Chanh/ Nhắn em theo với cho thành một đôi/ Xuân về buông nắng ngang trời/ Buông câu hát ví trách lời đong đưa"...
            Trước sự vẫy gọi của những cuộc vui ở phía sông Chanh nàng chỉ cần một lời "nhắn" thôi là có thể "theo" để "thành một đôi"! Hai từ "buông" trong cặp lục bát e rằng có người sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh Thị Mầu trong chèo cổ với nghĩa "buông lơi" "buông thả"...! Ví dầu là như vậy thì nàng vẫn khá hoàn hảo là một cô gái truyền thống. Chính vì thế mà hệ quả cô phải gánh nhận: "Em về chợ đã sang trưa/ Trầu cau đã héo khách thưa cả rồi/ Ngẩn ngơ còn mỗi mình thôi/ Lạc chân bến vắng biết người nơi nao"?
                                  Điều khiến người đọc ngạc nhiên được đặt ở những vần thơ cuối: "Sông dài đất rộng trời cao/ Thà vo nỗi nhớ ném vào thinh không/ Tiếc gì một kiếp má hồng/ Đa mang sao được cả chồng người ta!/ Đò ngang một chuyến đã qua/ Có còn chuyến nữa để mà ước mong"?
               Giữa "sông dài đất rộng trời cao" nàng nén lòng: "Thà vo nỗi nhớ ném vào thinh không"! Nàng bơ   giữa đất trời... Nhưng nàng cả quyết: "Tiếc gì một kiếp má hồng/ Đa mang sao được cả chồng người ta!". Thế là đã rõ cái nàng cần là phiên chợ là cuộc du xuân kia chứ tình duyên... Thật trớ trêu thay!
                Trở về khổ thơ đầu mới nhận ra chân dung người con gái trong bài thơ thật đẹp. Cái đẹp của nàng chính là sự yêu đời tựa như một bông hoa chan đầy hương sắc tuôn toả ngọt ngào. Niềm say mê ấy tưởng sẽ gặp niềm vui niềm hạnh phúc nào ngờ thật bẽ bàng khi chợ đã trưa khách đã thưa trầu cau đã héo bến vắng đò đưa... Một mình nàng ngẩn ngơ giữa ngổn ngang của lỡ làng muộn màng! Tiếc nuối và đau đớn nhưng nàng vẫn giữ vẻ đẹp nhân cách  thà "ném" hết thảy vào "thinh không" không vương vấn. Câu thơ như vỡ ra. Hình ảnh ẩn dụ như quằn quại dưới những cảm xúc chua xót ở những câu thơ ngỡ ngọt mềm mà... chát đắng.
                             Câu chuyện tình của cô gái thật cảm động. Nhà thơ đã rất khéo khi dùng những hình ảnh tượng trưng của tình yêu đôi lứa trong ca dao diễn tả những mạch ngầm trong tâm hồn của tuổi trẻ. Chính vì vậy hai câu cuối nhân vật trữ tình không bận lòng đến "đục-trong" mà là "lạc giữa hai dòng tương tư"! -Tất cả đều được dồn nén vào câu thơ cuối ấy!
        "Ngôi bảo tháp" 6 - 8 này được xây trên nền cũ thế mà vẫn mới mà không lẫn với bất cứ công trình nào và mang đến cho người đọc nhiều trường liên tưởng
!

 TRỌNG HOÀI

More...

ĐI TRẨY NƯỚC NON CAO BẰNG!

By tavansy@gmail.com

 

Định từ Hà Nội sẽ đi Cao Bằng bằng xe máy. Bạn bè dọa không khéo sẽ... "bỏ xác" không ở đèo Giàng thì cũng nơi đèo Gió nếu đi hướng Bắc Kạn sang; còn nếu theo hướng Lạng Sơn qua thì cũng... "dính đòn" không ở đèo Bông Lau cũng nơi đèo Ngườm Kim! Đã từng đi tứ xứ nhưng nghe nhiều người "góp ý" cũng đâm ra chờn chợn! Đành bắt ô tô khách mà... "đi trẩy nước non Cao Bằng" vậy!

Đến Phủ Thông. Nhớ ở đây rẽ trái là về Ba Bể. Còn bây giờ xe chạy thẳng là đi Cao Bằng. Qua thị trấn Nà Phặc thì đến đèo Giàng. Xe dừng nghỉ giải lao. Cơ man nào là măng thẩu! Măng vầu măng mai được bà con Tày Dao ở đây làm chua cùng ớt đỏ bỏ thẩu kê bày la liệt trong các lán trại nơi chân đèo để bán cho khách vãng lai. Mua một thẩu nhón một nhúm nhấm thử. Trời ơi cay! Cay xé lưỡi! Bỗng dưng liên tưởng mà nhớ anh lính thú ngày xưa nơi miền biên viễn: "Ba năm trấn thủ lưu đồn/ Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan/ Chém tre đẵng gỗ trên ngàn/ Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai/ Ăn thì măng trúc măng mai/ Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng!"...

Đến đèo Gió cũng cảnh tượng như đèo Giàng. Nghĩ lại những lời "đồn thổi" của bạn bè về hai con đèo. Có hơn gì đèo Cả đèo Hải Vân đâu càng không là gì so với Mã Pì Lèng ở Đồng Văn! Xe chạy u u gió ru man mác bất giác nhớ câu hát dạng đồng dao "Cao Bằng Cao Bẳng Cao Băng/ Cao hơn ngọn núi cao... bằng ngọn tre!" mà tự mỉm cười và nghĩ vẩn vơ rằng... có thật thế không? Lại nhớ ý nói vui: Cao Bằng ở trên cao nhưng lại rất... bằng! Đến nơi mới thấy không "gập ghềnh" như một số trung tâm tỉnh lỵ khác trong vùng cũng không bằng phẳng lắm mà có cái nét từa tựa trung du!

Thương hai người bạn trẻ họ Nông phóng viên báo Cao Bằng quá! Biết mình tranh thủ thời gian nên hai "chú em" đã nhiệt tình dầm mưa đội nắng đưa đi bất cứ nơi đâu bất cứ lúc nào! Ừ thì đi. Đầu tiên là về Hà Quảng thăm hang Pắc Bó. Chiếc hang đá nhỏ giữa lưng chừng đồi núp dưới tán rừng rậm rạp. Năm 1979 chiến tranh biên giới nổ ra hang bị đạn pháo khoét thủng một lỗ tròn trên đỉnh nóc. Bước xuống lòng hang nay không còn tối nữa nhưng vẫn nhớ tứ thơ Chế Lan Viên: "Chúng ta đến Nha Trang ngắm trời bể đẹp/ Có hay đâu hang Pắc Bó gió lùa/ Giường Lãnh tụ là hai hàng đá ghép/ Mảnh áo chàm Bác mặc quá đơn sơ...". Luồn lách vòng vo quanh đầu nguồn suối Lê-nin ngắm chiếc "Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng" rồi thập thững trèo lên cột mốc 108 nơi chỉ một bước chân là Người từ bên Trung Quốc đã về đến Việt Nam!

Trở ra thôn Nà Mạ nơi một hóc ruộng hẹp kẹt dọc giữa hai chân núi choãi vào viếng mộ Kim Đồng Nông Văn Dền. Mộ táng dưới chân núi ngay chỗ hy sinh. "Có cái chết hóa thành bất tử"! Rưng rưng tưởng tượng cái "anh Dền" này chắc là rất giống mấy cậu thiếu niên Tày - Nùng đáng yêu vừa bắt gặp tung tăng dọc đường ngoài kia! Một cảm xúc vừa yêu thương vừa quý trọng dâng ngợp trong lòng.

Đi Nguyên Bình. Rừng Trần Hưng Đạo thâm nghiêm trầm mặc. Dừng ở bãi đất nhỏ chân rừng. Nơi này ngày 22-12-1944 một đội quân chỉ có 34 người "áo vải chân không đi lùng giặc đánh" (Thơ Hồng Nguyên) được thành lập. Tấm phù điêu to rộng tạc lại nguyên xi bức hình tư liệu 34 con người đang thề quyết tử. Có người tỉ mẩn "phát hiện" ra một trùng lặp "hi hữu" ngẫu nhiên: Nếu cộng ngày và tháng thành lập đội quân (22+12=34) hoặc lấy hai số cuối của năm là 44 trừ cho số 9 đứng trước rồi trừ tiếp số 1 đứng trước nữa thì cũng sẽ ra 34 (44-9-1=34)! Luồn lách cây rừng trèo lên tụt xuống mấy sống trâu thì đến nơi có căn lán đóng quân của 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân khi ấy. So với Pắc Bó nơi đây còn giữ nguyên vẻ thẳm xa hoang vắng. Mà như thế này có khi còn tạo được cảm xúc nguyên sơ của một thời lịch sử chứ không khéo như nhiều nơi đã gần như biến thành khu... du lịch!

Hai bạn trẻ lại đưa thăm khu tưởng niệm đồn Phai Khắt là một trong hai nơi khi vừa thành lập đội quân non trẻ thô sơ đã tập kích trận đầu và thắng lớn. Bất giác như nghe đâu đây vọng lại khúc chiêu hồn "Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng. Núi cây rừng lắng bóng trong hình dáng của người anh hùng...".  Một luồng cảm xúc uy linh thế nào mà nước mắt chảy ròng trong khói hương tưởng niệm!

Bạn gợi ý mai về Trùng Khánh chơi thác Bản Giốc. Cái thác nước nổi tiếng này năm lớp Ba trường làng (1964) tít tận trong Nam tôi đã học ở một bài tập đọc. Bạn bảo bây giờ dòng sông Quây Sơn làm nên thác đẹp ấy đã chia đôi chỉ một nửa thuộc bên này! Cũng năm lớp Ba ấy tôi đã đọc bài sử về Nùng Trí Cao. Nhân vật lịch sử này có hai chiều quan điểm. Nhưng ở bên nào thì cũng là hình tượng một anh hùng nhuốm màu huyền thoại. Người từng được vua Lý Thái Tông bắt được rồi tha rồi phong đến Thiếu Bảo; người từng đánh chiếm đến 8 châu rộng lớn của nhà Tống làm Tống Nhân Tông điên đầu là đâu phải đùa! Người bạn trẻ chỉ về một vùng núi xa xanh bảo nơi ấy là thành Nà Lữ nơi đóng quân của nghĩa binh xưa nay hãy còn đền Khâu Sầm Đại Vương thờ Nùng Trí Cao hằng năm lễ hội vào mồng Mười tháng Giêng. Thì ra hôm nay mới đến được Cao Bằng nhưng chuyện ở Cao Bằng thì đã học đã đọc đã biết từ lúc còn để chỏm! Nhưng... tiếc quá cả hai nơi đều hẹn dịp khác thôi mai phải quay về!

Đêm thị xã Cao Bằng tĩnh lặng trong veo. Đoạn thành nhà Mạc phế tích hoang toàng càng như trầm tư cô tịch hơn bên ánh sáng hắt đèn của phố phường yên tĩnh. Sông Hiến sông Bằng lặng lẽ phận mình. Mọi âm thanh vang động của Cao Bằng nghe lắng vọng âm âm như một tiếng đàn đêm cô tịch! Ơ đúng rồi nhớ ra rồi... tiếng đàn đêm! Thảo nào mà cô bạn nhỏ người Tày xinh đẹp quê Đông Khê của Cao Bằng này có hẳn tập thơ tên "Tiếng đàn đêm"! Sực nhớ ra và... gọi bạn! Bạn đến với cả tập thơ mỏng mảnh xinh xắn và bình rượu núi trong veo. Thế là bên điểm hợp lưu Nước Giáp của sông Hiến sông Bằng mấy bạn bè nhẩn nha nhấm nháp... tiếng đàn đêm của Cao Bằng hoang sơ thơ mộng! Men rượu núi không lẫn vào đâu được!...

... Xin mượn mấy câu này của anh bạn thơ trẻ Hoàng Việt cùng đi để... gửi lại Cao Bằng khi tạm biệt: "Chưa lên cao đã gặp Cao Bằng/ Chưa thấy gió đã đèo Giàng đèo Gió.../ Chưa đi hết Ngườm Ngao Bản Giốc/ Đã sóng soài đèo Mã Phục dồn chân.../ Lỡ để lại nhà những cái cùng con/ Tôi đi cho hết nước non Cao Bằng"!...

Tạ Văn Sỹ

More...

PHAN THÀNH MINH

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Sẵn đà đưa bài của bè bạn anh em viết kỷ niệm những chuyến tạt ngang rẽ dọc thăm nhau trên bước giao du xin "mượn" khoản này của Phan Thành Minh ở Đà Lạt như một cách lấp vào chỗ trống khi mình chưa viết được gì mới!

                           TẠ VĂN SỸ - CON "THIẾT MÃ" BẤT KHAM!

          Tạ Văn Sỹ cũng tự nhận mình giống vậy! Vâng có lẽ đúng bởi có gì níu giữ được bước chân gã đâu? Gã cứ bon bon lang bạt rong ruổi trên khắp các nẻo đường Tây Nguyên đầy nắng và gió này để nuôi một "nỗi trăn trở" trong lòng thi sĩ của gã. Nỗi trăn trở ấy như một biến cố trong cuộc đời đã làm nên một bước ngoặt lớn trong suốt chiều dài nhân sinh quan của gã. Biến cố để tạo nên bước ngoặt lớn ấy chính là Thơ! Nó quay ngoắt gã vòng vòng ba trăm sáu mươi độ bắt gã ôm khư khư ba mươi năm có dư về cái mạch cội nguồn thơ nọ cho dù cuộc sinh nhai của gã vẫn đượm màu vất vả gian truân.

          Với bầy con trứng gà trứng vịt đang mùa ăn học gã như con vụ quay cuồng với cơm áo gạo tiền với sách vở bút nghiên. Lại thêm những cơn đau âm ỉ của "nữ hoàng thơ" yêu thương của gã. Cái cơn đau mà mới đây Tạ Văn Sỹ đưa vợ đi Sài Gòn chữa bệnh bác sĩ bảo chớ lo lắng gì vẫn bình thường. Đó là cái cớ để gã đón xe đò cho vợ về lại Kon Tum còn mình thì sẵn trớn tiếp tục cuộc "vi hành" xuống tít vùng đất phương Nam xa xôi giang hồ vặt! Chính gã thú nhận đã từng thủ thỉ với "nàng" rằng: -"Gắng nghe em ta sắp làm cha làm mẹ/ Những nỗi đau đời anh hứa sẽ đau chung" (Tặng vợ). Nỗi đau đời chung thì phải đau chung rồi ai không biết còn nỗi đau đời riêng mình thì có ai biết cho gã không?

          Nói vậy chứ gã thật lòng lắm đấy. Nghe đâu gã cũng có bệnh-sĩ-thời-tiết khá nặng đúng như cái tên cúng cơm của gã. Số là có lần gã có ba bài thơ in báo Văn nghệ Trẻ gã tí tửng nghĩ đến tí tiền nhuận bút còm xài tết. Bỗng dưng có một nường "áo cài khuy bấm" đang học viết văn ở Hà Nội viết thư cho gã nhỏ to rằng đời sinh viên nghèo quá không có tiền về quê ăn tết buồn! Gã liền động lòng trắc ẩn viết ngay giấy uỷ quyền gửi EMS cho nường đi lĩnh nhuận bút với lời đề nghị tặng luôn em tiền tàu xe về quê thăm u! Tết năm ấy gã ngắm ké hoa đào... bên nhà hàng xóm! Nhưng gã nào có ngán chi đâu lần này lại thêm một nường khác cũng không kém phần đài trang khuê các đã làm cho trái tim đa cảm của gã bứt rứt khôn cùng và gã đã viết cho nửa yêu thương cách xa ngàn dặm: -"Em cứ yên tâm em chớ nghi ngờ anh chỉ đọc cho những vì sao khuya vào những đêm mất ngủ để thơ anh sẽ biến thành tinh tú sáng đêm đêm như một nỗi mong chờ..." (Thơ tình cho người yêu).

          Chẳng rõ gã có chờ ai thật không nhưng có một nường Tôn Nữ yêu kiều của đất Thần Kinh trong một chiều xao xuyến vì đã phải lòng thơ gã nên... "Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua" tìm vào đến tận Tây Nguyên mong gặp cho được gã để rồi lặng lẽ nghiệm lại mình trên chuyến xe đò ngược lối về xuôi! Tôi tin và nghĩ gã còn nợ quá nhiều vào những nỗi bâng khuâng khắc khoải của kiếp người. Có lẽ gã còn đang chiêm nghiệm một vùng phù thuỷ ngôn ngữ cao xa nào đó chiêm nghiệm cái triết lý sống rất lão thực mà gã vốn có để chắc lọc và trân trọng những giọt mồ hôi thanh sạch những giọt nước mắt chân thành cảm thông như gã từng trang trải lòng mình ra cho người đời ngẫm ngợi: -"Nói được điều trung thực/ Không dễ như nói đùa/ Làm người dân chính trực/ Khó hơn là làm vua" (Tứ tuyệt không đề).

          Chỉ có ngôn từ thôi cũng đâu dễ làm cho ta thành người chính trực được dù gã có tự cho mình là tên ăn mày khốn khổ của ngôn từ mà mãi mang công mắc nợ với nhân tình. Gã phải làm ra mật ngọt làm ra nụ cười tiếng chim hót tiếng đàn ca để trả nợ đời. Ta đâu biết gã tự nói với chính mình với mọi người nhưng ta nhận thấy ở gã một chân thực đôi khi níu võng cả sự khắc khe của các nhà phê bình: -"Tôi chỉ thấy anh như/ Tên ăn mày khốn khổ/ Gom góp của đời làm vốn liếng riêng tư/ Nên suốt kiếp anh mang công mắc nợ/ Phải trả của vay bằng lãi suất ngôn từ!" (Thi sĩ). Vâng hãy ráng trả của vay ấy đi Tạ Văn Sỹ ạ!

          Còn đây Tạ Văn Sỹ tâm sự với con mình: -"Với đời ba trật đường đua/ Với con yên chí ba chưa mỏi chồn" (Làm ngựa cho con). Con thiết mã Tây Nguyên bất kham ấy chưa chịu bó gối bao giờ. Dẫu vẫn nghèo kiết xác nhưng gã đã làm nên những chuyến lãng du hi hữu suốt từ bắc chí nam khó có nhà thơ giàu có nào làm được. Gã đã đi qua nhiều miền đất yêu thương của Tổ quốc lặn lội qua các vùng địa linh nhân kiệt thăm thú nhiều danh lam thắng cảnh non nước hữu tình tìm gặp giao lưu với các "liền anh liền chị" và bằng hữu văn chương... Xúc cảm trước những tình bằng hữu thân thương từ bốn phương trời khi quay về cố quận gã viết: -"Người ơi người ở đừng về/ Hát chi giã bạn bên lề cỏ non/ Để ai sầu nhớ chon von/ Để ai tượng đá sườn non ngóng tìm..." (Giã bạn).

          Lần này thì tôi chộ được gã ngay đoạn chót của một chuyến lãng hành từ Tây Nam Bộ trở về Kon Tum gã rẽ ngang qua Đà Lạt. Quả thật lần đầu tiên gặp gã tôi cũng hơi bị ngỡ ngàng bởi cái nét "nhà" rất... "thơ" của gã! Đen như cây rừng cháy rắn chắc như con tê giác một sừng. Tôi thích gã ở cái đầu tóc không bao giờ chải chỉ ăn mặc gọn gàng bước đi không vội nói cười thoải mái tự nhiên. Vâng đêm ấy tôi cùng gã uống rượu. Người ta bảo rượu vào lời ra nhưng điều này không đúng lắm với Tạ Văn Sỹ. Gã uống rượu vào loại tầm tầm và hơi khép nép. (Có lẽ vì cái "sốt âm" của Đà Lạt mà gã chưa quen chăng?). Tôi chẳng mấy khi thấy gã dốc chén để nhìn vầng trăng soi đáy cốc bao giờ. Ăn ít nhấm nháp qua loa cốt để đưa cay nhưng gã không có dấu hiệu gì của "suy dinh dưỡng" cả(!). Trầm tư trong tâm sự ưa san sẻ suy diễn về những ganh ghét của cõi người. Tôi hỏi gã có biết bạn thơ Kiều Trung Phương ở Huế không gã bảo có biết tên tôi nói thế thì tôi sẽ đọc tặng mấy câu thơ của người ấy thế này: -"Lao xao đâu đó tiếng lời/ Khen chê thiên hạ thói đời hoa ghen/ Tỉnh say ta gửi vào men/ Say thì ít rượu đã quen... lọc người"!

          Ngày mai gã lại vòng qua Buôn Ma Thuột để dự Hội thảo về Văn học nghệ thuật khu vực Tây Nguyên. Hay quá đội văn nghệ tỉnh Lâm Đồng ngày mai đi phó hội thế nào cũng có thêm một nhà thơ chính hiệu "made in Việt Nam" đi cùng vì thế nào gã cũng quá giang chuyến xe của nhóm văn nghệ Lâm Đồng!

          Khuya tôi bảo cuộc vui nào cũng đến lúc tàn mười hai giờ đêm rồi đấy nghỉ sớm để mai lên đường hay còn muốn lục lạo gì thêm ở cái chợ Âm Phủ trên thiên đường của Đà Lạt này nữa không? Gã bảo không ngủ được phải đi chợ thôi. Đúng là con ngựa bất kham rồi! Thế là tôi cùng gã lang thang đêm Đà Lạt.

          Chia tay gã một giờ ba mươi phút sáng. Tôi nhắc gã chưa ký tặng tôi tập thơ mới vừa in gã buông một tiếng "Nợ"! Vâng thì gã bao giờ cho hết nợ? - "Nên suốt kiếp anh mang công mắc nợ/ Phải trả của vay bằng lãi suất ngôn từ" kia mà!

           Phan Thành Minh

          (Đà Lạt 2004)

More...