HỌC CỔ NHÂN

* Lời thưa: Bài viết vội gửi đi cô bạn trẻ Dương Kim Thoa (Biên tập viên Ban Văn hóa – Khoa giáo – Đời sống Đài Tiếng nói Việt Nam) bảo anh đừng sợ dài cứ viết thêm nhất là việc lấy chính tác phẩm của mình để chứng minh cái sự ảnh hưởng học tập “bắt chước” người xưa; nếu không đủ thời lượng phát sóng thì em căn cứ vào nghĩa lý mà cắt bớt một số đoạn. Thế thì viết. Chỉ cần phát triển thêm vào thôi mà. Mong bạn đọc đọc chơi. Chơi thôi chứ tôi không phải là người nghiên cứu biên khảo hay lý luận phê bình văn học xin chớ trách nặng lời nếu có chỗ nào đó chưa trùng ý nhau!

Ta thường nghe nói không có trường lớp nào dạy được sáng tác văn chương khi mà người ấy không có tí ti gì năng khiếu bẩm sinh. Nhưng người đã tham gia sáng tác văn chương thì tôi tin chắc rằng không một ai dám nói tôi không “học” ở đâu đó một cái gì cả! “Học” ở đây nên hiểu là sự ảnh hưởng nhập tâm kể cả… “bắt chước”.

Lại có người nói vui: “Học mà được à?”! Vâng có thể chưa chắc học mà được nhất là trong lĩnh vực sáng tạo văn chương. Bởi lẽ mỗi nhà sáng tác đều có một cái “e” riêng cái “gu” riêng – tức là cái văn phong giọng điệu cảm xúc ý tưởng riêng – Không ai giống ai không ai lẫn vào ai được cả. (Trừ chuyện “đạo văn” có dấu hiệu trở thành một thứ dịch bệnh truyền nhiễm đang lan tràn như hiện nay. Những thứ này thì dĩ nhiên là giống nhau chan chát rồi!).

Cũng như nhiều người khác tôi “học mót” được nhiều thứ từ các thi nhân lớp trước và từ văn học bình dân trong quá trình sáng tác của mình. Xin có vài ví dụ.

Với cổ nhân thì học ở các cụ biết đến bao giờ mới thôi! Ở đây chỉ xin vắn tắc 3 hình thái thơ xưa mà tôi thấy được. Chịu khó đọc các tập (tuyển) thơ và truyện thơ Nôm thời kỳ trung đại ta sẽ học được cách nói kiệm lời của các cụ kiểu “Ý tại ngôn ngoại” “Thi dĩ ngôn chí”… Chính cái gò bó khuôn khổ của thơ cũ lại là cái hay nó bắt người ta phải tự biết tiết chế tự gò mình lại không nên nói dai viết dài làm cho loãng nhạt ý tưởng và cảm xúc. Vì như thế thì dẫu bài thơ có tứ tốt từ hay cũng dễ khiến người đọc nhàm đi đôi khi đọc xong thấy u u minh minh không hiểu nói gì! Thơ xưa chỉ 4 câu 8 câu (Đường luật) 11 hoặc 15 câu (Hát nói) dài hơn tí nữa là Cổ phong liên hoàn Ngâm khúc… Dấu ấn này ở trong thơ tôi là số lượng thơ tứ tuyệt và thơ ngắn rất nhiều. Thi thoảng có bài cần viết dài thì cũng không quá vài ba mươi câu. Xin một ví dụ nhỏ: -“Hồn tôi như địa chất/ Tầng tầng trầm tích xưa/ Suốt đời tôi khai quật/ Tìm nỗi buồn ban sơ”! - Ấy là tôi cố gắng “tự vịnh” mình bằng chỉ với 20 từ ngắn ngủi xem sao bởi tâm lý chung khi nói về mình thì ai chả muốn nói… dài! Tôi vẫn nhớ lời của nhà thơ Chế Lan Viên đại ý: Không ai bắt anh kéo một bài tứ tuyệt thành một bản trường ca cũng không ai buột anh cô một bản trường ca thành một bài tứ tuyệt! Nhưng cái tạng riêng của tôi là thế nó không… dài ra được! Bây giờ thi thoảng đọc được ở đâu đó một số bài thơ tôi cứ tiếc thầm rằng phải chi tác giả đủ bản lĩnh để làm cho nó ngắn lại nghĩa là dám can đảm tự chính tay mình “cắt đục” những chỗ mình đã “rứt ruột đẻ ra” (tiếc lắm!) thì chắc sẽ tốt lên nhiều!

Từ yêu cầu ngắn gọn dẫn đến cái học thứ hai trong thơ xưa là nghệ thuật dùng biện pháp “tiểu đối” ở trong một câu thơ. Đặc biệt trong Truyện Kiều rất nhiều cặp lục bát trong tác phẩm này đều được Nguyễn Du dùng đến biện pháp tiểu đối của một bậc thầy. Chỉ trong một dòng thơ thôi mà tác giả đưa ra được 2 hình ảnh 2 ý tưởng song song hoặc đối trọng hoặc đồng hiện làm cho câu thơ mở rộng biên độ hơn lung linh gợi tưởng hơn sắc tố biểu cảm được nhân lên gấp bội. Ví dụ: -“Người lên ngựa – Kẻ chia bào…”; -“Thành xây khói biếc – Non phơi bóng vàng…”; -“Người quốc sắc – Kẻ thiên tài/ Tình trong như đã – Mặt ngoài còn e”… Kẻ hậu sinh này “bắt chước” để viết: -“Nghe tan chầm chậm qua hồn/ Niềm vui thuở trước - Nỗi buồn kiếp sau…”; hoặc: -“Mặt trời thì khép lại ngày/ Mặt trăng khép tháng - Phút giây khép giờ/ Con người khởi tự ấu thơ/ Bước chân khép ở bến bờ thiên thu…” v.v… Thỉnh thoảng đọc đâu đó gặp kiểu tiểu đối này nhưng có lẽ người viết sơ ý hoặc chưa nắm chắc luật phép của thể Đối mà để lạc thanh chệch từ khiến có cảm giác như nhai cơm gặp sạn! Đôi khi không những chỉ ê răng mà còn… bẽ bàng nữa!

Một cái học nữa ở người trước là cách chọn từ ngữ thi ảnh. Vì yêu cầu súc tích nên các cụ đánh vật với con chữ ghê lắm đánh vật kiểu “thôi – xao” ấy! Làm sao ít chữ mà được nhiều ý và rõ ý. (Giống như người đi buôn ít vốn nhưng phải nhiều lãi! Không khéo đi buôn mà để huề vốn hoặc buồn hơn là bị… lỗ to! Kể cả huề vốn thì cũng đã… lỗ công rồi)! Có ý kiến bảo như thế sẽ làm “chết” con chữ mất đi cái sống động tự nhiên vốn dĩ của cảnh sắc tình cảm cần biểu đạt. Tôi nghĩ chỉ những ai “yếu bóng vía” mới làm “chết” chứ các cụ ta “cao tay ấn” lắm đã từng làm “sống” bao nhiêu từ ngữ tưởng bình thường “thấp giá” kia đấy. Cái này tôi cũng “bắt chước” viết thế này không biết được chưa: -“Bất ngờ tôi gọi tôi ơi/ Nghe thinh không đáp vọng lời hư không!”; hoặc: -“Con người giữa cõi người ta/ Tôitôitôi và… tôi ơi!”… Cái khổ công này ngày nay hình như lớp con cháu “chịu sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật” nhiều quá nên đâm ra lười ít người chịu khó khổ luyện được như các cụ!

Về phía văn học bình dân tôi học được cách nói ví von vần điệu gần gũi nhưng tinh lọc về ngôn ngữ và tinh tế về ý tưởng. Cái này thì ca dao tục ngữ thành ngữ dân ca là cả một kho tàng. Học được “bắt chước” được đưa được kiểu ăn nói ấy vào thơ cũng làm cho thơ ngắn gọn súc tích ý nhị và có… duyên hơn! Tôi đã vận dụng kiểu này vào thơ mình… hơi bị nhiều! Không rõ đó là điều hay hay dở? Ví dụ: Thành ngữ có câu “Đất lề quê thói”. Thế là trong bài thơ “Về quê” tôi bê nguyên vào làm cho ý thơ chỗ này không cần phải giải thích dài dòng (mà có “giải” chưa chắc đã được “thích”!): -“Bao năm sống chốn thị thành/ Ngỡ mình đã nhuộm đỏ xanh màu mè/ Làng xưa mỗi dịp quay về/ Mới hay đất thói quê lề vẫn nguyên…”; hoặc ca dao có câu “Ngỡ giếng sâu anh nối sợi dây dài/ Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây” thì tôi “phăng” ra: -“Lòng người vốn bể đa đoan/ Chị làm sao lượng đâu vàng đâu thau/ Đã đành chẳng đặng giếng sâu/ Chị ngồi tiếc mãi dây gàu được không?”...

Trở lại chuyện “học mà được à!” một tí. Câu thơ Nguyễn Bính: -“Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”! Quá tài quá hay! Chỉ cần một câu thôi mà mở ra mênh mang một nỗi niềm hoài cổ. Trong bài thơ viết về Hà Nội tôi đã “bắt chước”: -“Chân đang đi giữa lòng Hà Nội/ Mà hồn vời vợi nhớ Thăng Long”. Chủ quan mà nói thì câu của tôi cũng “không đến nỗi nào” nhưng so với Nguyễn Bính thì thua xa. Dễ thấy cái “thua” ấy nhất ở chỗ người ta chỉ cần một câu còn mình thì mất đứt đến hai câu mới nói được một ý tưởng như nhau! Tôi thấy thế là đã “ăn cắp” lắm rồi chứ không thể biết mình yếu kém mà… bê  luôn của người ta vào làm của riêng mình thì… khó coi quá!

Ở mỗi thời đại ngôn ngữ cũng biến hóa theo có ngữ nghĩa riêng có cách nói riêng nhưng tôi quan niệm cứ phải nắm bắt cái cơ bản cái truyền thống cho chắc đã rồi từ đó anh mới có cơ sở mà “phăng-ta-zi”. “Phăng” cỡ nào cũng được không lo bởi dưới chân anh đã có sẵn một cái nền một cái móng vững vàng rồi. Các nhà thơ mới cự phách thời kỳ 1932 – 1945 đều nắm rất chắc kỹ thuật thơ cũ thậm chí có người đã từng làm nhiều thơ kiểu cũ không kém cạnh ai trước khi bước hẳn sang làm thơ kiểu mới như Hàn Mặc Tử - một kỳ nhân thơ mới - là một ví dụ. Hay như Xuân Diệu – ông hoàng thơ mới - nếu không am tường thơ cũ làm sao có cả một công trình biên khảo đặc sắc “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”? v.v… Rồi tiếp theo là một số nhà thơ trẻ hơn thuộc lớp chống Mỹ trở về sau cũng có tham gia bình dịch thơ xưa (như Đỗ Trung Lai - tác giả “êm êm một khúc sông Cầu -…) mà thơ của họ viết vẫn rất mới rất hay. Có phải nhờ được tiếp sức từ thơ xưa hay không mà thơ của những vị nhắc làm ví dụ trên đều chững chạc đĩnh đạc nặng cân được nhiều người thích thuộc…

Bây giờ không ít người sáng tác trẻ không còn cái đam mê thích thú đọc thơ xưa nữa. Nó chỉ còn nằm trong các thư viện các kho tư liệu để dành cho các nhà nghiên cứu. Nhưng đó chính là trầm tích của một bề mặt văn học mênh mông. Chúng ta ngày nay có múa may quay cuồng gì thì cũng nằm trong cái gia tài vô giá ấy!

Sực nhớ và xin dẫn lại cái đúc kết độc đáo của giáo sư Nguyễn Uyển Diễm ở thời cận đại đại ý: Một bài thơ hay cần hội đủ 3 yêu tố TỨ TỪ TƯ! Nghĩa là phải có tứ thơ hay sử dụng ngôn từ giỏi và nêu bật được tư tưởng tốt!

Tạ Văn Sỹ

Trương Anh Tài

Học không có nấc thang cuối cùng!
Bài viết của anh không những hay mà còn có tính giáo dục cao.
Em nhất trí quan điểm: Muốn sáng tác được phải học. Không có tri thức và vốn hiểu biết làm sao sáng tác được. Theo em năng khiếu chỉ là một tố chất bẩm sinh. Nó giúp người (có năng khiếu) dễ cảm thụ văn học hơn dễ dàng thuộc nhiều bài văn bài thơ ... hơn thôi. Còn muốn sáng tác được nhất định phải có tri thức vốn hiểu biết và đặc biệt phải có niềm đam mê ...
Học không chỉ đơn thuần là cắp sách đến trường học hết chương trình Tiểu học THCS THPT Đại học ... Ngay từ khi lọt lòng me ta đã được nghe những lời ru những câu ca dao câu hò câu ví ... ngọt ngào giàu cảm xúc thắm đượm tình người của bà của mẹ. Trong lao động sản xuất vui chơi hội hè...trong mỗi chúng ta lại được bồi dưỡng tính dân tộc tình quê hương đất nước. Mỗi chúng ta cảm nhận và hiểu biết được truyền thống thống văn hoá bản sắc dân tộc... Nhưng những cảm xúc và tri thức đó đến được với mình nhiều hay ít là tùy vào ý thức "học" và khả năng cảm thụ khả năng lĩnh hội của từng người. Có một điều chắc chắn rằng "học sẽ giúp mình ít nhất vượt lên được chính mình".
Nhờ học mới có hiểu biết có hiểu biết mới có lập trường quan điểm rõ ràng đúng đắn. Từ đó bài viết mới thể hiện được cảm xúc sâu sắc; thể hiện được lý tưởng của mình...
Chúc anh sức khỏe có nhiều bài viết hay.

Y Việt Sa

Y Việt Sa

Vâng ạ về lại Kon Tum không thể không ghé thăm "Lão Tạ" để khề khà tán dóc.

tavansy

Gửi bạn

Y Việt Sa Hồng Thủy Tiên Nguyễn Văn Nông Bích Nhàn thân mến! Nhớ tiếp tục chịu khó vào đọc những "ngẫu hứng" của Sỹ nữa nhé. Lúc nào có dịp về Kon Tum thì ghé nhau tán dóc!

tavansy

Gửi bạn

Cám ơn các bạn Thảo Văn Châu Thu Hằng đã có lời tốt đẹp. Mong tiếp tục có nhiều trao đổi nữa để học hỏi thêm. Thân.

Bích Nhàn

Anh có dẫn chứng thơ anh em đọc mà mê luôn. Anh học cổ nhân rất sáng tạo. Em cũng hc không ngừng nhưng không khéo như anh ...

Nguyen Van Nong

Văn chương di dưỡng tinh thần

Càng đọc em càng thấy anh có hiểu biết sâu rộng về lịch sủ văn chương nước nhà.