Nguyễn Thị Hạnh Weigh

By tavansy@gmail.com

 

*Sáng nay 30 Tết dậy sớm lướt mạng một tí vào trang phongdiep.net đọc được bài viết này thấy thích. Thích vì trong không khí Tết đang ăm ắp khắp trong nhà ngoài phố lại gặp được một bài viết rất... Tết! Thích vì một cô gái sang Mỹ khi hãy còn rất bé và đến những 15 năm lớn lên ở đấy mà bài viết biểu hiện một tâm hồn rất đậm đặc Việt Nam! Thích vì Hạnh Weigh không phải thuộc thành phần "chữ nghĩa" viết lách chuyên nghiệp mà văn phong câu từ còn chuẩn hơn cả một số người Việt ở trên đất Việt được học hành bài bản (học văn) thế nhưng viết văn viết báo ào ào in ấn ào ào mà sai mà lỗi tùm lum! Trong những lỗi sai nhan nhản trên các sách báo này có phần "đóng góp" không nhỏ của một bộ phận mang danh biên tập viên mà không chịu biên tập gì cả mang tiếng sửa bản in mà không động bút sửa một lỗi sai nào cả! Mỗi khi đọc phải những bài những sách những báo như vậy thật là ngán ngẩm. Xin "cóp" sang đây như một sự thể hiện niềm đồng cảm cùng người viết và sẻ chia với các bạn bè.

TÔI HIỂU VIỆT NAM NHIỀU HƠN QUA TẾT 

Nguyễn Thị Hạnh Weigl được nhà thơ Bruce Weigl nhận về Mỹ nuôi từ lúc 8 tuổi. Sống trong một gia đình với cha người Mỹ và mẹ là người Nhật được sự động viên và giúp đỡ của bố mẹ cô đã duy trì được tiếng Việt. Hiện nay Hạnh có thể nói và viết được tiếng Việt lưu loát. Cô đã dịch quyển hồi ký nổi tiếng "Vòng tròn của Hạnh" của cha mình (nhà thơ giáo sư Bruce Weigl) sang tiếng Việt. Quyển hồi ký đã được ra nhà xuất bản Phụ Nữ ra mắt ở Hà Nội vào tháng 12 2010.  Bài viết "Tôi hiểu Việt Nam nhiều hơn qua Tết" do chính cô viết bằng tiếng Việt và gửi về Việt Nam từ mùa đông Ohio giá rét.  

TÔI HIỂU VIỆT NAM NHIỀU HƠN QUA TẾT----

Nguyễn Thị Hạnh Weigl 

Tôi được sinh ra và lớn lên trong một túp lều nhỏ ở một ngôi làng nhỏ rất nghèo ở Bình Lục Hà Nam.  Tết trong trái tim tôi thủa ấy và bây giờ đã thay đổi nhiều như những thay đổi của đất nước Việt Nam trong 23 năm qua.  

Thủa ấy gia đình tôi chỉ bao gồm hai mẹ con tôi.  Ngày Tết tôi không có những bộ quần áo mới như các bạn cùng xóm. Tôi không nhớ mình đã đi chúc Tết ai và ít ai tới túp lều của mẹ con tôi.  Tôi không biết mâm cỗ Tết của  các gia đình hàng xóm ra sao nhưng mẹ con tôi ăn Tết mà không có giò chả chỉ có nồi cơm một đĩa bánh chưng và một phần thịt lợn nho nhỏ mẹ tôi đã phải vất vả lắm mới kiếm được. Mẹ tôi đã thức thâu đêm luộc bánh chưng. Những ngày tháng đó tôi thật hạnh phúc và chưa một lần cảm thấy mình thua kém bạn bè trong xóm.  Đó là những gì tôi biết và nhớ về ngày Tết thủa ấy. 

Năm tôi 8 tuổi mẹ tôi quá nghèo và lâm bệnh nặng. Vì thế mẹ buộc phải đưa tôi vào một trại trẻ mồ côi gần nhà để tôi được chăm sóc tốt hơn. Cùng năm đó tôi đã được gia đình Weigl nhận về làm con nuôi. Bước chân sang Mỹ tôi rất bỡ ngỡ bàng hoàng và đau đớn. Tôi đã khóc cả ngày cả đêm và khi không khóc lóc không la hét bố mẹ đòi về thì tôi ngủ triền miên. Để giúp tôi bớt nhớ nhà hầu như ngày nào bố mẹ tôi cũng mua băng nhạc video và sách vở để tôi bớt đi nỗi nhớ. Hàng tuần bố mẹ đưa tôi đi mua thức ăn Việt Nam và kết bạn với người Việt. Cứ tới dịp Tết bố mẹ tôi lại mời bạn bè Việt đến để nấu ăn ngay tại nhà tôi để tôi nguôi đi nỗi nhớ.  Sau khi ăn xong chúng tôi hát hò chơi đùa và đi chùa.  Nơi tôi sống ở thành phố Cleveland tiểu băng Ohio Mỹ chúng tôi thường đón Tết cùng tuyết rơi. Cái lạnh của thời tiết khiến tôi cảm thấy sự ấm áp sum vầy của gia đình. 

Tuy nhiên tôi thật sự chỉ cảm nhận được tầm quan trọng của Tết trong trái tim người Việt khi được trở lại quê hương và đón Tết ở Việt Nam vào năm 2009. Lần đầu tiên trong hơn mười lăm năm ở Mỹ tôi được về Xuân Trường Nam Định để cùng gia đình nhà họ Hoàng ăn Tết.  Sau khi rời thành phố Hà Nội  với những tiếng còi xe ầm ĩ với sự nhộn nhịp mua sắm chuẩn bị đón Tết sắm sửa nhà cửa của người thành thị tôi bước xuống xe và tiến quá cổng nhà nơi mọi người đang chờ tôi ở Xuân Trường.  Nơi đây thật yên tĩnh ít xe cộ không khí trong lành se lạnh như cái lạnh của những ngày Tết tôi đã được trải qua cùng mẹ ruột tôi trong một túp lều nhỏ của một thời dĩ vãng xa xôi.  Cũng như các người mẹ Việt Nam khác người mẹ trong gia đình họ Hoàng tỏ vẻ hết sức lo lắng rồi ân cần giúp tôi mang đồ đạc vào nhà.  Không lâu sau ba đứa cháu cũng chạy ầm lại đón tôi như họ đã quen tôi từ thủa nào.  Lúc đó mọi sự lo âu của tôi sự bập bềnh về cuộc sống và sự lạnh buốt của cơn mưa đầu năm đều tan biến.  Dù các ngôi nhà ở làng quê Việt không có lò sưởi như ở bên Mỹ trong người tôi bỗng nóng rực lên.  Sau khi ăn uống thật no tôi cùng những người bạn mới đánh bài tới khi không còn sức để ngồi nữa. 

Trong những ngày tiếp theo các anh chị cô gì chú bác từ khắp nơi cũng dần dần tập trung tại Xuân Trường. Dòng họ nhà họ Hoàng thật lớn rất khác với những gì tôi đã từng biết.  Thủa bé gia đình của tôi chỉ là mẹ ruột tôi.  Bên Mỹ từ nhỏ tới lớn hằng năm khoảng hai lần (ngày lễ Tạ Ơn và Noel) gia đình nội ngoại của tôi gặp nhau để ăn uống.  Không phải gia đình tôi không yêu thương nhau nhưng đó là lối sống của người Mỹ.  Còn ở Việt Nam vì sau Tết cũng là ngày giỗ tổ của gia đình họ Hoàng nên họ hàng càng tề tựu đông đủ.  Hằng ngày tôi chơi với các cháu trong khi các anh các bác chuẩn bị cây quýt cây đào cây mai còn bác gái dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ. Tôi được mọi người dạy làm bánh chưng và cùng bạn ra vườn đào khoai lang nướng để thưởng thức hương vị ngọt ngào của củ khoai như mẹ tôi đã từng nướng cho tôi ăn khi tôi còn bé.  

Tôi được biết chúc Tết phải chúc theo thứ tự.  Bác trai nhà họ Hoàng là anh cả nên ngày mùng một rất đông người tới chúc tết.  Mỗi người một câu chúc khác nhau rồi tiếp theo những nụ cười rồi tới những đồng tiền mừng tuổi cho các cháu.  Tôi ngồi cố gắng thẩm thấu hết những gì đáng xảy ra xung quanh để có thể đem những kỷ niệm này về Mỹ cùng tôi. Thi thoảng tôi hỏi vài câu trả lời vài câu. Tôi đã ăn thật nhiều như tôi chưa từng được ăn - những thức ăn ngon nhất trên thế giới này.  Và đúng thật các món ăn Tết này tôi chưa từng được nếm qua.  Sau đó tôi được theo anh chị và các bác đi chúc Tết.  Mỗi nhà mỗi một cảnh và tôi rất hãnh diện được đi chung với bác trai vì tôi cảm nhận được gia đình họ Hoàng được rất nhiều người tôn trọng.  

Trong vài ngày sau anh chị cả dẫn tôi đi chùa để xem quẻ.  Tới ngày giỗ tổ tôi theo rõi mọi người chọc tiết lợn và cùng nhau ăn uống.  Ngày đó có tới hai mươi mâm cơm và mọi người phải lần lượt thay nhau ăn.  Hằng đêm những người đàn ông trong họ tụ tập ngoài sân chùa tổ để đánh các loại bài.  Họ lần lượt thức thâu đêm để trông chùa.  Thi thoảng tôi đi bộ sang để xem.  Tôi chưa bao giờ kể cả trong gia đình tôi chứng kiến sự đoàn kết và xum vầy của một gia đình như những giờ phút đó.  Trong suốt hai tuần ăn Tết ở đây sự tiếp đãi ân cần của gia đình họ Hoàng làm tôi hiểu rõ hơn về phong tục của người Việt và sự quan trọng của tình cảm gia đình nhất là trong những ngày Tết.  

Sau khi tôi rời khỏi Việt Nam năm 1995 tôi đã cố gắng giải mã sự bí ẩn về gia đình ruột thịt của mình   tại sao mỗi Tết lại chỉ có mỗi mẹ con tôi.  Tôi đã từng tìm tới gia đình ruột thịt để rồi chỉ tìm tới sự thất vọng.  Dần dần tôi nghĩ mình phải quên nó đi và vì thế tôi đã quên đi nhiều kỷ niệm của ngày Tết tại Việt Nam.   

Đến Tết năm ngoái tôi mới hiểu và cảm nhận được gia đình đối với người Việt có ý nghĩa ra sao và như một người ngoại quốc tôi mới hiểu thấu được làm người Việt có ý nghĩa gì.  

Lớn lên ở Mỹ tôi có những người bạn vẫn chưa hay biết gì về Việt Nam.  Có người chỉ biết nó là một cuộc chiến tranh trong dĩ vãng hoặc một đất nước của những cô gái tóc dài yêu kiều của những người chiến sĩ dũng cảm của chiếc nón lá đàn bầu hay những tô phở có khả năng điều trị hầu hết các căn bệnh do thời tiết gây ra. Đó là đất nước Việt Nam trong ánh mắt của những người nước ngoài.  Ít ai biết về Tết.  Những người biết thì chỉ mang máng hiểu đó là năm mới của Việt Nam giống người Trung Quốc còn ý nghĩa của nó thì từa tựa như Noel của Mỹ. Nhưng ít ai đã có dịp thưởng thức và cảm nhận được ý nghĩa thực sự của Tết. Giờ tôi luôn nói với bạn bè rằng để thật sự hiểu về Việt Nam hãy cùng tôi mua vé máy bay về Việt Nam ăn Tết.  Có những điều về văn hóa người Việt chúng ta không thể nào hiểu được qua những bài nghiên cứu qua những cuốn sách lịch sử hay có thể mua được bằng những đồng đô la.  Chúng ta phải trải nghiệm cuộc sống của người Việt mới có thể cảm nhận được một phần nào bản sắc văn hóa độc đáo của Việt Nam. 

Theo cảm nhận của riêng tôi Tết không chỉ tượng trưng cho niềm tin vào những sự tốt lành và sự may mắn trong cuộc sống mà còn thể hiện tình yêu thương và gắn kết trong gia đình. Nhất định trong tương lai sẽ có rất nhiều người bạn Mỹ cùng tôi về Việt Nam ăn Tết vì tôi biết họ sẽ rất thích thú được trải nghiệm cảm giác được là thành viên của một gia đình lớn luôn yêu thương gắn bó và xum vầy - như mỗi người Việt Nam luôn đối xử với gia đình mình trong những ngày Tết. 

Nguồn: Tuổi Trẻ cuối tuần ngày 30/1/2011

More...

VŨ VIỆT THẮNG - Tình bạn văn giới

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Bạn thơ trẻ Vũ Việt Thắng giáo viên ở huyện Ngọc Hồi - Kon Tum vừa được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật tỉnh có gửi bài viết nhỏ nhờ đọc và góp ý. Về "ý" thì chẳng cần "góp" gì thêm chỉ chỉnh lý đôi chỗ câu từ. Có lẽ bạn ấy bức xúc từ một số "vĩ nhân tỉnh lẻ" luôn ảo tưởng rằng mình là "cái rốn của vũ trụ" nên viết ra. Xin đưa luôn ra đây để cùng nhau góp tiếng cho vui.

1.

Trước hết tôi xin phép nhà thơ Đinh Quang Tốn được mượn cái tên Tình bạn văn giới ông đã đặt cho một bài viết của mình để làm đề mục cho tiểu mục này.

Tôi luôn cho rằng văn nghệ sỹ đích thực là những người có tâm hồn cao đẹp và giữa họ luôn có tình bạn đẹp có khi còn là tình bạn cao cả nữa. Trong bài viết có tên Tình bạn văn giới (in trong cuốn Tản mạn nghiệp văn tác phẩm duy nhất nhận giải thưởng năm 2009 của Hội Nhà văn Việt Nam) nhà thơ nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học Đinh Quang Tốn kể về tình bạn rất đẹp rất cảm động của nhiều nhà văn nhà thơ. Đó là chuyện những bạn văn chương đạp xe hàng chục cây số đến thăm nhau trò chuyện trao đổi kinh nghiệm đọc thơ đọc truyện cho nhau nghe thâu đêm suốt sáng. Đó là chuyện Nhà thơ Xuân Diệu sống tằn tiện mua để dành được chỉ vàng thấy vợ chồng nhà thơ trẻ Bế Kiến Quốc và Đỗ Bạch Mai nghèo nuôi con nhỏ thi sĩ đem mừng tuổi cho các cháu ngày Tết. Đó là tình bạn của Nguyễn Khuyến - Dương Khuê là tình bạn của Xuân Diệu - Huy Cận v.v... Và như ông viết tình bạn trong văn giới là động lực sáng tạo bởi đời sống tâm hồn đẹp hay xấu ảnh hưởng rất lớn đến thế giới thẩm mỹ của nhà thơ nhà văn.   

Riêng tôi hành trình đến với văn chương luôn đồng hành với một hành trình âm thầm khác là đi tìm những người bạn trong văn giới. Đó cũng chính là lý do quan trọng nhất để tôi viết đơn xin vào Hội Văn học nghệ thuật địa phương. Đến giờ những mong muốn ấy của tôi đã được đền đáp phần nào. Vào làng văn tôi có được những người bạn tốt dù họ không cho tôi những thứ đời thường vẫn mong tìm như tiền tài địa vị hay danh tiếng. Thứ mà họ luôn hào phóng cho tôi là tình bạn sáng trong. Một lần gặp nhau vô tình một cuộc thăm nhau có chủ đích những câu chuyện văn chương những góp ý chân thành về câu từ hay cách viết mong mỏi cho nhau có được những đứa con tinh thần khỏe mạnh... Thành công của một người là "thành tích" của tất cả.  Nếu bạn có tài hơn tôi và thành công hơn tôi thì đó là điều tốt đẹp không chỉ cho riêng bạn mà còn cho cả tôi cho  văn chương nghệ thuật và cho cả cuộc đời này. Trong âm thầm tôi luôn mong thường xuyên được ngâm những vần thơ hay được đọc những áng văn đẹp được xem những bức tranh tuyệt phẩm được ngắm những tác phẩm nhiếp ảnh hoàn mỹ hay được đắm chìm trong những giai điệu mê ly một bản nhạc mới của bạn bè. Những thứ đó chỉ làm cho gia tài tâm hồn tôi giàu có thêm thôi!

Tôi luôn mong được nắm tay bạn đồng hành cùng bạn - những nghệ sỹ chân chính - dù chưa bao giờ tôi dám nhận mình là nghệ sỹ!

2.

Người Việt ta có câu "con gà tức nhau tiếng gáy" là dùng để nói về sự đố kỵ ghen ghét lẫn nhau không muốn cho ai và không nghĩ rằng ai bằng mình của một số người. Mà số người ấy thì ở đâu thời nào lĩnh vực nào và trong giới nào cũng có. Theo tôi người mong cho người khác không được bằng mình là người dại chứ chẳng phải khôn. Bạn thử ngẫm mà xem giả sử quanh nhà bạn toàn những người nghèo khó như (hoặc hơn) bạn thì bạnsẽ được gì? Nhãn tiền là bạn ít có khả năng được nhờ vả ở họ. (Nhờ hiểu theo nhiều nghĩa). Tệ hơn là rất có thể bạn sẽ bị những kẻ "bần cùng sinh đạo tặc" khoét vách phá rào nhà mình cũng nên! Còn nếu những người hàng xóm giàu có hoặc biết điều thì sao? Một là bạn ít hoặc không bị họ làm phiền nhiễu hai là nhiều khả năng bạn còn được họ giúp đỡ. (Ở đây muốn nói là những giúp đỡ rất tự nhiên rất nhân văn vốn dĩ ở đời). Đặt tình huống gia đình bạn đột xuất có người bệnh nặng cần cấp cứu giữa đêm khuya khoắt trong khi bạn chưa chuẩn bị kịp kha khá tiền bạc hay không có phương tiện di chuyển thì sẽ rõ ngay thôi. Trong trường hợp ấy nếu hàng xóm của bạn có đầy đủ những điều kiện kia thì nhiều khả năng bạn sẽ được người ta giúp đỡ kịp thời. Còn nếu gia cảnh hàng xóm của bạn cũng khó khăn như bạn thì chắc chắn bạn sẽ chẳng thể trông đợi được gì ngoài một tấm lòng suông. Như vậy ở với những người hơn mình chẳng phải sẽ hơn sao?

 Trong văn chương nghệ thuật cũng vậy. Được gần những nghệ sỹ lớn những người có tri thức phong phú thì thật là tốt. Ít nhất thì bạn cũng được "thơm lây" danh tiếng họ được thưởng thức những sản phẩm tinh hoa của họ; nhiều hơn là bạn được học hỏi được mở mang thêm những kinh nghiệm những tầm kiến văn từ họ truyền cho một cách chân thành...

Tôi luôn nghĩ văn nghệ sỹ thực tài bao giờ cũng là người chân thành và hào phóng. Vì thế trong đời thường tôi mong được sống với những người hàng xóm giàu có và văn hóa hơn mình (tất nhiên không phải để mong nhờ vả họ). Còn trong văn chương nghệ thuật tôi luôn mong mình được ở gần những văn nghệ sỹ tài năng đức độ để mình được có dịp "sáng mắt sáng lòng" ra.

Mà cuộc sống càng có nhiều tài năng thì xã hội càng thêm giàu có.

                                                                                            V.V.T

                                                                      (Ngọc Hồi 31 tháng 12 năm 2010)

More...

TRẦN CHIẾN - GẶP GỠ TÂY NGUYÊN

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Rất tình cờ tôi gặp gỡ và quen biết Trần Chiến. Đôi lần anh vào Tây nguyên gặp nhau anh đối với tôi rất thân tình và lịch thiệp. Cái lịch thiệp rất... người Hà Nội của anh khiến tôi có nhiều thiện cảm. Rồi cũng rất bất ngờ đọc báo được biết anh là con trai của nhà sử học nhà cách mạng Trần Huy Liệu. Anh được sinh ra lớn lên và đang cư ngụ tại khu phố cổ Hà Nội công tác ở báo Hà Nội mới. Thảo nào con người anh toát lên đầy đủ nét vẻ của người Tràng An. "Không thơm không thể hoa nhài/ Không thanh lịch chẳng phải người Tràng An" kia mà! (Câu này khác với câu thường nghe. Ở đây xin chép theo "dị bản" của một nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội vừa sưu tầm khôi phục lại "bản gốc"!). Năm 2010 kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội anh cho ra mắt liền hai cuốn sách một viết về người cha đáng kính của mình và một tập truyện ngắn. Anh có gửi cho tôi một bài viết về chuyến đi Tây nguyên của mình. Xin đưa ra đây để bạn bè cùng đọc với nhau.

Năm ngoái tôi vào Tây Nguyên đi vội làm hùng hục uống quần quật. Năm nay thư thả hơn có thì giờ "nếm náp" cảnh vật con người - cả mới lẫn cũ có thể là chưa "tiêu biểu" của vùng đất được. Không vào vùng sâu rất khó tìm ra "gương mặt tiêu biểu". Hội diễn văn nghệ cấp huyện có cả Then Tày múa Chuông Dao Quan họ Kinh... cạnh "đặc sản bản địa" cồng chiêng.

Quốc lộ 14 xuyên Tây Nguyên thênh thang nhìn thấy cột điện cao ba chục thước rong chơi trên đồi vắng. Giờ thì y như sông Hồng đoạn qua các đô thị nó bị nhốt chặt. Dã quỳ không đung đưa cả vạt thành sóng mà thưa thớt đem về nhà cắm héo rũ ngay. Nhà gạch của người Kinh sơ sài hay "hoành tráng lệ" đều kè kè mặt đường thỉnh thoảng chen vào căn nghĩa địa nhiều thập ác vết tích một làng Ba-na hay Ê-đê cũ. Đôi chỗ hở ra trông thấy thung lũng lác đác nhà và bạt ngàn cà phê khiến bật ra câu hỏi "Cuộc sống dưới ấy thế nào nhỉ?".

Buôn Ma Thuột không có vẻ đặc trưng phố núi lắm. Phẳng phiu về địa hình ít bản sắc kiến trúc ít "đồng bào" đi bộ đeo gùi thật nhiều tiếng Quảng tiếng Bắc. Nổi bật là tượng đài xe tăng ở Ngã Sáu toà biệt điện Bảo Đại những gốc đa long não còn tơ mà to cỡ cổ thụ trăm tuổi ngoài Thủ đô vì đất quá tốt. Nhưng chịu khó ra ven ngoại mà phải đi bộ thì được chứng kiến một cuộc sống khác thực hơn có lẽ thế với những cộng đồng dân cư tôn giáo đa sắc hết sức.

Đường Phan Chu Trinh dài rẻo cuối ngự toà Giám mục duyên dáng mô phỏng nhà dài Ê-đê. Duyên dáng là phải vì do các sơ Thuỵ Điển Pháp xây cách nay trăm năm có lẻ. Rẽ trái một chút là đụng buôn Akô Dhông của ca sĩ Y Moan một địa điểm du lịch xinh đẹp với những khuôn viên xén tỉa cẩn thận dậu hoa chi chít bướm bay shop thổ cẩm có cả khung cửi... Nhà già làng Ama H rin chuyên tổ chức những đêm rượu cần cồng chiêng khách Tây được múa với rốc ráp bên những cô gái đen giòn chắc nịch. Nhưng Akô Hdông không còn Bến nước một trong những biểu trưng buôn làng. Tôi đi tìm người ta chỉ vào cái khe tù đọng vương vãi túi ni lông. Khoảng Rừng thiêng nơi cúng thần rừng lần tìm cũng khó. Nhớ câu ngậm ngùi cho văn hoá rừng của phó chủ tịch hội Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính: "Không giữ được đâu...".

Phường Tự An dưới lũng thấp chỗ cư trú của những tập người đến trước năm 75 chi chít những kiến trúc tôn giáo. Bốn giờ chiều chuông nhà thờ đổ dồn bên chuông chùa tiếng trống phách đàn đáy đền Mẫu những bà cụ khăn vấn áo dài có nhẽ giọng Kim Sơn Phát Diệm. Chùa Phổ Minh mới trùng tu nguy nga ngự trên đồi xuôi xuống cổng có tấm bia công đức ghi tên Phật tử hiến đất "đạo hữu" - tức người Công giáo - bán đất cho chùa đôi rồng đá lớn cỡ đôi rồng trong điện Kính Thiên Hà Nội. Có cảm giác các tôn giáo đều đang "hoằng dương" ở đây. Chính quyền ấp ủ ý đồ làm một con hồ nương theo suối Ea Tam. Thung lũng xinh đẹp này tiếp tục êm đềm hay trở nên "sôi động"?

Buôn Ma Thuột có chừng mươi ngôi chùa tuổi cao nhất là Khải Đoan bà Từ Cung mẹ ông Bảo Đại làm năm 1950 để kỉ niệm mình - Đoan Huy hoàng hậu - với vua Khải Định nguy nga đúng kiểu chùa vua. Thầy trụ trì tịnh xá Ngọc Quang thấy tôi chịu khó hỏi chịu khó nghe muốn tặng bộ Nam Hoa Kinh tôi thưa không dám vì tâm chưa tĩnh chỉ xin cuốn "Nghi thức tụng niệm" mỏng.

Chỗ giáp hai đường Phan Bội Châu - Điện Biên Phủ toạ lạc đình Lạc Giao. Ông Phan Hộ đưa dân Kinh từ Khánh Hoà lên xin tù trưởng Ama Thuột cho lập năm 1928. Đình là cấu trúc văn hoá - tôn giáo của người xuôi hình như cả Tây Nguyên chỉ có ngôi này. Lạc Giao thờ thần hoàng bản thổ là Đào Duy Từ mà hình như cụ Đào chỉ để lại dấu ấn Luỹ Thầy ngoài Quảng Bình chứ không khai phá gì trên cao nguyên sất! "Tôi gốc Nam Bộ ba làm Hội đồng nên như là có căn trông đình vậy" ông trông coi tên Nguyễn Văn Bẩy tự giới thiệu trước khi châm chuyện quá khứ: "Buôn Ma Thuột xưa có chợ lợp tranh tre gọi là "chợ Xổm" vì ngồi xổm bán buôn. Rồi chính quyền cũ xây ngôi nhà lồng họp đông đúc lắm người Thượng ra thành từng đoàn để tránh cọp nay phá đi phá luôn hai nhà dài vĩ đại rất tiếc. Đình Lạc Giao có suối Đốc Học chảy phía trước làm Minh đường bốn giờ chiều không ai đến nữa vì cọp về. Năm bảy lăm bị bom rồi làm kho lương thực xập xệ đến thời ông Lạng người Ninh Bình làm chủ tịch tỉnh mới trùng tu được là 2005. Nhiều người không biết cứ gọi "đền"...

                                                 *

Mới xuống dốc lại quành lên dốc/ Đưa thăm xa thôi lại thăm gần/ Chưa tròn buổi phố chừng muốn hết/ Đã gì đâu mà em mỏi chân.../...Nay mai ta lại về với núi / Đứng làm tượng đá ở sườn non...Tác giả những câu thơ ấy là Tạ Văn Sỹ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sống ở Kon Tum gần nửa thế kỷ nay. Lần này Sỹ chở tôi dọc dọc phố núi Kon Tum chỉ cho biết đây là chỗ dừng chân của giáo sĩ Thừa sai lần đầu tiên đến Bắc Tây Nguyên chỉ chỗ chính quyền thực dân lập nhà ngục Kon Tum nổi tiếng... Đến thôn Kon Rơwang Sỹ chỉ cây kơ-nia ngót trăm tuổi đứng cạnh ngôi nhà rông tiếc nuối: "Cái cây biểu tượng của Tây Nguyên này muốn hạ phải thấm nước vào lưỡi cưa vì nhựa rất dẻo còn khi khô đinh đóng vào quẹo quắn cả. Chất độc khai quang của Mỹ không làm gì được kơ-nia. Nó đã được trồng ở lăng Bác. Thế mà giờ tìm ở mấy đô thị Tây Nguyên thực khó"... "Kon Tum nghĩa là "làng có nhiều ao hồ đầm lầy" quanh dòng Đăk Bla nhưng hình thái ấy đang biến mất. Biến mất những cây rừng nguyên sinh may mắn còn sót lại biến mất những khu Giọt nước thiêng là dấu tích văn hóa phi vật thể biến mất những ao hồ đáng lý ra phải được giữ lại và tôn tạo để làm cảnh quan đô thị và là hệ sinh thái môi trường... Biến thái luôn cả những buôn làng nhà sàn xinh đẹp mà vá chằng vá đụp những nhà xây trệt nghèo nàn nham nhở...! Tôi đi Mường Khương - Lào Cai thấy khi lập thị trấn người ta vẫn khoanh vùng giữ lại khu Rừng thiêng của người Mông tới Ninh Bình ngắm được cây lộc vừng hai trăm tuổi dân tranh đấu để thoát khỏi cơn điên quy hoạch... Thế là so sánh là ý kiến đến nỗi có người bảo tôi chê bai Kon Tum"!..."Chê bai" thế nào chứ với cái ông thi sĩ gốc Bình Định này thì phải ơn những ý ấy chứ?  Thi sỹ quá yêu Kon Tum hiểu nó từ trong hồn cốt trân trọng những giá trị cội rễ. Tôi thấy mình thật may mắn khi tới xứ này được gặp Sỹ làm "hướng dẫn".

A Jar lại là một may mắn khác. Vị trí thức bản địa này đang ngồi chân hội thẩm nhân dân toà án thành phố giơ tay biểu quyết trong các cuộc họp Hội đồng nhân dân tỉnh phiên âm phần tiếng Xê-đăng Ba-na của báo Kon Tum dân tộc ra a bờ cờ cho bà con đọc nghĩa là một "cầu nối" Kinh Thượng khá điển hình. Thế nhưng đoạn đường để có từng nấy vị trí lại không dễ đi chút nào.

Sinh năm 1947 ở huyện Đăk Hà - Kon Tum dân tộc Xê-đăng A Jar được hưởng lộc từ chính sách sắc tộc của chế độ cũ về thị xã học tiểu học theo trung học ở Huế. Tốt nghiệp Quốc gia Hành chính dưới Sài Gòn về Phú Bổn làm Trưởng văn phòng Hội đồng tỉnh vài tháng thì Tây Nguyên về tay Giải phóng. Có đeo chữ "nguỵ" sau lưng A Jar đi học tập ba tháng xong về cưới Y Pứk người Ba-na ở luôn làng vợ. Bắt đầu quãng đời kiếm sống gùi sáu chục ký gạo muối đi Sa Thầy bán mua về mật ong thức rừng. Đời là chiếc xe lên rồi xuống / nắng mưa thay đổi lòng chán chường như người ta đi thế chỉ thấy vất nhưng con người có chữ nghĩa trong đầu nó vật cho khổ hơn. 20 năm sau vận đổi bắt đầu được dùng bắt đầu tham gia...

Nhà A Jar ở Plei Đon (Làng Gò) bên ngôi nhà rông nóc loăn xoăn ngọn rau dớn. Hơn mười năm qua ông biên dịch 24 bộ sử thi mỗi bộ "gỡ" từ khoảng 10 băng cát-xét 90 phút làm nửa năm thu triệu hai. NXB Khoa học xã hội đã in 10 bộ Ba-na 4 bộ Xê-đăng trong số đó. Rồi dạy tiếng dân tộc cho cán bộ bộ đội khảo cứu phong tục sưu tầm truyện cổ... Tự học tiếng Anh Pháp bị vợ nhiếc "Muốn làm Tổng trưởng à?" đến khi hướng dẫn "tua" ba ngày đem về trăm đô bà lại mừng húm. Tức thị đã qua thì chật vật kiếm sống nhưng cái "tâm trạng trí thức" nó lại hành...

Dưới gốc nhãn già trong cái nắng khô khốc A Jar lần rỡ những nỗi niềm: "Cán bộ đi thu âm trường ca là người Kinh gặp nghệ nhân ngay ngắn không sao. Nhưng phải ông uống rượu ông nhớ nhớ quên quên tệ nhất là ông "tái bản" những đoạn đã đọc để "câu giờ" lấy tiền thì rất lộn xộn. Nhiều từ cổ thì phải hỏi người già. Và ai ngờ di sản lại lọt cả những chữ "24 giờ" "chính sách"... mới toanh vào nữa!... Tôi thích sử thi giá trị mà không bận bịu chính trị. Mình biết tiếng Kinh làm từ khâu sưu tầm đến biên soạn dịch thì mới kỹ. Tôi đã nhặt trên trăm câu tục ngữ Ba-na bao giờ đong đầy mong ra được sách..."

A Jar ngoài sáu mươi rồi không còn nhiều thời gian muốn chỉ làm con kiến tha di sản (cũng đang dần "bay" theo người già) về cõi Măng lung...

So với Buôn Ma Thuột và Kon Tum thì nhà cửa chợ búa con người bên Plei Ku cũng "tương tự" nhưng đèo dốc nhiều hơn khí hậu mát hơn ấn tượng phố núi rất rõ. Có những con dốc dựng ngược veo veo cánh sáo chao những con đường đi mỏi chân không chán tưởng đã tận lại quành sang nẻo khác. Nhà thơ Văn Công Hùng chủ tịch Hội Văn nghệ Gia Lai kể với cái giọng rền rất hóm: "Xưa có lệ cúng Giàng con heo nhưng cái đuôi cứ bị trai làng cắt ăn mất. Giàng giận đánh cái "bùm" thành Biển Hồ tức cái hồ Tơ-nưng cấp nước ăn cho thành phố bây giờ. Và Plei (làng) có cái tên "Ku" (đuôi). Tôi làm quyển sách đầu tiên kể chuyện cổ dân tộc đưa tích này lên đầu bị ông trong Thị uỷ đòi đuổi việc vì nói xấu địa phương...".

Tôi đang ở đường Wừu con phố có cái tên đọc "đau cả mồm" ngồi trên đỉnh dốc nhâm nhi câu "Uống cà phê phin không được "vội" như chè Thái" "phát hiện" đơn giản mà mới mẻ với người xứ Bắc vô đây. Thật lạ ly nước trên bàn cứ trôi giống như hồi sáng ăn mì Quảng thìa đũa chạy rần rần khi ngoài đường có xe qua. Nhìn xuống cái chỗ mình ngồi dông dốc đầu này bước lên bậc thật cao đầu kia nhào xuống chỗ thỏm. "Xứ này cái gì cũng nghiêng thế à?"

Mùa thu trườn qua ngã tư/ Người xe người xe đông cứng/ Mùa thu tiếng còi như thét/ Em trùm mùa thu Ninja... Văn Công Hùng không đáp mà đọc thơ làm hôm ra Hà Nội. Đến là tử tế!

                                                                                            Trần Chiến

More...

VIẾNG ĐỀN HÙNG

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Những ngày giáp Tết này đang chuẩn bị về quê chạp mộ gia tộc lại liên tưởng nhớ ngày Giỗ Tổ. Hôm nay mới mồng Mười tháng Chạp vị chi còn đúng 4 tháng nữa mới đến ngày Giỗ Tổ. Nhớ những lần về Đất Tổ (Phú Thọ) viếng Đền Hùng có lưu được một số ghi chép cũ bèn lục ra viết lại. Cộng thêm một tin vui (nghe lỏm) rằng hình như tỉnh Kon Tum có dự định duyệt chi khoảng chừng vài ba mươi tỷ đồng gì đó để lập một Đền Hùng tại đây. Nếu đúng như thế thì riêng mình rất vui bởi trong bài viết nhỏ "Nhân ngày Giỗ Tổ" in ở mục Tiếng nói nhà văn trên tuần báo Văn nghệ số ra đầu năm ngoái mình có đặt vấn đề mỗi tỉnh thành trong cả nước nên có một Đền Hùng để hàng năm con dân đất Việt có nơi tụ về tưởng nhớ tiền nhân vào ngày Giỗ Tổ.

"Dẫu ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba".

Đã là con Lạc cháu Hồng thì không ai không thuộc nằm lòng câu ca dao ấy. Những từ Hùng Vương Đền Hùng Đất Tổ Giỗ Tổ... đã ăn sâu trong tiềm thức linh thức của dân tộc Việt mấy ngàn năm qua.

Theo thông lệ trước khi viếng Đền Hùng khách phải vào dâng hương đảnh lễ nơi Đền Mẫu (phường Tiên Cát thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ). Đền Mẫu thờ thần Long Nữ là vợ của Kinh Dương Vương vị vua đầu tiên của tộc Việt. Nghĩa là Bà là vị Hoàng hậu đầu tiên là Quốc Mẫu đầu tiên của tộc Việt ta. 

Rời Đền Mẫu thẳng về phía chân núi Nghĩa Lĩnh (cao 175m) thuộc thôn Cổ Tích xã Hy Cương huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ nơi có Đền Hùng.

Đầu tiên là sừng sững uy nghiêm Cổng Đền cổ kính trước mặt. Trước khi bước vào Cổng Đền nên tạt sang tham quan bảo tàng Hùng Vương bên cạnh đấy để được bồi thêm những cảm nhận về di tích thiêng liêng này.

Nhà Bảo tàng Hùng Vương xây theo hình khối vuông cao hai tầng diện tích mặt bằng khoảng 1.000m2 được khánh thành vào ngày Giỗ Tổ năm Quý Dậu 1993. Hàng ngàn di vật và tài liệu được trưng bày dễ khiến trí tưởng tượng của ta như đang thấy lại thời kỳ lịch sử Văn Lang. Điểm đặc biệt của kiến trúc Bảo tàng này là trên chóp nóc của khối nhà hình vuông có một khoảng trống hình tròn thông lên trời nhằm diễn giải ý niệm về sự tích bánh dầy bánh chưng - trời tròn đất vuông.

Rời Bảo tàng bắt đầu vào cuộc hành hương. Cổng Đền  (còn gọi là Đại Môn) được xây từ năm 1917. Trên cổng có bức đại tự "Cao sơn cảnh hành" (Lên núi cao nhìn xa rộng). Dọc hai bên trụ cổng là đôi vế đối:

"Thác thuỷ khai cơ tứ cố sơn hà quy bản tịch

Đăng cao viễn vọng quần phong la liệt tự nhi tôn"

Nghĩa là: "Mở lối đắp nền bốn mặt non sông quy một mối/ Lên cao nhìn rộng nghìn trùng đồi núi tựa đàn con".

Thành kính thắp hương vào hai chiếc đỉnh lớn đặt hai bên cổng rồi bước chân lên từng bậc đá ong cổ vòng vèo quanh sườn núi dưới tán cây xanh lên cao dần để đến các đền điện nơi lưng chừng núi.

Đầu tiên là đền Hạ. Đền Hạ được xây vào thời Lê (khoảng thế kỷ 17) theo lối kiến trúc chữ nhị (hai lớp nhà trước sau nằm song song). Tương truyền chính tại nơi đây mẹ Âu Cơ đã sinh hạ bọc trăm trứng nở trăm con lớn lên chia nhau đi bốn phương tám hướng xuống bể lên rừng khai mở thành non sông gấm vóc ngày nay. Bên phải đền Hạ là chùa Thiên Quang thiền tự (tên cổ là Viễn Sơn cổ tự) được xây hoàn chỉnh vào thời Lê Trung hưng (1533-1788). Có tài liệu nói rằng đã được khởi công từ thời Lý (thế kỷ 11). Qua thời gian hiện nay chùa chỉ còn lại phần tiền tế và tam quan (gác chuông). Trên chuông khắc niên đại "Bính Thìn niên Đại Việt quốc Sơn Tây đạo Lâm Thao phủ Sơn Vi huyện Hy Cương xã Cổ Tích thôn cư phụng". Trước cửa chùa có cây Vạn tuế khoảng 800 năm tuổi thọ toả ra ba cành rất độc đáo. Giữa nét cổ kính của đền chùa vẻ cô tịch của núi đồi hoang sơ lòng người dễ mang mang tưởng vọng về người Mẹ tâm linh của dân tộc.

Rời đền Hạ lại tiếp tục những bậc đá cổ vẹt mòn dẫn những bước chân thành tâm thành ý lên với đền Trung. Đền Trung được xây dựng từ thời nhà Trần (thế kỷ 13). Đến thế kỷ 15 bị giặc Minh tàn phá. Sau khi kháng Minh thắng lợi triều Lê cho xây dựng lại. Khác với đền Hạ đền Trung được thiết kế theo kiểu chữ nhất. Ở đây có hai bức đại tự: "Hùng Vương tổ miếu" (Miếu thờ tổ Hùng Vương) và "Hùng Vương linh tích" (Vết tích linh thiêng các vua Hùng). Tương truyền nơi này các vua Hùng dùng làm chỗ họp bàn việc nước cùng các Lạc hầu (quan văn) Lạc tướng (quan võ) và các Quan lang (con trai). Cũng tại đây Hùng Vương thứ 6 (Hùng Hồn Vương) đã triệu tập 24 Quan lang về cho thi chọn lễ vật dâng cúng tổ tiên để định người kế vị. Bánh dày bánh chưng của Lang Liêu đã làm ưng lòng vua cha nên được kế vị thành Hùng Vương thứ 7 (Hùng Chiêu Vương).

Ngắm cảnh nhớ tích xưa vẩn vơ liên cảm tưởng như còn thấy đâu đây thấp thoáng bóng dáng các Lạc hầu Lạc tướng Quan lang phương phi tài trí uy nghiêm quây quanh vua Hùng luận bàn việc quốc quân đại sự; như còn nghe văng vẳng đâu đây sang sảng giọng vua Hùng thứ 6 (Hùng Hồn Vương) ban chiếu chỉ cầu hiền tìm người đánh giặc Ân phương bắc đang quấy nhiễu bờ cõi - cũng tại nơi đây! Và chú bé Gióng ở Sóc Sơn đã vụt lớn phổng phao ra tay giúp vua giữ vững sơn hà.

Rời Đền Trung lên đền Thượng. Đền Thượng nằm trên chóp đỉnh Nghĩa Lĩnh được xây dựng từ đời Hồng Đức nhà Lê. Tương truyền đây là nơi các vua Hùng lập đàn tế lễ đất trời cầu quốc thái dân an. Do vậy đền còn có tên gọi "Kính thiên lĩnh điện" (Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh) hoặc "Cửu trùng tiên điện" (Điện thờ trên chín từng mây). Tại đây Hùng Vương thứ 6 (Hùng Hồn Vương) cho lập miếu thờ thần linh sông núi làm lễ tế biệt người anh hùng trẻ tuổi làng Gióng khi hay tin "Thánh" đã về trời nơi núi Sóc Sơn. Ở đền Thượng người ta đọc được bức đại tự "Nam Việt triệu tổ" (Tổ muôn đời của nước Việt) và đôi câu đối:

"Thử địa thử sơn Nam quốc ký

Ngô vương ngô tổ bắc thần tôn".

Nghĩa là: "Đất này nước này dân nước Nam ghi nhớ/ Vua ta tổ ta như Bắc đẩu sáng cao".

Bên trái đền là Cột Đá Thề của An Dương Vương Thục Phán dựng nên. Tương truyền vào thời Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương ) sau khi 20 Quan lang lần lượt chết yểu hai Mỵ nương (con gái) là Ngọc Hoa lấy thần núi Tản Viên Sơn Tinh ở tận Ba Vì và Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử  ở mãi Khoái Châu vua không còn người kế vị. Lại thêm lúc ấy thế lực của người Lạc Việt suy yếu và bộ tộc Âu Việt của thủ lĩnh Thục Phán đang mạnh lên đã nhiều lần đánh thắng giặc Thương phương Bắc sang quấy phá. Vua bèn cho vời Thục Phán về núi truyền ngôi. Thục Phán xưng Đế hiệu là An  Dương Vương cho dựng cột đá này để thề với vua Hùng và muôn dân quyết chí giữ gìn non sông xã tắc rồi đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc.

Tại Đền Thượng sáng ngày 18-09-1954 lần đầu tiên Bác Hồ đã về thăm thắp hương viếng Tổ đọc bài minh trên quả chuông treo ở cây hoa đại trắng đã 500 năm tuổi trước sân Đền. Tám năm sau ngày 19-08-1962 lần thứ hai Bác lại về thăm và nghỉ đêm ngay tại ngách phía đông nam đền Thượng này.

Rời Đền Thượng là bắt đầu xuống dốc. Vẫn những bậc đá quanh co luồn lách dưới tán lá rừng trầm mặc đưa đến Lăng Vua nằm kế liền bên trái Đền Thượng. Tương truyền trước đây chỉ là ngôi mộ nhỏ có mái che dãi dầu theo mưa nắng. Đến năm Tự Đức thứ 27 (1874) cho xây lại mộ và dựng Lăng. Năm Khải Định thứ 7 (1922) gia cố thêm năm 1997 mới trùng tu hoàn chỉnh như bây giờ. Tương truyền Hùng Vương thứ 6 (Hùng Hồn Vương) sau khi tế lễ ở Đền Thượng bước ra ngồi nghỉ dưới bóng cây Kim giao gần đấy bất ngờ Vua đột quỵ và hoá tại đây vào ngày 11 tháng 3 âm lịch. Lăng có bức đại tự "Hùng Vương Lăng" (Lăng Vua Hùng) và mấy câu đối xin dẫn một câu:

"Lăng tẩm tự năm nào núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về đất Tổ

Văn minh đương buổi mới con Hống cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ mồ ông".

Từ Lăng Vua những bậc đá lại đưa xuống một thôi dốc dài để về đền Giếng. Đền Giếng được xây vào khoảng cuối thế kỷ 18. Nguyên đây là một mạch nước từ lòng núi Nghĩa Lĩnh chảy ra trong vắt và ngọt mát. Người quanh vùng bèn kè đá be bờ khơi vét thành giếng nước ăn. Năm Khải Định thứ 7 (1922) cho trùng tu lại như ngày nay. Tương truyền hai Mỵ nương của Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương) là Ngọc Hoa và Tiên Dung trước khi lấy chồng đi xa thường rủ nhau ra đây dạo cảnh soi gương tắm mát. Để nhớ ghi công ơn hai bà đã từng giúp dạy dân nghề canh cửi nông tang người ta lập đền thờ gọi là đền Giếng. Bức đại tự ở đây ghi "Trung sơn tiểu thất" (Ngôi miếu nhỏ trong núi).

Tại đền Giếng này ngày 18-09-1954 Bác Hồ về thăm đền Hùng (lần thứ nhất) đã ngủ lại đây để hôm sau tổ chức gặp mặt nói chuyện với đại đoàn quân Tiên phong trước khi về tiếp quản Thủ đô. Lời Bác nói trong ngày hôm ấy còn vọng lại muôn sau: -"Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!".

Ra khỏi đền Giếng là gặp Ao Sen. Tương truyền ao sen là dấu chân của Sơn Tinh trong lần đến cầu hôn Ngọc Hoa còn lưu lại.
       Người viếng cảnh cảm thấy lòng thanh thản bên hương sen thoang thoảng thanh tao. Lúc này chính là khi lắng lại trong lòng bao tâm tư tình cảm của một con dân nước Việt sau bao dặm dài xa cách nay được về dưới bóng tổ tiên.
Tạ Văn Sỹ

More...

TẾT VÀO NGÀY NÀO?

By tavansy@gmail.com

 

Câu cửa miệng bà con ta thường nói: "Ba ngày Tết!": -"Còn cũng ba ngày Tết hết cũng ba ngày mùa"! Theo lễ tục từ xưa Tết Nguyên đán vào ba ngày Mồng Một Mồng Hai và Mồng Ba tháng Giêng âm lịch. "Ba ngày Tết" được ngầm hiểu là một số từ phiếm định giống như "Học để kiếm dăm ba chữ" hoặc "Lương ba cọc ba đồng"... chứ thật ra không hẳn chỉ ba ngày cụ thể ấy. Bởi theo bài ca dao"Tháng Giêng là tháng ăn chơi..." thì Tết kéo dài đến cả tháng ấy chứ!

          Để có cuộc chơi kéo dài hàng tháng như vậy thì trước đó cũng phải mất... cả tháng trời (!) để lo cho việc đón Tết! Thật vậy gần như nguyên cả tháng Chạp của năm trước là khoảng thời gian mọi người đã lặng lẽ chuẩn bị (vật chất lẫn tinh thần) để đón Tết. Nhất là vào những ngày áp chót. Theo tục lệ ngày 23 tháng Chạp cúng đưa ông Táo về trời được coi là ngày "tất niên" tổng kết. Từ sau 23 tháng Chạp đến giây phút Giao thừa là thời điểm bà con  toàn tâm toàn ý tất bật tập trung vào việc lo đón Tết. Tinh thần và công việc càng nôn nao rộn rã hơn khi mỗi lúc một tiến gần với giây phút giao thoa giữa năm cũ và năm mới. Nói rõ hơn là vào ngày 30 Tết.

          Ngày 30 Tết mọi chuyện đều được giải quyết nước rút. Tất cả buộc phải xong trước phút Giao thừa. Từ sáng sớm mọi người đều thực hiện phần việc được phân công. Ở thôn quê từ nửa đêm đã nghe tiếng heo kêu eng éc đầu thôn cuối xóm. Tiếng chó sủa tiếng giã quết băm chặt tiếng nói cười râm ran... từ những đám làm giò chả gói bánh... Trên đường làng tiếng gà vịt quang quác trong đôi quang gánh của các bà các cô mang ra chợ phiên. Tết xưa còn tiếng trống tiếng pháo như trong thơ Tam Nguyên Yên Đổ: -"Ình ịch đêm qua trống các làng/ Ai ai mà chẳng ước xuân sang..."! Còn cụ Tú Thành Nam thì cảm nhận: -"Đì đẹt ngoài song tràng pháo chuột/ Om sòm trên vách bức tranh gà..."!... Nếu ở phố xá thì tiếng động cơ các loại xe cộ đổ ra đường. Mọi nơi mọi người cùng bận rộn với các việc linh tinh... Rồi thì cuối cùng là tăm tắp từng dãy Quốc kỳ hồng rực khắp phố phường đường ngõ...

 Ngày này các quý ông dạo quanh nghiêng ngó săm soi khắp lượt các chợ hoa cây cảnh chọn lựa tỉ mẩn rinh về những chậu những cành mình thích. Các quý bà thì dong xe ra chợ trung tâm hay siêu thị cầm lên đặt xuống cân nhắc sắm sửa những thứ gia đình không thể thiếu trong ngày trọng đại. Ở phố xá thì thịt cá có sẵn bánh mức có sẵn giò chả có sẵn... Nghĩa là mọi thứ đều sẵn có cho mọi nhu cầu nên thay tiếng heo bò gà vịt tiếng chày thớt giã băm tiếng râm ran trò chuyện của chốn thôn quê là tiếng ồn ã trả treo tiếng động cơ các kiểu đua nhau hối hả gầm ghì tạo cho phố phường cảnh đông vui tấp nập...

Các ngả đường đưa về nghĩa trang cũng lũ lượt người. Trên tay ai trong giỏ nào cũng là hoa là hương là cây trái kẹo bánh cuốc xẻng (nếu ở thôn quê) đi tảo mộ. Người sống không bao giờ quên người thân đã khuất trong mỗi dịp tết đến xuân về.

Không trực tiếp tham gia vào công đoạn lo toan tính toán "toát mồ hôi" nhưng cũng rộn ràng "tất bật" không kém đám người lớn là... bọn trẻ con! Trẻ con thì ở đâu cũng vậy. Đây là thời điểm được nghỉ học được quây quần bên người thân (kể cả những người thân ở xa lâu ngày về Tết) được người lớn o bế chăm chút sắm sửa cho những bộ quần áo mới keng đủ sắc màu kiểu dáng với mùi vải hồ thơm phưng phức. Cả ngày 30 ấy từng nhóm trẻ con lăng xăng tìm nhau tụ tập tíu tít khoe tao có chiếc áo này tao có cái quần kia tao được chú ở xa về cho món đồ chơi nọ v.v... Không nói cũng biết bắt đầu từ ngày này chúng đều có chung một nỗi bồn chồn háo hức mong đợi sáng mai sẽ được nhận những phong bao lì xì đỏ thắm với những đồng tiền mới toanh còn phát ra tiếng kêu sột soạt!...

Tối 30. Bàn thờ mâm cỗ đã đâu vào đấy gia đình quây quần bên bữa tối cuối năm. Bữa tối này xem ra có khác mọi ngày. Sau khi cúng rước ông bà mâm cỗ được dọn xuống cho con cháu hưởng lộc câu chuyện rôm rả hơn không khí vui vẻ đầm ấm hơn trong hương trầm phảng phất... Chưa hết bữa ăn bọn trẻ đã "đăng ký" bố mẹ khuya nay đưa (hoặc cho) đi bát phố đi xem bắn pháo hoa đi hái lộc... Ngồi lại ở nhà bên chén trà khuya ấm nóng hay tách cà phê thơm lừng hoặc ly rượu suông chống rét "gia chủ" trầm tư ngẫm nghĩ chuyện đời và chờ đợi... Khi sóng phát thanh truyền hình báo thời khắc Giao thừa Chủ tịch Nước đọc lời chúc Tết thì trước bàn thờ tinh tươm chủ gia cũng trang trọng thắp nén hương thơm cúng khấn đất trời tổ tiên cho một mùa xuân mới mọi sự tốt lành. Rồi thì con cháu lục tục kéo về sau cuộc du xuân sớm lại họp gia đình trong bữa khuya nhẹ nhàng trước khi đi ngủ. Bấy giờ ngủ say hay thao thức thì tùy từng người từng độ tuổi nhưng không ai dám chắc rằng đấy sẽ là một giấc ngủ sâu trong niềm rạo rực.

30 Tết là thời điểm đặc biệt. Không đặc biệt sao ca dao có câu: -"Số cô không giàu thì nghèo/ Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà"! Không đặc biệt sao Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ có đôi câu đối: -"Chiều ba mươi nợ réo tít mù co cẳng đạp thằng bần ra cửa/ Sáng mồng một rượu say tuý luý dang tay bồng ông phúc vào nhà". Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng có: -"Tối ba mươi khép cánh càn khôn ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới/ Sáng mồng một lỏng then tạo hóa mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào". Rồi còn: -"Tối ba mươi giơ cẳng đụng cây nêu - Ủa tết!/ Sáng mồng một lắng tai nghe lời chúc - Ồ xuân!" v.v... Toàn là nhắc đến... 30!

Đến sáng Mồng Một thì không khí gần như ngưng lại vắng lặng hẳn đi. Lúc này mọi người chốt cửa khoá cổng để đưa nhau về nội về ngoại thăm viếng chòm xóm người thân bè bạn chúc tụng nhau những lời đẹp đẽ... Thế là không khí Tết chuyển từ gia đình sang các tụ điểm vui chơi giải trí thu hút nhiều người. Cái đầm ấm rộn rịp gia đình của ngày hôm qua đã vô hình chung... dời đi nơi khác!

Có thể hình dung một hình Kim tự tháp đỉnh chóp là ngày 30 Tết. Mọi chuẩn bị lo toan háo hức rộn ràng ngày càng lên đến đỉnh điểm là ở phía dốc bên này. Khi đến cực điểm vào ngày 30 thì bắt đầu choài ra choãi xuống dần ở phía dốc bên kia kể từ sáng Mồng Một!

Như vậy rõ ràng không khí Tết diễn ra rõ nhất ý nghĩa nhất quan trọng nhất mà con người ta cảm nhận được trong tâm thức ngàn đời nay là rơi vào... ngày 30! Ngày 30 là ngày... "Tết" nhất của Tết vậy!

                                                                                                                 Tạ Văn Sỹ

More...

GIÁNG SINH

By tavansy@gmail.com

 

Chiều nay trên đỉnh Măng Đen giữa mùa gió lộng Tây nguyên thổi bời bời qua những rừng thông mịt mờ sương khói. Ngồi nép lạnh co ro trong một quán xép ven đường nhìn những chuyến xe tuyến Quảng Ngãi - Kon Tum (và ngược lại) thỉnh thoảng ngang qua. Đường 24 xuyên sơn vắng vẻ giữa núi rừng âm u và sương chiều vương vất nên có cảm giác những chuyến xe sao mà lầm lũi cô độc! Quen tay châm điếu thuốc bất giác nhớ thơ Hồ Dzếnh "Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây"! Và cũng bất giác bược ("bược" không phải "bật" - chữ dùng của Tản Đà tiên sinh) nhớ ra hôm nay là chiều 24 tháng 12.

Phải rồi đêm nay Giáng sinh! Giáng sinh không còn là của riêng những người "đi đạo" mà đã thành lễ hội quốc tế là mùa vui chung của mọi người. Không là tín đồ của tôn giáo nào nhưng tự dưng cảm thấy xuyến xao một nỗi gì như là chung cùng thiên hạ!

Cái cảm xúc không phải của người theo đạo cũng không phải cảm giác của người mong được bữa đi chơi vui vẻ bạn bè bồ bịch mà là một cảm thức mang mang về trần thế về cuộc đời thân phận! Hun hút trong trí nhớ chợt hiện về bài thơ của nhà thơ Phù Sa Lộc (ở Cần Thơ) đọc được từ mùa Giáng sinh năm 1972 (lâu ngày quá có lẽ sai đôi từ của nguyên văn): -"Ngọn gió phương xa đã trở về/ Áo ai ngăn rét chốn sơn khê/ Thị thành đã thấy khoe màu sậm/ Riêng mẹ riêng em khổ tứ bề.../ Ta có riêng gì ngoài đôi tay/ Với dăm thằng bạn lúc buồn say/ Nói cười như thể thân nhàn hạ/ Kỳ thật lòng riêng khó giải bày!/ Ta tặng cho người một kiếp vui/ Cả lòng cổ nguyệt với trùng khơi/ Gọi là một chút mừng khi Chúa/ Xuống thế mà không cứu được Người!".

Lạ thế?! Bài thơ có gì như "vận" vào mình nên nhớ mãi.

Thuở đó chiến tranh loạn lạc bọn con trai mới lớn chúng mình ngơ ngác mất phương hướng niềm tin kiểu "tuổi thơ giám thị cho ngày phù du" (thơ Bùi Giáng) nên từng đọc truyền nhau nghe và ngậm ngùi thích thú câu thơ (không rõ của ai) "Ngày mai có đứa làm khanh tướng/ Có đứa bơ vơ giữa chợ đời"! Rõ ràng từ ấy đến nay cuộc đời văng vật khiến mình cũng có gì đâu ngoài đôi bàn tay trắng? Mình cũng có gì đâu ngoài những bạn bè buồn vui "cùng một lứa bên trời lận đận"? Mình cũng luôn... "nói cười như thể thân nhàn hạ kỳ thật lòng riêng khó giải bày"!... Không trách cuộc đời cuộc đời này đã cho tôi giàu có phong phú lắm nhưng buồn một nỗi buồn mưng mưng giấu kín! Một nỗi buồn "đến thác còn vương"...

Ôi thơ! Thơ là như thế! Thơ hay là thơ có khả năng nói giúp thiên hạ những điều người ta không (hoặc chưa) nói được. Và nhà thơ giỏi là nhà thơ nói được những điều thiên hạ có trong lòng tạo nên niềm đồng cảm ở nơi bạn đọc. Lại chạnh lòng chợt nghĩ bây giờ thiên hạ đua nhau làm thơ rất nhiều mà sao cứ... trơn tuồn tuột không mắc móc vào mình một chút gì để nhớ! Cám ơn Phù Sa Lộc - người mà 38 năm sau khi đọc bài thơ mới vừa được gặp mặt vài tháng trước đây nhân chuyến đoàn văn nghệ Cần Thơ đi thực tế quá cảnh ở Kon Tum một đêm.

Nhớ thơ người rồi lại nhớ thơ... ta! Thế đấy giữa chiều không mông quạnh thế này không nhớ nhung vơ vẩn thì còn biết làm gì?! Nhớ lại mình chỉ có 2 bài thơ nho nhỏ về Giáng sinh viết từ những năm 17 18 tuổi nghĩa là cách nay đã trên 35 năm rồi! Nhân tiện xin khoe ra đây chứ để mãi không biết lúc nào thuận tiện mà khoe!

Ấy là có lần lẽo đẽo theo chân cô bạn nhỏ học trò vào Nhà thờ làm lễ Giáng sinh. Khuya về dự réveillon tại nhà bạn ấy mình len lén dúi vào bàn tay nhỏ ấm mấy dòng nguệch ngoạc "Đêm nay có muôn vì sao nhỏ/ Trên đường về Jérusalem/ Đêm nay dưới muôn đèn xanh đỏ/ Dứt bài ca nguyện anh hôn em"!

Hè năm ấy cô bạn theo cha mẹ chuyển vào Sài Gòn. Giáng sinh năm sau chưa nguôi nỗi nhớ một mình lại len lén vào Nhà thờ đứng đúng nơi năm cũ. Khuya về vương vấn theo từng bước chân thờ thẫn mấy câu nho nhỏ "Đêm này cũng đêm Giáng sinh/ Nhớ không em một cuộc tình đã xa/ Cúi đầu chuông đổ ngân nga/ Vỗ về anh bản thánh ca dặt dìu..."!

Kỷ niệm nhỏ "ấm nồng trong đêm Giáng sinh giá lạnh" ấy vẫn còn mãi trong hồn song hành cùng kỷ niệm buồn thân phận. Viết vội và đưa vào blog để bạn bè ở đâu đó đọc được thì sẻ san nhau chút nỗi đời đã xa lăng lắc. Và cũng để như thơ phù Sa Lộc gọi là một chút mừng khi Chúa xuống thế mà... không cứu được người!

 

Tạ Văn Sỹ

More...

TỪ NIỀM VUI NHO NHỎ!

By tavansy@gmail.com

 

Qua trên 1 tháng "mất mạng" (vnweblog) rồi tiếp liền gần 1 tháng lu bu công việc (sau khi đi Đà Lạt về có hứa sẽ kể chuyện cho bạn bè nghe) tự dưng cảm thấy mình bị mất "thói quen blog" đâm ra lười vào "nhà" mình và cả "nhà" của bè bạn nữa!

Nhận được nhiều cú điện thoại nhiều tin nhắn nhiều lời nhắn nhe... động viên mình trở lại blog để giao lưu cho vui cảm thấy chột dạ. Mới chiều nay lại nhận tin nhắn của Hồng Thủy Tiên bảo vào "nhà" Tiên xem ảnh cô ấy "khoe" buổi nhận giải thưởng Trẻ ở Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam hôm 18-12 vừa rồi. Định lúc nào "có hứng" thì vào. Nhưng khuya nay giữa cái lạnh thiêm thiếp của núi rừng Đăk Tơre - Kon Tum không ngủ được (đã 1 giờ rưỡi sáng) trùm chăn ngồi dậy moi laptop "lang thang" một tí cho đỡ buồn. Tạt ngang "nhà" Tiên thấy "em bé Liên Xô" tươi hơn hớn giữa các "hoàng tử" và trước "hoàng đế" Hữu Thỉnh (!) trên bục phát giải mà mừng cho Tiên mừng cho bút trẻ Kon Tum dường như đã bắt đầu có một khởi sắc mới. Không phải "kể công" nhưng trong cái mừng của mình còn hàm một niềm vui thầm lặng là với tí "công sức" còm đã động viên thúc đẩy các bạn trẻ ở đây in thơ để có được một kết quả nho nhỏ như bây giờ...

Từ nỗi mừng và niềm vui ấy mà đâm ra... "ngứa tay" muốn ngọ nguậy tí gì đấy! Thì viết! Vâng viết những dòng này may đâu lại gợi lại được cái đà trở lại blog. Mình vốn viết chậm rì rì nên rất mong có những cú hích những gợi hứng từ bạn bè bạn đọc.

Trở lại chuyện giải thưởng của Hồng Thủy Tiên. Cùng in cùng phát hành một lúc với tập thơ đầu tay "Đoản khúc riêng mình" (được trao giải) của Tiên (công dân huyện Đăk Tô - Kon) còn có tập thơ (cũng đầu tay) "Từ phía núi" của cây bút trẻ Hoàng Việt (huyện Đăk Hà - Kon Tum) cũng được xét vào đến chung khảo chỉ một tí tẹo tèo teo nữa là ẵm giải! Như thế thì bảo "thơ-trẻ-Kon-Tum-tôi" không vui sao được?!

Đến giờ cây bút trẻ Vũ Việt Thắng ở huyện Ngọc Hồi nơi ngã ba biên giới Đông Dương của Kon Tum  vừa in xong tập thơ đầu tay có nhan đề rất chi là... khiêm tốn: "Cỏ"! Cây bút trẻ Nguyễn Phúc Đoan ở "vương quốc cà phê của Kon Tum" là huyện Đăk Hà cũng chuẩn bị xuất xưởng tập thơ đầu tay "Một ngày của núi" nữa! Không dám so cùng ai nhưng với 2 tập thơ này hy vọng Kon Tum năm sau có thể lại tiếp tục có một... "mùa xuân nho nhỏ" nữa như Hồng Thủy Tiên vừa tạo được năm nay.

Ai bảo nói như thế viết như thế là mang tính "cục bộ" "địa phương" quá thì mình xin chịu hết. Không có những cố gắng những tự tổ chức tự vươn lên từ những "cục bộ" "địa phương" thì làm sao có... toàn quốc? Vả lại Kon Tum xưa nay vốn là một góc núi rừng Trường Sơn cô quạnh vừa nhỏ vừa xa vừa nghèo... đủ thứ (!) nên có được tí gì thì hay tí đó chứ sao? Và đặc biệt ở đây là một niềm vui rất... gia đình! Vâng văn nghệ trẻ Kon Tum không nhiều không "hùng mạnh" như ở một số địa phương khác nhưng các em sống với nhau rất "gia đình". Điều này tôi đoan chắc! Nếu ai có dịp đến Kon Tum tôi xin giới thiệu.

Tạ Văn Sỹ  

More...

TRỞ LẠI BLOG

By tavansy@gmail.com

 

Chừng tháng nay mạng blog bị lỗi không mở được đâm ra buồn buồn. Cái con người ta cũng lạ rất dễ bắt quen với một công việc nào đó. Trước đây không chơi blog thì không sao cả. Vào chơi được thời gian viết lách giao lưu với anh em bạn bè tứ xứ thấy vui thấy "quen" và... "ghiền"! Gặp khi trục trặc cứ ra ngẩn vào ngơ!

Hôm nay (2-12) mở lại thử xem thế nào thì thấy trang blog quen thuộc của mình đã có lại. Vào tiếp mấy trang của vài bạn bè thì thấy họ đã đưa bài từ ngày hôm qua (1-12). Viết vội mấy dòng này để ghi dấu sự "trở lại blog"!

Định viết cái gì đấy dài dài một tí nhưng đặc biệt hôm nay cái "cục a lô" của mình thỉnh thoảng reo réo gọi. Cũng bởi ngày kia (4-12) tại Đà Lạt có tổ chức buổi ra mắt tuyển tập THƠ TÌNH TÂY NGUYÊN do công ty SƠN CA tài trợ in ấn và phát hành. Phần bạn bè ở Kon Tum gọi đốc thúc tổ chức nhóm Kon Tum đi tham dự. Phần bạn bè ở Đà Lạt gọi hỏi có vào không để lâu ngày gặp nhau "bù khú". Phần Ban tổ chức gọi để biết số người đi mà sắp xếp chỗ ăn ở... Thật tình vì nhiều việc cần định không đi nhưng các bạn trẻ ở Kon Tum "làm công tác tư tưởng" riết róng quá nên không đành lòng từ chối được. Thì đi! Nhưng đi thì chính mình phải đứng ra tổ chức. Thế nên xin rút gọn trang blog này để lo cho việc ngao du xứ hoa Đà Lạt.

Kon Tum cách Đà Lạt tròm trèm 450 cây số để đúng ngày 4 đi thì không kịp giờ khai mạc phải đi vào ngày 3 (ngày mai). Thế là phải gọi hỏi cụ thể ai đi ai không hẹn tối nay tập trung tại thành phố Kon Tum để sáng sớm mai lên xe. (Xe Kon Tum - Đà Lạt thường chạy rất sớm khoảng 4 - 5 giờ sáng). Nắm được số người rồi thì chạy ra bến mua trước mấy vé xe cho chắc ăn kẻo mai trễ mất ghế ngồi. Xong đâu đó cho việc đi chơi cũng phải hoàn tất một số việc riêng nữa để đi cho yên tâm. Vậy là gần hết ngày!

Bây giờ đã 4 giờ chiều (16 giờ) đang ngồi vào máy gõ mấy dòng này thì lại nhận điện thoại. Thì ra đã lai rai có bạn ở huyện về Kon Tum để tập trung. Đành xin gác lại luôn cái khoảng "tâm sự" này để đi đón bạn. Để xem thử sau khi đi Đà Lạt về có gì hay hay sẽ khoe tiếp.

Tạ Văn Sỹ

More...

TỪ MỘT Ý THƠ THANH THẢO

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Nhân có người nhắc nhỏ bảo kể lại chuyện làm "tạp chí" Nguồn năm xưa tôi bèn lục lọi trong "kho" sách cũ tìm tư liệu để viết bài may gặp lại được tập Nguồn số 2 như đã nói trong bài "kể chuyện". Nhờ vậy mà "phát hiện" được một bài thơ mình viết cách đây 22 năm  "vẫn còn" nằm trong tờ "tạp chí" giấy pơ-luya đã ố vàng mủn nát ấy! Thế mà lâu nay quên mất không nhớ ra mình có bài thơ này để đưa in báo hoặc cho vào các tập thơ đã xuất bản! Bài này có được là do năm 1988 tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn ra số kỷ niệm 3 năm ngày mất nhà thơ Xuân Diệu có in bài thơ "Tưởng niệm Xuân Diệu" của nhà thơ Thanh Thảo. Tôi lấy ý từ đấy mà viết ra.  Xin khoe bè bạn đọc chơi vui.

TỪ MỘT Ý THƠ THANH THẢO

*Gửi nhà thơ Thanh Thảo


Tưởng niệm nhà thơ Xuân Diệu

Anh - một nhà thơ - viết ý tuyệt vời:

-"Anh coi trọng nhất khi làm việc (*)

Còn tôi coi trọng nhất khi chơi"!


Thoáng đọc thì như viết kiểu khác đời

Nhưng ngẫm lại là điều rất thật

Khi làm việc ai cũng làm như nhau

Chỉ khi chơi mỗi người chơi một khác


Có thể suy thành nhiều cách:

Có người làm việc như chơi

Có người chơi như làm việc

Cũng có người làm việc để mà chơi

Lại có người chơi để làm được việc


Những điều ấy đều dễ dàng nhận biết

Chỉ sợ những tên không biết chơi mà làm việc thật

Hoặc những kẻ không biết làm mà lại ham chơi

Cả hai đều đáng ngại


Xuân Diệu phải và anh cũng... phải!

Bởi các anh là những nhà thơ

Cách nói các nhà thơ ngỡ nhiều khi trái nghịch

Nhưng không khác xa những chuyện rất gần


Chân lý - ai dám bảo là điều không thực

Nhưng đôi khi sự thật... giả trăm phần!


(1-11-1988)

(*) Một quan điểm Xuân Diệu thường nhắc đến lúc sinh thời.

More...

MỘT THỜI KỂ LẠI…

By tavansy@gmail.com

 

Sau khi đọc bài viết của tôi có đưa thông tin về "tờ báo" Ngọ báo của  các nhà chí sĩ cách mạng được "xuất bản miệng" một cách độc đáo tại Nhà ngục Kon Tum vào những năm 1932-1935 một số bạn bè bảo rằng Kon Tum còn có "tạp chí" Nguồn vào cuối những năm 80 thế kỷ trước cũng... "độc đáo" không kém sao không kể lại?

Vâng thì kể!

Nhưng vì là 2 bài viết rời nhau nên trước khi kể về "Nguồn" cũng xin nhắc thoáng đôi dòng về cái "độc đáo" của "Ngọ báo": -Theo vài tư liệu các nhà hoạt động cách mạng có uy tín ở Miền Trung thời kỳ cao trào 1929-1930 bị Pháp bắt đày biệt xứ lên Nhà ngục Kon Tum để cách ly với quần chúng. Trong sự hà khắc đàn áp dã man của tù ngục nhằm tự di dưỡng tinh thần cho chính mình và động viên đồng chí đồng đội vững chí đấu tranh các cụ lập ra ngay trong lòng Nhà ngục một Hội Thơ lấy tên "Tao đàn Ngục thất" hằng tuần mỗi người làm một bài rồi cùng đọc cùng thẩm định bài nào hay thì được thưởng cái bánh quả chuối... Có cả một tiểu thuyết tên "Giọt máu hồng" cũng được "sáng tác" và đọc dần từng đoạn mỗi ngày... Đồng thời các cụ còn tổ chức hẳn một "tờ báo" đặt tên là "Ngọ báo" để mỗi buổi trưa (ngọ là giữa trưa) tranh thủ lúc được giải lao nghỉ ngơi chốc lát cùng đọc cho nhau nghe bằng cách... bài của ai người ấy đọc! Có thể tưởng tượng ra cảnh ai có được mẩu giấy mẩu bút chì thì nháp ra rồi đọc người không có gì thì nghĩ sẵn trong đầu rồi... đọc! Có lẽ đây là một cách "làm báo" độc đáo chưa từng có! Nói "chưa từng có" vì cùng thời các cụ. ở nhiều chốn lao tù trong cả nước cũng có một số báo "tự phát" như vậy ví dụ tờ "Suối reo" ở nhà tù Sơn La chẳng hạn nhưng chỉ đọc bằng miệng như "Ngọ báo" thì... quả là độc đáo!

Cũng tại Kon Tum sau sự kiện "Ngọ báo" ấy gần 60 năm một lớp hậu sinh xuất phát từ đam mê nhiệt huyết mà xúm nhau cùng tự làm một tờ "tạp chí" cũng... độc đáo không kém! Chỉ khác các cụ là không phải trong cảnh lao tù thiếu thốn khó nhăn không phải chỉ đọc bằng miệng mà là... đánh máy trên giấy đóp tập hẳn hoi. Ấy là "tạp chí" Nguồn!

Năm 1988 Hội Văn học nghệ thuật Gia Lai - Kon Tum (tỉnh chung cũ) được thành lập thì Câu lạc bộ Sáng tác Văn nghệ thị xã Kon Tum (khoảng gần 20 thành viên - thuộc Nhà Văn hóa thị xã Kon Tum) trở thành Chi hội trực thuộc Hội. Có 6 anh em trong Câu lạc bộ được kết nạp làm hội viên gồm: Trần Duy Phiên Võ Ngọc Minh Trương Công Thức Trần Thọ Phạm Cao Đạt Tạ Văn Sỹ. Hội (đóng ở tỉnh lỵ tại thị xã Plei Ku - nay là thành phố) thì đã có tạp chí Văn nghệ Gia Lai - Kon Tum. Anh em Chi hội bèn bàn nhau làm một "tờ báo" riêng như một cách sinh hoạt nội bộ. "Tôn chỉ" của "tờ báo" là tập hợp lưu trữ tác phẩm của anh em để nhiều người cùng đọc.

Qua mấy buổi sinh hoạt họp bàn cuối cùng thống nhất: "Tờ báo" sẽ có dạng một "tạp chí" ra hàng tháng (nguyệt san) gồm đủ thơ văn nhạc họa tiểu luận sưu tầm thiếu nhi thư tòa soạn hộp thư thông tin trao đổi (nếu có)... Riêng việc đặt tên cũng mất cả mấy buổi họp bàn thảo luận. Ai đề nghị đặt tên gì phải có giải trình nghĩa lý rạch ròi để mọi người tham khảo bàn bạc. Nào là Ánh Sáng Rẻo Cao Đời Mới Trường Sơn Ngọc Linh Cao Nguyên v.v... Cuối cùng tên Nguồn với lập luận: Chúng ta ở Kon Tum trên núi cao Trường Sơn là nơi phát nguyên mạch nguồn của những khe lạch nhỏ. Chúng ta là những khe lạch nhỏ mong được hợp lưu với muôn nơi để thành những suối sông lớn cùng đổ về biển cả văn học Việt Nam! Lập tức ý tưởng này được "nhất trí cao"! 

Xong tên gọi phần thực hiện sẽ là: Mỗi số phải được trên dưới 70 trang. Phân bổ như sau: Người đã viết trước viết nhiều thì mỗi số đều phải có bài (để cho dày dặn số trang); mỗi tác giả văn xuôi là 1 tác phẩm thơ thì vài ba bài; số anh em mới viết lượng tác phẩm còn ít thì cách một số phải có mặt một số. Mỗi số phải có từ 2 đến 3 truyện ngắn chừng trên dưới 20 bài thơ   một vài bài thuộc dạng sưu tầm khảo cứu tiểu luận nho nhỏ v.v... "Ấn loát" bằng cách đánh máy trên giấy pơ-luya thành 6 bản (4 bản cho 4 nhóm Thơ Văn Nhạc Họa; 1 bản giữ ở Câu lạc bộ và 1 bản gửi "lưu chiểu" về Hội tỉnh). Ban thực hiện gồm Trần Duy Phiên Huỳnh Ngọc Sơn Trương Công Thức Võ Ngọc Minh Tạ Văn Sỹ. Phân công như sau: Trần Duy Phiên chịu trách nhiệm đi Plei Ku quan hệ mượn (lâu dài) cái máy đánh chữ của nhà báo Ngọc Kỷ (phóng viên tờ Tia Sáng ở Sài Gòn cũ nay cũng là hội viên). Tạ Văn Sỹ chịu trách nhiệm đánh máy trình bày. Trần Thọ lãnh phần đóng tập và cùng với Trương Công Thức Phan Châu Khanh luân phiên nhau vẽ bìa minh họa phụ bản kẻ vẽ nhan đề. Tất cả đều làm trực tiếp bằng... tay! Người nào có bài in vào số nào thì được "Ban biên tập" thông báo góp ít tiền đủ mua giấy pơ-luya và giấy than lót để đánh máy mua bút mực để trình bày kẻ vẽ phần mỹ thuật...

Thế là bắt tay! Số đầu tiên ra ngày 15-5-1989. Nghĩa là phải làm từ đầu tháng. Khi ấy tôi làm ruộng ở tận xã Đăk La (giờ thuộc huyện Đăk Hà - Kon Tum) cách nhà 15 cây số. Sáng sớm cơm nắm nước bầu đạp xe lên ruộng. Quần quật với bùn đất nắng trời cả ngày nhưng trong lòng cứ náo nức mong mau lặn mặt trời để về nhà thực hiện "tạp chí". Về đến nhà khi "chó không nhận ra mặt chủ" tắm rửa qua loa và vội miếng cơm là chong đèn dầu ngồi vào bàn... gõ. (Nhà tôi ở rìa thị xã hơi xa lại nghèo không đủ tiền mua dây kéo điện nên thắp đèn dầu).

Chỉ bằng 2 ngón trỏ cứ thế tôi... mổ cò! Khổ và chậm nhất là khi đánh đến gần cuối dòng phải dừng lại đếm từng chữ cái của mấy từ tiếp theo để tính toán cho dòng chữ không những bằng đầu mà còn bằng đuôi trên dưới thẳng băng tăm tắp như in. Lại thêm cái khoảng không được phép sai câu cú từ ngữ chính tả vì sai một tí là phải bỏ luôn cả "táp" giấy đó làm lại vừa phí giấy phí công. Có đêm tôi gục lên máy ngủ lúc nào không hay! Sáng sớm vợ lấy đèn nhóm lửa nấu cơm thấy thế thì lay dậy! Thế mà vui thế mà "tạp chí" cứ đều đều mỗi tháng một số đúng ngày 15 như... "nghị quyết"! Hai đầu ngón trỏ tôi "ê ẩm" vì phải gõ mạnh để những tờ thứ 5 thứ 6 ăn vào giấy than được rõ hơn. Lúc ấy tôi là một "lực điền" nên sức khỏe không hề gì sáng ra lại cơm nắm nước bầu phom phom xe đạp 15 cây số lên với ruộng nương! Vào dạo ấy có lần 2 nhà văn Cao Duy Thảo (lúc ấy là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa) và Thế Vũ (lúc ấy là biên tập trang văn nghệ báo Thanh niên) ở Nha Trang đến Kon Tum hỏi đường tìm vào thăm tôi nhưng tôi ở ruộng không gặp. Tối về nhà được vợ con kể lại rằng các anh bảo phải nhắc lại câu nói này cho tôi nghe: -"Sao nhà văn Việt Nam ta lại khó khổ lam lũ thế này?"!

Đánh máy xong tôi sắp xếp cẩn thận thứ tự trang bài chuyển qua nhóm Mỹ thuật. Các bạn ấy có trách nhiệm viết tay làm sao tất cả các nhan đề bài viết trên 6 tập báo 6 minh họa cho mỗi một truyện ngắn (nếu 2 3 truyện thì cứ thế nhân lên) 6 bản vẽ họa phẩm cho một phụ bản (mỗi số 2 phụ bản) đặc biệt là hình mẫu của 6 cái bìa... tất cả phải giống nhau như đúc! Các bạn bên nhóm Âm nhạc (Võ Ngọc Minh Phạm Cao Đạt) thì phải kẻ vẽ 6 hoặc 12 (nếu số ấy có 2 ca khúc) bản nhạc vừa đẹp vừa giống nhau vừa gọn ghẽ theo khuôn khổ trang báo... Xong tất cả các công đoạn thì chuyển qua Trần Thọ (dạy môn Mỹ thuật trường Trung học Sư phạm) là người rất khéo tay đóng lại thành 6 tập (có bao giấy ni-lông bên ngoài) bằng bặng nhau như đúc!

Vui nhất là ngày "phát hành"! Câu lạc bộ (tức Chi hội) tổ chức gặp mặt trong một buổi sinh hoạt định kỳ có ít rượu mồi cùng đóng góp. "Tạp chí" được trình làng. Chuyền tay nhau xem ngắm nhận định góp ý để rút kinh nghiệm cho số sau. 4 tập được chia cho 4 nhóm chuyên ngành để chuyền tay nhau đọc 1 tập giao Chi hội trưởng cất giữ 1 tập gửi về Hội tỉnh.

Cứ thế Nguồn ra được 4 số (từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1989). Đang thực hiện số thứ 5 được nửa chừng thì xảy ra sự cố. Có một bạn trẻ mới viết thấy bài của mình số có số không bèn đến nhà tôi khi tôi đang đánh máy. Anh bạn nói rõ ý trách móc phê phán rằng sao không chịu đăng bài anh ta liên tục? Hóa ra Ban biên tập giành phần đăng bài của mình nhiều hơn! Tôi nhắc lại tinh thần đã thống nhất của các buổi sinh hoạt trước đấy. Anh bạn không nghe. Liền sau đó có râm ran dư luận dè bĩu rằng "Một bọn vừa ngu vừa ồn nên xúm nhau làm tờ Nguồn"! (ngu và ồn là... chiết tự từ chữ Nguồn!). Nản chí quá tôi mang toàn bộ tập Nguồn số 5 đang làm dang dở và máy đánh chữ đến nhà Chi hội trưởng Trần Duy Phiên giao trả. Biết rằng xã hội nào cũng thế có kẻ nọ người kia nhưng không chịu nổi trong nội bộ có người hẹp hòi phá bĩnh! Thế là đáng lý số 5 sẽ ra mắt vào tháng 9-1989 nhưng không ai làm tiếp. "Tạp chí" Nguồn cũng... "đình bản" luôn từ đó!

Một trang Phụ bản của Phan Châu Khanh

Tranh minh họa của Trương Công Thức cho một truyện ngắn.
              Không những chỉ là "tập hợp bản thảo của nội bộ thành viên Chi hội" mà "tạp chí" còn đăng cả truyện ngắn hay của nhà văn nữ trẻ "đang lên" (lúc ấy) Trần Thùy Mai ở Huế gửi về cộng tác nữa! Riêng truyện ngắn "Kiến và người" của Trần Duy phiên sau khi in trên Nguồn số 2 liền được tạp chí Văn nghệ của Hội in lại đã gây một "sự cố xôn xao dư luận" đáng nhớ. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy "sức" về "hỏi han kiểm điểm" Ban Lãnh đạo Hội bảo rằng in bài "phạm quy" (!) rồi gọi tác giả từ Kon Tum về Tỉnh "điều trần". Trên mặt báo của Tỉnh đảng bộ Gia Lai - Kon Tum có mấy bài cho tác giả "lên thớt"!... Anh em văn nghệ trong tỉnh đề nghị cho mở hội thảo để phân rõ phải trái... Cuối cùng Tỉnh ủy bảo thôi không nói năng gì nữa! Sau đó Nguồn đăng tiếp truyện ngắn "Thằng chó đẻ" của Trần Duy Phiên cũng "được" các bộ óc "ưu thời mẫn thế" suy luận rằng bọn nó định chửi ai là... chó đẻ?!

Nguồn có mấy "độc đáo": -Hoàn toàn tự phát không giấy phép giấy tắc gì cả! "Phát hành" mỗi số chỉ có 6 bản! Làm hoàn toàn bằng tay nhưng giống nhau răm rắp! Không những không nhuận bút không báo biếu mà ai có bài đăng còn phải ủng hộ tiền mua giấy mực! Những người thực hiện hoàn toàn tự nguyện không một đồng thù lao lương lậu! Cũng "nộp lưu chiểu" về cơ quan chủ quản đàng hoàng! Không bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ báo chí nhưng vẫn đầy đủ các chuyên mục chuyên trang và trình bày sắp xếp một cách bài bản mỹ thuật như của một tờ tạp chí thực thụ! Có mặt chỉ đúng... 4 số qua 4 tháng tuổi đời!...

Bây giờ ở Kon Tum và Gia Lai thỉnh thoảng có người nhắc đến Nguồn với tinh thần vừa trân trọng vừa... tức cười! Cũng là một kỷ niệm khó quên của phong trào văn nghệ Kon Tum một thời hoàn toàn tự phát nhưng đầy tâm huyết. Có người nói vui rằng nếu biết được chắc Ban soạn thảo tự điển Guiness sẽ đưa ngay vào danh mục những tờ báo "độc dáo" nhất thế giới! Cũng vui!

Như vậy nếu những thông tin về tờ "Ngọ báo" trong Nhà ngục Kon Tum của các bậc tiền nhân gần 60 năm trước đó là có thật thì cùng với "tạp chí" Nguồn của lớp con cháu hậu sinh gần 60 năm sau đã thành 2 "tờ báo" độc đáo có một không hai ở mảnh đất Kon Tum khuất nẻo đại ngàn!

Tái bút: Tôi còn lưu được mỗi tập Nguồn số 2. Bạn nào muốn... "tham khảo" xin liện hệ.

Tái bút 2: Nhận được comment của anh bạn làm thơ Trần Viết Dũng ở thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn - Bình Định báo còn lưu giữ đủ 4 số Nguồn mừng và vui quá! Mong Dũng tiếp tục giữ cẩn thận nhé.

Tạ Văn Sỹ

(Kon Tum 1-11-2010)

More...