Y VIỆT SA

By tavansy@gmail.com

* Lời thưa: -Cô bé Y Việt Sa sinh năm 1990 tại huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum là cây bút trẻ của phong trào sáng tác văn học nghệ thuật Kon Tum người mang hai dòng máu hòa hợp Kinh (mẹ) và Bana-Rơngao (cha) đang học khoa Báo chí Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội sáng nay nhắn tin “khoe” với tôi rằng bài phỏng vấn tôi của cô vừa được in trên tập san Áo Trắng số 9 phát hành ngày 15-5-2011 này. Nguyên là nhân dịp nghỉ hè về nhà Y Việt Sa ghé thăm tôi bèn bày ra “trò” phỏng vấn ấy như một cách tập sự (lời Sa bảo). Để chia vui với cô “bạn đồng nghiệp” be bé này xin đưa ra đây… khoe luôn! Và cũng nhân tiện làm luôn cái “phụ lục” sau bài phỏng vấn để giới thiệu bài thơ mới nhất của Y Việt Sa cũng vừa in trên tạp chí Văn nghệ Kon Tum số 71 ra tháng 5-2011 nói lên nỗi trăn trở đáng quý của thế hệ trẻ dân tộc thiểu số miền núi giữa truyền thống và đổi mới trong guồng quay biến đổi đến chóng mặt của xã hội đang “công nghiệp hóa hiện đại hóa” từng ngày. Bạn đọc “tham khảo” thêm.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: -“Mỗi ngày tôi mua một niềm hi vọng”!

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ sinh năm 1955 tại miền đất võ Bình Định. Tuy nhiên cái nghiệp văn thơ lại vận vào cuộc đời ông như một sự sắp đặt của số phận. Có một thời gian trước đây ông chọn nghề xe ôm để mưu sinh nhưng nàng thơ trong ông luôn dào dạt. Ông đã in 4 tập thơ: Mặt đất Cõi người Trời xa và Tùy khúc. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đang sinh hoạt ở Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Kon Tum.

-Xin chào nhà thơ! Được biết ông làm thơ từ năm 13 tuổi đến nay ông đã cho ra đời 4 tập thơ. Trong đời làm thơ của mình điều gì khiến ông nhớ nhất?

TVS: Con đường đến với thơ của mỗi người đều có nhiều điều để nói. Riêng tôi biết bạn viết bài cho Áo Trắng tôi xin nói về chuyện tôi và Áo Trắng nhé! Trước năm 1975 ở Sài Gòn có tờ Tuổi Ngọc (cũng na ná như Áo Trắng) những bài thơ đầu tay của tôi đa phần được in ở đó. Sau này khi nhà văn Đoàn Thạch Biền chủ trương làm tuyển tập sáng tác văn học cho lứa tuổi áo trắng nhớ kỷ niệm đầu đời tôi liền tham gia cộng tác từ rất sớm. Rất vui là khi ấy nhà văn Đoàn Thạch Biền lại giao cho tôi giữ “chức” Trưởng Gia đình Áo Trắng Kon Tum. Đó là một kỉ niệm khó quên.

-Nhiều người thường gọi ông với biệt danh “nhà thơ xe ôm”! Cảm giác của nhà thơ như thế nào khi mọi người gọi mình như vậy?

TVS: Thì tôi từng là một gã xe ôm chính hiệu kia mà! Ấy là việc mưu sinh có gì mà phải phàn nàn? Xe ôm có gì là xấu? Từ “thói quen nghề nghiệp” ấy nên thỉnh thoảng tôi hay quành xe một mình vòng quanh phố nhỏ Kon Tum để xem những đổi thay thú vị để thêm yêu quê hương mình hơn. Đôi lúc hứng chí tôi lại “ngao du” khắp trong nam ngoài bắc trên chiếc xe cà tàng của mình. Chính từ những chuyến đi như vậy mà tôi có  thêm nhiều điều để đưa vào thơ. Bạn bè nhớ tôi là nhớ một gã xe ôm làm thơ! Tôi nhận được nhiều thơ bạn bè viết tặng bởi cuộc đời và cái nghề đặc biệt ấy đấy. Tôi thấy bình thường với cách gọi thân tình và trìu mến thế.

-Nhà thơ thể hiện tình yêu đó thế nào trong lĩnh vực hoạt động văn nghệ?

TVS: Tôi gắn bó với mảnh đất Kon Tum này gần nửa thế kỷ rồi. Riêng về lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật ở đây tôi buồn một điều là tại sao ngay trên vùng đất của người bản địa mà lại có quá ít người làm thơ là dân tộc thiểu số nếu không muốn nói là không có? Cuộc tìm kiếm mong chờ này vẫn đau đáu trong tôi. Tuy nhiên trong năm qua phong trào thơ trẻ Kon Tum đã có những dấu hiệu vui. Đó là 5 tập thơ của các tác giả trẻ Kon Tum được xuất bản: Nơi ấy Ngọc Linh của Xuân Hồng  Cỏ của Vũ Việt Thắng Từ phía núi  của Hoàng Việt Hoa cỏ mật  của Nguyễn Đình Toán và Đoản khúc riêng mình  của Hồng Thủy Tiên. Năm 2011 này nếu không có gì trục trặc thì sẽ trình làng tiếp 2 tập thơ của 2 tác giả trẻ khác là Nguyễn Phúc Đoan và Đào Quốc Sủng. Họ đều là thành viên Gia đình Áo Trắng trước đây. Tôi vui vì có một phần đóng góp nho nhỏ về mặt tinh thần là đã động viên và quan hệ lo toan chuyện in ấn cho các bạn ấy.  Không biết cách làm ấy có là thể hiện tình yêu quê hương của mình hay không?

-Khi cầm trong tay những tập thơ ấy cảm xúc của nhà thơ như thế nào?

TVS: Thơ của các bạn ấy được bạn đọc ở Kon Tum và các nơi công nhận và nhắc đến tôi thật sự thấy vui mừng! Không những được “nhắc đến” mà còn đoạt giải nữa cơ chứ! Tập Đoản khúc riêng mình của tác giả nữ trẻ Hông Thủy Tiên vừa ẵm giải của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam! Tập Từ phía núi của Hoàng Việt ( một thời là Trưởng Gia đình Áo Trắng Kon Tum) cũng vào đến chung khảo đấy! Tôi luôn nghĩ lớp trẻ chính là người sẽ đưa phong trào sáng tác của Kon Tum nói riêng cả nước nói chung đi lên bằng những bước chân Phù Đổng. Những người đi trước như tôi ai viết mãi được bao giờ! Bởi vậy ở Kon Tum mỗi khi nghe có người nào đó viết được thì bằng mọi cách tôi cũng chủ động tìm đến làm quen khích lệ. Mà không những riêng Kon Tum đâu nhé! Nhân tiện xin “khoe” thêm với bạn là tôi còn “dài tay” góp ý biên tập cho một số bạn trẻ ở nhiều tỉnh thành khác nữa đấy! Là cũng chỉ vì tôi rất yêu và kỳ vọng vào những người trẻ.

Cạnh niềm vui bao giờ cũng có những nỗi buồn. Ấy là khi nhìn một số ít cá nhân dù được động viên tạo điều kiện nhưng lại để ngòi bút ngày càng lụi đi!

-Nhà thơ có những đánh giá gì về thơ trẻ hiện nay?

TVS : Nói đánh giá thì không phải lắm vì mình có là nhà phê bình đâu! Tôi chỉ có đôi điều chia sẻ. Lớp trẻ là những người năng động bao giờ họ cũng có những nét mới về văn phong và kĩ thuật có những góc nhìn rất riêng. Chính họ làm cho bộ mặt của thơ ngày một đổi khác. Tôi tôn trọng những “phá cách” của lớp trẻ nhưng không chấp nhận sự “phá phách” của một số người mang bệnh ảo mị văn chương!

-Với những tác giả trẻ của Kon Tum nhà thơ kì vọng gì vào họ không?

Tất nhiên là kì vọng! Chỉ sợ niềm đam mê văn chương ở họ không bền! Các bạn còn trẻ hãy tung tẩy hãy đi trên con đường của mình đừng dẫm vào những bóng mòn xưa cũ chúng tôi! Tôi cũng mong rằng trên mảnh đất Kon Tum này vào một ngày không xa sẽ có những tác giả là người dân tộc thiểu số. Và như thế cứ mỗi ngày qua đi là tôi đều mua một niềm hi vọng!

-Nhà thơ có thể chia sẻ những dự định đang ấp ủ không?

TVS: Tôi đang một mình một ngựa thực hiện Tuyển tập 100 bài thơ viết về Kon Tum của 100 tác giả để kỉ niệm 100 năm ngày thành lập tỉnh (1913-2013). Cũng dịp kỷ niệm này tôi sẽ cố gắng in 1 tập tạp bút viết về  Kon Tum lấy tên “Kon Tum tạp kỹ” và 1 tập thơ gồm những bài thơ mang hơi thở của núi rừng với nhan đề “Ở núi”.

-Xin cảm ơn những chia sẻ của nhà thơ chúc nhà thơ sớm hoàn thành những dự định của mình.  

Y Việt Sa

(Lớp Báo chí K4 – Đại học KHXHNV Hà Nội)

ĐỌC THÊM:

Y VIỆT SA

 Vết thương phố xá

Tôi quên mình sinh ra từ núi

Để bây giờ chợt  nhớ mang mang…

 

Tôi làm kẻ lang thang

Qua từng con phố

Nhà cao tầng điện đèn xanh đỏ

Chợt thương quá nhà rông

Tôi chạm vào hư không

Thấy tim mình hoang vắng

Nghe xập xình nhạc quán

Nhớ về từng nhịp chiêng ngân...

 

Bao năm mải mê giữa lòng đô thị

Ngủ những giấc chập chờn mộng mị

Tôi quên mất tiếng chiêng

Quên gõ tơ-rưng quên vỗ đàn klông-pút

Tay quen cầm cây bút

Quên rồi con suốt con thoi

Quên giọt mồ hôi

Đồng bào mình vất vả…

Ơi những hương rừng tiếng núi xa xôi…

 

Đời tất bật xô tôi

Trôi giòng hối hả

Để chiều nay vấp ngã

Ơ kìa

Núi vẫn đứng trông tôi!

Y Việt Sa

More...

THƠ HAY

By tavansy@gmail.com

* Lời thưa: Một mình giữa rừng buồn sực nghĩ viết chơi. Những “ngẫu hứng” bất chợt này là nằm trong dự định một tập hợp mang chung nhan đề “Ý nghĩ rời” của tôi. Toàn bộ thơ dẫn dưới đây đều chép theo trí nhớ vì không sẵn sách tra cứu. (Có bài đọc và thuộc từ năm 1972). Chỗ nào sai nguyên văn xin chữa lại sau. Tôi thì đang “nhàn” nên thích “đàm” bạn nào rảnh rỗi thì đọc cho vui có gì trao đổi. Cũng là một cách học hỏi lẫn nhau để lấp bớt lỗ hổng tư duy kiến thức của mình.

Thơ hay có nhiều kiểu. Kiểu dễ thấy nhất là hay toàn bài. Thứ hai là những đoạn thơ hay. Tiếp nữa là có những câu hay. Riêng cái khoảng những từ hay trong thơ thì ít được nhận ra và cũng ít được để ý đến.

Bài hay: Trường hợp này có nhiều khó chứng luận trong một bài tản mạn nhàn đàm. Đại khái: Bài thơ hay là bài được nhiều người cùng thích thuộc được truyền lưu trong dư luận qua thời gian. Thế nào là hay thì xin để cho một bài lý luận văn học. Ở đây chỉ xin thưa: Ngay một bài thơ được nhiều người thích thuộc (tức hay) cũng không hẳn đã là hay tuyệt đối đến từng đoạn từng câu từng chữ một mà nhìn tổng thể chỉ biết là nó… hay! Có bài hay ở tứ có bài hay ở từ. Cũng có trường hợp bài này hay với người này còn bài kia hay với người kia! Nhà thơ Tế Hanh có lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Tác phẩm mới đại ý: Văn chương nghệ thuật là vô cùng nên cái hay cái dở của nó cũng vô cùng! Cứ ngỡ cụ nói cho qua chuyện “ba phải!”! Nhưng ngẫm lại mà xem nó quả là thế thật! Cũng ý ấy Cụ Tú Thành Nam (Trần Tế Xương) trước đây cũng đã “phát biểu” rõ ràng: -“Văn chương đâu phải là đơn thuốc/ Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu”!...

Ví dụ bài thơ hay ở cách lập tứ (thơ Nguyễn Bắc Sơn): -“Đêm Phù Cát dẫu ngoài trời rất lạnh/ Nhưng trong ngôi nhà tranh của thi sĩ Hồ Bang/ Có tình bạn nồng nàn như rượu chôn nhiều năm dưới đất/ Có câu chuyện tình thi vị mang mang/ Ta nghĩ đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta nhớ nhớ quên quên/ Nhưng lại nghĩ đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta cứ phải theo em/ Ta nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ/ Bởi đám đông quấy bẩn nước hồ đời/ Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn/ Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi/ Dẫu mỗi ngày bóc đi năm mười tờ lịch/ Cũng không làm cho ngày tháng qua nhanh/ Dẫu đen bạc là nơi cố xứ/ Nhưng đi biền biệt cũng không đành”! Còn đây là bài hay ở ngôn từ hình tượng (thơ Hoàng Lộc): -“Ngôi trường bây giờ em theo học/ Mười năm xưa ta cũng đi về/ Ôi mười năm một thằng xuôi ngược/ Những điều trong mộng đã vàng hoe/ Ngày ấy bạn bè hơn trăm đứa/ Mà ta hồ dễ đã thua ai/ Ngày ấy xa trường hơn trăm đứa/ Sao mỗi mình ta lỡ vận hoài/ Ta có yêu đôi người gái đẹp/ Tình như mây một thuở tan rồi/ Và em cũng là… là gái đẹp/ Nên sợ tình ta còn mây trôi/ Em chớ vội cười ta bất nghĩa/ Mười năm không ghé lại thăm trường/ Em cứ chê lòng người dâu bể/ Đâu có hay đời ta tang thương/ Những lúc mơ hồ nghe tiếng gió/ Ta riêng cơn lốc dậy trong hồn/ Em chắc ham vui ngày sách vở/ Đâu có hay vai người gió sương/ Những lúc về ta rơi nước mắt/ Qua trời thị xã cổng trường xưa/ Mười năm đời ta lăn khổ nhọc/ Còn gõ buồn tênh khúc nhặt thưa…”!

Đoạn hay: Là những đoạn ngắn nổi trội lên trong một bài thơ  (dĩ nhiên bài ấy không phải là thơ dở vì thơ dở không thể nào có được đoạn hay). Đây chỉ là khoảng đệm giữa câu hay và bài hay xin để dịp khác “nhàn đàm” tiếp vì ai cũng có thể tìm ra.

Câu hay: Cũng như bài hay câu thơ hay là những câu được người đời truyền tụng nhiều nhất được vận dụng vào bất cứ sự kiện gì thời điểm nào. Nó như “câu cửa miệng” thường ngày. Có khi người ta chỉ nhớ câu thơ mà quên mất nhan đề bài thơ cũng như tên tác giả. Nó là “đột biến gien” trong một bài thơ. Gặp câu thơ hay người đọc dễ nhận ra những câu độn đệm làm đà cho nó bật nảy lên. Câu hay thường thiên về khái luận một cảm nghiệm suy nghiệm chiêm nghiệm nào đó mang tính triết lý châm ngôn. Ví dụ đoạn thơ Phan Khôi; -“Tuổi già thêm bệnh hoạn/ Kháng chiến thấy thừa ta/ Mối sầu như râu tóc/ Cứ cắt lại dài ra”!. Nếu không vì hai câu sau thì vứt hai câu trước đi chẳng tiếc. Nhưng không có cái đà của hai câu trước thì hai câu sau không thể từ lỗ nẻ chui lên được! Hoặc như thơ xưa bây giờ mấy ai còn nhớ cả bài nhưng: -“Giai nhân tự cổ như khanh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” (Xưa nay người đẹp như danh tướng/ Đâu để nhân gian thấy bạc đầu) thì còn lưu mãi… Có thể ví câu hay giống như phần gọi là “Thơ” trong một bài Hát nói giữa hai Mưỡu. Những câu khác trong bài chỉ để “nói” (tức hát) hai câu này mới là điểm chốt tóm thâu toàn bộ thần khí của bài.

Từ hay: Trường hợp này hiếm hoi hơn nhưng không phải không có. Nó thường rơi vào tay các văn tài thực thụ có tố chất của bậc “hùng bút” kiểu “Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng” (Tản Đà) có tầm xúc cảm “đạt đỉnh” khi ý thức và ngay cả trong những phút giây xuất thần vô thức. “Vô thức” này không có nghĩa không ý thức mà vì là tài năng bẩm sinh nên nó nghiễm nhiên có sẵn đâu đó trong thẳm sâu cảm xúc sáng tạo rồi bất ngờ gặp dịp thì vụt lóe lên thôi! Đôi khi nó vụt nảy ra trước khi tác giả kịp chọn lựa hay nghĩ đến nữa kia! Xin vài ví dụ: Bài Tống biệt của Tản Đà: -“Lá đào rơi rắc lối thiên thai/ Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi/ Nửa năm tiên cảnh/ Một bước trần ai/ Ước cũ duyên thừa có thế thôi/ Đá mòn/ Rêu nhạt/ Nước chảy/ Huê trôi/ Cái hạc bay lên vút tận trời/ Trời đất từ đây xa cách mãi/ Cửa động/ Đầu non/ Đường lối cũ/ Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”! Từ “Chơi” hạ xuống “nhẹ như lông hồng” mà gợi mở ra mênh mang một nỗi tiếc nuối hụt hẫng chơi vơi buồn thăm thẳm giữa cõi trống không trời đất tiêu sái phiêu bồng khi kẻ tiên người tục mãi mãi biệt ly. Bài Đêm Thu cũng của Tản Đà: -“Đêm Thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nữa rồi/ Tiên cảnh đã ai ngồi đó chửa/ Cành đa xin chị nhấc lên chơi/ Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió cùng mây thế mới vui/ Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám/ Cùng nhau trông xuống thế gian cười”! Dừng lại ở từ “cười” mà xem. Dường như thoáng một nét xếch môi trong cái cười vừa hiu hắt vừa kiêu mạn của kẻ mệt mỏi chán chường khinh thế ngạo vật cõi trần gian ô trọc. Bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu: -“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần/ Đàn buồn đàn lặng ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân/ Thu rộng càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Đàn ghê như nước – lạnh – trời ơi/ Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người…”! Chạm phải từ “lạnh” bỗng giật thột mình vì cảm giác… sởn gai ốc lạnh cả người! Đồng Đức Bốn có câu: -“Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu có đò không cũng chìm”! “Giọt mắt” là từ sáng tạo tuyệt vời của tác giả xin sẽ nói vào dịp khác chỉ xin để ý từ “chìm” là từ có sẵn bình thường thôi nhưng vào đây thì nó đã thành từ “thần” từ hay! Thôi em quay mặt đi đừng buông cái “giọt mắt” ấy theo anh để đến nỗi không khéo đò ngang sẽ chìm mất vì khẳm nặng nỗi niềm nhớ thương vương vấn đang chất chứa trong lòng anh đây này! Đoạn thơ Trần Dzạ Từ: -“Lần đầu ta ghé môi hôn/ Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang”! Ve biết gì mà “hết hồn” chính “anh” và “ả” tuổi học trò mới “hết hồn” trong cơn rung cảm đầu đời giữa nụ hôn chia tay mùa hạ đấy chứ!

Chuyện thơ hay thơ dở là “truyện dài kỳ”. Làm được bài thơ (hay) đã khó đọc thơ càng khó hơn. Đây chỉ là một ít ngẫu hứng khi bất ngờ nhớ lại những dòng thơ mình yêu thích. Còn nhiều lắm xin hẹn dịp trở lại nữa.

Tạ Văn Sỹ

More...

HỌC CỔ NHÂN

By tavansy@gmail.com

* Lời thưa: Bài viết vội gửi đi cô bạn trẻ Dương Kim Thoa (Biên tập viên Ban Văn hóa – Khoa giáo – Đời sống Đài Tiếng nói Việt Nam) bảo anh đừng sợ dài cứ viết thêm nhất là việc lấy chính tác phẩm của mình để chứng minh cái sự ảnh hưởng học tập “bắt chước” người xưa; nếu không đủ thời lượng phát sóng thì em căn cứ vào nghĩa lý mà cắt bớt một số đoạn. Thế thì viết. Chỉ cần phát triển thêm vào thôi mà. Mong bạn đọc đọc chơi. Chơi thôi chứ tôi không phải là người nghiên cứu biên khảo hay lý luận phê bình văn học xin chớ trách nặng lời nếu có chỗ nào đó chưa trùng ý nhau!

Ta thường nghe nói không có trường lớp nào dạy được sáng tác văn chương khi mà người ấy không có tí ti gì năng khiếu bẩm sinh. Nhưng người đã tham gia sáng tác văn chương thì tôi tin chắc rằng không một ai dám nói tôi không “học” ở đâu đó một cái gì cả! “Học” ở đây nên hiểu là sự ảnh hưởng nhập tâm kể cả… “bắt chước”.

Lại có người nói vui: “Học mà được à?”! Vâng có thể chưa chắc học mà được nhất là trong lĩnh vực sáng tạo văn chương. Bởi lẽ mỗi nhà sáng tác đều có một cái “e” riêng cái “gu” riêng – tức là cái văn phong giọng điệu cảm xúc ý tưởng riêng – Không ai giống ai không ai lẫn vào ai được cả. (Trừ chuyện “đạo văn” có dấu hiệu trở thành một thứ dịch bệnh truyền nhiễm đang lan tràn như hiện nay. Những thứ này thì dĩ nhiên là giống nhau chan chát rồi!).

Cũng như nhiều người khác tôi “học mót” được nhiều thứ từ các thi nhân lớp trước và từ văn học bình dân trong quá trình sáng tác của mình. Xin có vài ví dụ.

Với cổ nhân thì học ở các cụ biết đến bao giờ mới thôi! Ở đây chỉ xin vắn tắc 3 hình thái thơ xưa mà tôi thấy được. Chịu khó đọc các tập (tuyển) thơ và truyện thơ Nôm thời kỳ trung đại ta sẽ học được cách nói kiệm lời của các cụ kiểu “Ý tại ngôn ngoại” “Thi dĩ ngôn chí”… Chính cái gò bó khuôn khổ của thơ cũ lại là cái hay nó bắt người ta phải tự biết tiết chế tự gò mình lại không nên nói dai viết dài làm cho loãng nhạt ý tưởng và cảm xúc. Vì như thế thì dẫu bài thơ có tứ tốt từ hay cũng dễ khiến người đọc nhàm đi đôi khi đọc xong thấy u u minh minh không hiểu nói gì! Thơ xưa chỉ 4 câu 8 câu (Đường luật) 11 hoặc 15 câu (Hát nói) dài hơn tí nữa là Cổ phong liên hoàn Ngâm khúc… Dấu ấn này ở trong thơ tôi là số lượng thơ tứ tuyệt và thơ ngắn rất nhiều. Thi thoảng có bài cần viết dài thì cũng không quá vài ba mươi câu. Xin một ví dụ nhỏ: -“Hồn tôi như địa chất/ Tầng tầng trầm tích xưa/ Suốt đời tôi khai quật/ Tìm nỗi buồn ban sơ”! - Ấy là tôi cố gắng “tự vịnh” mình bằng chỉ với 20 từ ngắn ngủi xem sao bởi tâm lý chung khi nói về mình thì ai chả muốn nói… dài! Tôi vẫn nhớ lời của nhà thơ Chế Lan Viên đại ý: Không ai bắt anh kéo một bài tứ tuyệt thành một bản trường ca cũng không ai buột anh cô một bản trường ca thành một bài tứ tuyệt! Nhưng cái tạng riêng của tôi là thế nó không… dài ra được! Bây giờ thi thoảng đọc được ở đâu đó một số bài thơ tôi cứ tiếc thầm rằng phải chi tác giả đủ bản lĩnh để làm cho nó ngắn lại nghĩa là dám can đảm tự chính tay mình “cắt đục” những chỗ mình đã “rứt ruột đẻ ra” (tiếc lắm!) thì chắc sẽ tốt lên nhiều!

Từ yêu cầu ngắn gọn dẫn đến cái học thứ hai trong thơ xưa là nghệ thuật dùng biện pháp “tiểu đối” ở trong một câu thơ. Đặc biệt trong Truyện Kiều rất nhiều cặp lục bát trong tác phẩm này đều được Nguyễn Du dùng đến biện pháp tiểu đối của một bậc thầy. Chỉ trong một dòng thơ thôi mà tác giả đưa ra được 2 hình ảnh 2 ý tưởng song song hoặc đối trọng hoặc đồng hiện làm cho câu thơ mở rộng biên độ hơn lung linh gợi tưởng hơn sắc tố biểu cảm được nhân lên gấp bội. Ví dụ: -“Người lên ngựa – Kẻ chia bào…”; -“Thành xây khói biếc – Non phơi bóng vàng…”; -“Người quốc sắc – Kẻ thiên tài/ Tình trong như đã – Mặt ngoài còn e”… Kẻ hậu sinh này “bắt chước” để viết: -“Nghe tan chầm chậm qua hồn/ Niềm vui thuở trước - Nỗi buồn kiếp sau…”; hoặc: -“Mặt trời thì khép lại ngày/ Mặt trăng khép tháng - Phút giây khép giờ/ Con người khởi tự ấu thơ/ Bước chân khép ở bến bờ thiên thu…” v.v… Thỉnh thoảng đọc đâu đó gặp kiểu tiểu đối này nhưng có lẽ người viết sơ ý hoặc chưa nắm chắc luật phép của thể Đối mà để lạc thanh chệch từ khiến có cảm giác như nhai cơm gặp sạn! Đôi khi không những chỉ ê răng mà còn… bẽ bàng nữa!

Một cái học nữa ở người trước là cách chọn từ ngữ thi ảnh. Vì yêu cầu súc tích nên các cụ đánh vật với con chữ ghê lắm đánh vật kiểu “thôi – xao” ấy! Làm sao ít chữ mà được nhiều ý và rõ ý. (Giống như người đi buôn ít vốn nhưng phải nhiều lãi! Không khéo đi buôn mà để huề vốn hoặc buồn hơn là bị… lỗ to! Kể cả huề vốn thì cũng đã… lỗ công rồi)! Có ý kiến bảo như thế sẽ làm “chết” con chữ mất đi cái sống động tự nhiên vốn dĩ của cảnh sắc tình cảm cần biểu đạt. Tôi nghĩ chỉ những ai “yếu bóng vía” mới làm “chết” chứ các cụ ta “cao tay ấn” lắm đã từng làm “sống” bao nhiêu từ ngữ tưởng bình thường “thấp giá” kia đấy. Cái này tôi cũng “bắt chước” viết thế này không biết được chưa: -“Bất ngờ tôi gọi tôi ơi/ Nghe thinh không đáp vọng lời hư không!”; hoặc: -“Con người giữa cõi người ta/ Tôitôitôi và… tôi ơi!”… Cái khổ công này ngày nay hình như lớp con cháu “chịu sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật” nhiều quá nên đâm ra lười ít người chịu khó khổ luyện được như các cụ!

Về phía văn học bình dân tôi học được cách nói ví von vần điệu gần gũi nhưng tinh lọc về ngôn ngữ và tinh tế về ý tưởng. Cái này thì ca dao tục ngữ thành ngữ dân ca là cả một kho tàng. Học được “bắt chước” được đưa được kiểu ăn nói ấy vào thơ cũng làm cho thơ ngắn gọn súc tích ý nhị và có… duyên hơn! Tôi đã vận dụng kiểu này vào thơ mình… hơi bị nhiều! Không rõ đó là điều hay hay dở? Ví dụ: Thành ngữ có câu “Đất lề quê thói”. Thế là trong bài thơ “Về quê” tôi bê nguyên vào làm cho ý thơ chỗ này không cần phải giải thích dài dòng (mà có “giải” chưa chắc đã được “thích”!): -“Bao năm sống chốn thị thành/ Ngỡ mình đã nhuộm đỏ xanh màu mè/ Làng xưa mỗi dịp quay về/ Mới hay đất thói quê lề vẫn nguyên…”; hoặc ca dao có câu “Ngỡ giếng sâu anh nối sợi dây dài/ Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây” thì tôi “phăng” ra: -“Lòng người vốn bể đa đoan/ Chị làm sao lượng đâu vàng đâu thau/ Đã đành chẳng đặng giếng sâu/ Chị ngồi tiếc mãi dây gàu được không?”...

Trở lại chuyện “học mà được à!” một tí. Câu thơ Nguyễn Bính: -“Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”! Quá tài quá hay! Chỉ cần một câu thôi mà mở ra mênh mang một nỗi niềm hoài cổ. Trong bài thơ viết về Hà Nội tôi đã “bắt chước”: -“Chân đang đi giữa lòng Hà Nội/ Mà hồn vời vợi nhớ Thăng Long”. Chủ quan mà nói thì câu của tôi cũng “không đến nỗi nào” nhưng so với Nguyễn Bính thì thua xa. Dễ thấy cái “thua” ấy nhất ở chỗ người ta chỉ cần một câu còn mình thì mất đứt đến hai câu mới nói được một ý tưởng như nhau! Tôi thấy thế là đã “ăn cắp” lắm rồi chứ không thể biết mình yếu kém mà… bê  luôn của người ta vào làm của riêng mình thì… khó coi quá!

Ở mỗi thời đại ngôn ngữ cũng biến hóa theo có ngữ nghĩa riêng có cách nói riêng nhưng tôi quan niệm cứ phải nắm bắt cái cơ bản cái truyền thống cho chắc đã rồi từ đó anh mới có cơ sở mà “phăng-ta-zi”. “Phăng” cỡ nào cũng được không lo bởi dưới chân anh đã có sẵn một cái nền một cái móng vững vàng rồi. Các nhà thơ mới cự phách thời kỳ 1932 – 1945 đều nắm rất chắc kỹ thuật thơ cũ thậm chí có người đã từng làm nhiều thơ kiểu cũ không kém cạnh ai trước khi bước hẳn sang làm thơ kiểu mới như Hàn Mặc Tử - một kỳ nhân thơ mới - là một ví dụ. Hay như Xuân Diệu – ông hoàng thơ mới - nếu không am tường thơ cũ làm sao có cả một công trình biên khảo đặc sắc “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”? v.v… Rồi tiếp theo là một số nhà thơ trẻ hơn thuộc lớp chống Mỹ trở về sau cũng có tham gia bình dịch thơ xưa (như Đỗ Trung Lai - tác giả “êm êm một khúc sông Cầu -…) mà thơ của họ viết vẫn rất mới rất hay. Có phải nhờ được tiếp sức từ thơ xưa hay không mà thơ của những vị nhắc làm ví dụ trên đều chững chạc đĩnh đạc nặng cân được nhiều người thích thuộc…

Bây giờ không ít người sáng tác trẻ không còn cái đam mê thích thú đọc thơ xưa nữa. Nó chỉ còn nằm trong các thư viện các kho tư liệu để dành cho các nhà nghiên cứu. Nhưng đó chính là trầm tích của một bề mặt văn học mênh mông. Chúng ta ngày nay có múa may quay cuồng gì thì cũng nằm trong cái gia tài vô giá ấy!

Sực nhớ và xin dẫn lại cái đúc kết độc đáo của giáo sư Nguyễn Uyển Diễm ở thời cận đại đại ý: Một bài thơ hay cần hội đủ 3 yêu tố TỨ TỪ TƯ! Nghĩa là phải có tứ thơ hay sử dụng ngôn từ giỏi và nêu bật được tư tưởng tốt!

Tạ Văn Sỹ

More...

HỌC CỔ NHÂN

By tavansy@gmail.com

* Lời thưa: Nhận được thư email của biên tập viên Dương Kim Thoa ở Phòng Khoa giáo Đài Tiếng nói Việt Nam gửi phỏng vấn hỏi chuyện đã học tập và vận dụng được gì từ nền văn học trung đại và văn học dân gian trong quá trình sáng tác của mình. Tôi ở xa không thu âm trực tiếp được bài trả lời nhà Đài sẽ nhờ phát thanh viên thể hiện hộ. Vì yêu cầu làm gấp nên viết vội vàng có thể có chỗ còn chưa chín chưa chuẩn. Sẽ có dịp phát triển thêm thành một bài hoàn chỉnh sau.  Thấy đây cũng là dịp để trao đổi quan niệm sáng tác của mình  sẵn vừa viết xong còn hôi hổi xúc cảm  xin “trưng ra” để được sẻ chia cùng bè bạn.

Ta thường nghe nói rằng không có trường lớp nào dạy được sáng tác văn chương khi mà người ấy không có tí ti gì năng khiếu bẩm sinh. Nhưng người đã tham gia sáng tác văn chương thì tôi tin chắc rằng không một ai dám nói tôi không “học” ở đâu đó một cái gì cả! “Học” ở đây nên hiểu là sự ảnh hưởng nhập tâm kể cả… “bắt chước”.

Lại có người nói vui: “Học mà được à?”! Vâng có thể chưa chắc học mà được nhất là trong lĩnh vực sáng tạo văn chương. Bởi lẽ mỗi nhà sáng tác đều có một cái “e” riêng cái “gu” riêng – tức là cái văn phong giọng điệu cảm xúc tư tưởng riêng – Không ai giống ai không ai lẫn vào ai cả. (Dĩ nhiên nên trừ ra cái khoảng “đạo văn” đang có dấu hiệu trở thành bệnh dịch truyễn nhiễm tràn lan như hiện nay vì rằng chắc chắn nó giống nhau!).

Tôi là người “học mót” được nhiều thứ từ cổ nhân và bình dân trong sáng tác.

Về cổ nhân thì học ở các cụ biết đến bao giờ mới thôi! Ở đây chỉ xin vắn tắc 3 hình thái thơ xưa mà tôi học được. Chịu khó đọc các tập (tuyển) thơ và truyện thơ Nôm thời kỳ trung đại ta sẽ học được cách nói kiệm lời của các cụ kiểu “Ý tại ngôn ngoại” “Thi dĩ ngôn chí”… Chính cái gò bó khuôn khổ của thơ cũ lại là cái hay nó bắt người ta phải tự biết tiết chế tự gò mình lại không nên nói dai viết dài làm cho loãng nhạt ý tưởng và cảm xúc. Vì như thế thì dẫu bài thơ có tứ tốt từ hay cũng dễ khiến người đọc nhàm đi đôi khi đọc xong thấy u u minh minh không hiểu nói gì! Dấu ấn này trong thơ tôi là số lượng thơ tứ tuyệt và thơ ngắn rất nhiều. Thi thoảng có bài cần viết dài cũng không quá vài ba mươi câu. Tôi vẫn nhớ lời của nhà thơ Chế Lan Viên đại ý: Không ai bắt anh kéo một bài tứ tuyệt thành một bản trường ca cũng không ai buột anh cô một bản trường ca thành một bài tứ tuyệt! Nhưng cái tạng riêng của tôi là thế không… dài ra được! Bây giờ thi thoảng đọc ở đâu đó một số bài thơ tôi cứ tiếc thầm rằng phải chi tác giả đủ bản lĩnh để cho nó ngắn lại nghĩa là “tự ý cắt đục” những chỗ mình “rứt ruột đẻ ra” (tiếc lắm!) thì chắc sẽ hay hơn nhiều!

Từ cái yêu cầu ngắn gọn dẫn đến cái học thứ hai trong thơ xưa là nghệ thuật dùng biện pháp “tiểu đối” ở trong một câu thơ. Đặc biệt trong Truyện Kiều đa số những cặp lục bát trong tác phẩm này đều được Nguyễn Du dùng đến biện pháp tiểu đối một cách “bậc thầy”. Chỉ trong một dòng thơ thôi mà tác giả đưa ra được 2 hình ảnh 2 ý tưởng song song hoặc đối trọng hoặc đồng hiện làm cho câu thơ mở rộng biên độ hơn lung linh gợi tưởng hơn sắc tố biểu cảm được nhân lên gấp bội phần.

Một cái học nữa ở cổ nhân là cách chọn từ ngữ thi ảnh. Vì yêu cầu ngắn gọn súc tích nên các cụ đánh vật với con chữ ghê lắm đánh vật kiểu “thôi – xao” ấy mà! Làm sao cho ít chữ mà nói được nhiều ý rõ ý. Có ý kiến bảo như thế sẽ làm “chết” con chữ mất đi cái sống động tự nhiên vốn dĩ của cảnh sắc tình cảm cần biểu đạt. Tôi nghĩ chỉ những ai “yếu bóng vía” mới làm “chết” chứ các cụ ta “cao tay ấn” lắm đã từng làm “sống” bao nhiêu từ ngữ tưởng bình thường “thấp giá” kia đấy. Cái khổ công “thôi – xao” này ngày nay con cháu hình như “chịu tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật” nhiều quá nên đâm ra lười nhát không chịu khó khổ luyện được như các cụ!

Về phía văn học bình dân tôi học được cách nói ví von vần vè gần gũi nhưng tinh lọc về ngôn ngữ và tinh tế về ý tưởng. Cái này thì ca dao tục ngữ thành ngữ dân ca là cả một kho tàng. Mà học được “bắt chước” được đưa được kiểu ăn nói ấy vào thơ cũng làm cho thơ ngắn gọn súc tích ý nhị và có… duyên hơn! Tôi đã vận dụng kiểu này vào thơ mình cũng… hơi bị nhiều! Không rõ đó là điều hay hay dở?

Biết rằng mỗi thời đại thì ngôn ngữ cũng biến hóa theo có ngữ nghĩa riêng của nó nhưng tôi quan niệm cứ phải nắm bắt cái gốc rễ cái cơ bản cái truyền thống cho chắc đã rồi từ đó anh mới có cơ sở mà “phăng-ta-zi”. “Phăng” cỡ nào cũng được không lo bởi anh đã có một cái nền một cái móng vững vàng dưới chân. Trong thơ trẻ hiện nay tôi thấy các bạn “phăng” dữ lắm! Đó là điều hoàn toàn tốt đẹp nhưng cứ hãy nhớ đến cái “rễ sâu gốc bền”!

Một bài trả lời nhỏ không cho phép nói và dẫn chứng nhiều chỉ sực nhớ và xin dẫn lại cái đúc kết độc đáo của giáo sư Nguyễn Uyển Diễm ở thời cận đại để kết bài trao đổi nhỏ này đại ý: Một bài thơ hay cần hội đủ 3 yêu tố TỨ TỪ TƯ! Nghĩa là phải có tứ thơ hay sử dụng ngôn từ giỏi và nêu bật được tư tưởng tốt!

Tạ Văn Sỹ

More...

THƯ NGỎ…

By tavansy@gmail.com

Qua  trên một năm tìm tòi sưu tập tra cứu ghi chép đối chiếu… đến nay tôi đã có được một số lượng kha khá những bài thơ viết về Kon Tum để làm một Tuyển tập Thơ nhân dịp kỷ niêm 100 năm ngày thành lập tỉnh Kon Tum (9-2-2013). Dự kiến sẽ tiến hành in ấn và phát hành vào khoảng cuối năm tới (2012).

Vì tập trung cho công việc này nên lâu nay “xao lãng” những việc khác ví dụ như viết những thứ “linh tinh” cho blog chẳng hạn để nhiều bạn bè hỏi thăm sao không thấy “cái gì” mới? Đúng là như vậy! Nay xin lan man một ít chuyện trong quá trình làm Tuyển tập này.

Trước hết tôi xin cám ơn một số bạn bè bạn đọc và các tác giả đã nhiệt tình gửi bài về tham gia Tuyển tập Thơ Kon Tum 100 năm ngay sau khi có thư ngỏ trên trang blog này năm ngoái.

Ngoài số bài nhận được qua email qua thư tôi còn đi lại nhiều nơi lấy bài hoặc tra cứu. Những chỗ quá xa chưa có dịp đến được thì gọi điện thoại nhờ người quen (kể cả chưa quen) tìm hiểu sưu tầm giúp. Có vài kỷ niệm cũng “hay hay” xin kể lại:

-Ví dụ hôm đi Plei Ku để sưu tầm bài thơ của nhà nhơ X.D gặp một số bạn bè hội viên Hội VHNT Gia Lai đã cho tôi bữa rượu say túy lúy đến… 10 giờ đêm mới liêu xiêu về lại Kon Tum. Say đến nỗi trong đêm khuya chấp chóa tôi không định được phương hướng bèn hỏi thăm đường một nhóm thanh niên đang túm tụm nơi một giao lộ tối om om. Theo hướng chỉ tôi vù xe đi. Lạ quá bắt đầu từ đấy có 4 thanh niên đi 2 xe máy cứ kè kè theo tôi không rời. Đến ngã ba Ya Ly thoáng thấy thanh niên ngồi sau cầm một thanh hỗ giấu nẹp dọc theo ống chân. Hoảng quá tôi đột ngột bẻ ngoặt rất nhanh vào nhà đứa cháu bán quán phở ngay đó. Xe bị xóc mạnh tôi và cái túi laptop ngã xoạt văng vào cửa đánh rầm. Vừa ngã tôi vừa gọi to tên vợ chồng đứa cháu. Sự cố xảy ra quá bất ngờ và chóng vánh nhóm thanh nên khựng lại một tí ngó nghiêng rồi rú ga vọt mất. Đêm ấy tôi ngủ lại nhà cháu sáng về.

-Ví dụ một lần tìm bài thơ của tác giả T.Q.T ở Kon Tum nhưng đã quá lâu tác giả không còn nhớ. Biết được bài thơ ấy được một tuyển tập ở bên Mỹ in lại mà anh V.H ở Plei Ku mới có cuốn sách ấy. Một buổi trưa nắng nóng chang chang thấy tôi lấy xe máy đi xin chép bài thơ con tôi nằng nặc bảo để đánh xe con đưa đi sợ tôi đi xe máy mệt. Khi về lại đến nhà tôi hỏi thử xem hết bao nhiêu tiền xăng nó bảo khoảng 200 ngàn. Tôi tiếc ngẩn ngơ vì nếu xe máy chỉ tốn có chừng 50 ngàn thôi! Con tôi cười bảo “Ba tham được việc mà lại… tiếc tiền”!

-Khó nhất là khi tìm tư liệu về các nhà hoạt động cách mạng ở dọc khu vực miền Trung ngày trước bị thực dân Pháp đày lên nhà ngục Kon Tum và có sáng tác thơ văn tôi bèn đánh bạo gọi về các nơi hỏi thăm. Ví như có lần gọi về Tỉnh ủy Nghệ An nhờ giúp. Họ cho tôi số máy của Ban Tuyên giáo. Muốn “bồi” tiếp cho chắc ăn tôi gọi anh B.S.H đang công tác ở Ban Tuyên giáo Trung ương (trước đó là Tổng biên tập báo Nghệ An) nhờ “nói thêm” với Ban Tuyên giáo tỉnh. B.S.H cho tôi số điện thoại anh B.Đ.S Phó ban. Tôi liên lạc nhờ đến Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh tra cứu giúp. Anh B.Đ.S đã rất nhiệt tình làm ngay và còn cho tôi số điện thoại của những thân nhân của các cụ để tôi trực tiếp liên lạc.

-Khi tìm tiểu sử thượng tướng Đặng Vũ Hiệp loay hoay không biết lấy từ đâu sực nhớ ra  tôi bèn gọi nhờ đại tá Đ.K.H thường trú phía Nam của nhà xuất bản Quân đội nhân dân gửi mail cho. Anh Đ.K.H cũng rất nhiệt tình đáp ứng chóng vánh.

-Rồi việc hỏi xin nhà thơ nữ T.T.T (ở thành phố Hồ Chí Minh) tập thơ của nhà thơ H.T mà tôi biết chị có. Chị T.T.T bảo không cho được vì là sách lưu hẹn sẽ đi Hà Nội trực tiếp gặp nhà thơ H.T hỏi xin cho. Nhà thơ H.T đã vội phô-tô tập thơ (vì hết bản in) rồi tự tay ra bưu điện gửi liền cho tôi v.v…

-Rồi các nhà thơ “cây đa cây đề” các quan chức cao cấp từ Trung ương Khu vực đến Tỉnh các tác giả khác chỉ qua điện thoại đã nhanh chóng ‘giải quyết” cho khâu bài vở và thống nhất một số đề xuất “biên tập” của tôi.

-Rồi các chị các em quản thư ở các thư viện nữa ai cũng nhiệt tình vui vẻ lục tìm đến “vã mồ hôi” những cuốn sách những tờ báo chưa nghe ai hỏi mượn đến bao giờ!

-Còn riêng nhà thơ Văn Công Hùng Phó chủ tịch Hội VHNT Gia Lai Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Gia Lai Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam là người "tự nguyện" làm Tổng đài điện thoại 108 cho tôi!!! Chỗ nào "bí số" chỉ cần phang một cái tin nhắn thì tức tốc nhận được trả lời ngay. Chỉ mới có 1 trường hợp là "tổng đài" không nắm được thôi.

Tôi vô cùng xúc động trước những tấm lòng những nghĩa cử ấy.

Vài ví dụ nhỏ như vậy. Nhờ đó tôi có được một số thơ lâu nay khó thấy trong các tuyển tập ở Kon Tum. Cũng nhờ vậy số lượng ngày mỗi tăng vượt quá mong ước khiến tôi thay đổi dự định lúc đầu là chỉ chọn đủ 100 tác giả với 100 bài thơ để kỷ niệm chẵn 100 năm. “Nâng lên đặt xuống” mãi có những bài bỏ ra cũng tiếc tôi xoay chiều suy nghĩ: Nên giới thiệu tương đối đa thanh đa sắc hơn về một bộ mặt Kon Tum được phản ánh qua thơ đồng thời cũng muốn tập hợp được càng nhiều càng tốt để làm tư liệu cho những công trình nghiên cứu khác về sau bèn quyết định không nhất thiết phải máy móc là 100 mà sẽ lấy một con số có ấn tượng dễ nhớ theo kiểu tiến dần đều là 1 2 3… Vậy nên Tuyển tập sẽ có 123 đề mục tác giả với 123 bài thơ chọn chính thức. Ngoài ra còn một số Phụ lục nữa vị chi số lượng thi phẩm vượt trên con số ấn định 123.

Ở đây xin chưa nói đến việc một số người đã nhiệt tình góp ý đề xuất cách thức vận động điều kiện vật chất để ấn hành Tuyển tập vì biết rằng cá nhân tôi khó kham nổi cái khâu “tế nhị” này! Cũng xin chưa nói đến việc một số bạn bè ở các báo chí “hăm he” khi nào Tuyển tập hòm hòm định hình định dạng sẽ có bài giới thiệu sớm trên các phương tiện thông tin đại chúng để quảng bá rộng rãi hơn. Tôi xin bày trước tỏ lòng biết ơn và cảm động đối với tấm lòng các bạn ở đây.

Từ nay đến lúc ấn hành sẽ còn nhiều “bổ sung sửa chữa” nữa nhằm tránh để sót những bài thơ tâm huyết về Kon Tum. (Chỉ xin nói “tâm huyết” chứ chưa dám nói “hay” - vì tính chất “xã hội hóa” của Tuyển tập như đã thưa!). Mong các bạn ủng hộ và giới thiệu tiếp những thi phẩm tốt nhất là các tác phẩm được sáng tác ở Kon Tum hoặc viết về Kon Tum ở những thời kỳ trước đây mà hiện giờ rất khó tìm lại. Tuy nhiên cũng xin hạn chế những bài nói chung chung về Trường Sơn về Tây nguyên về núi rừng thiểu số… mà ít mang sắc thái đặc trưng đặc hữu của Kon Tum.

Cũng nhận tiện đây xin thưa thêm: Đây là công trình được thực hiện từ nỗ lực của một cá nhân lại không phải là người làm sách chuyên nghiệp nên khó tránh khỏi sai sót nhất định. Mong quý vị nào có cao kiến gì góp ý xin cho vài dòng xin comment vào đây để giúp tôi tránh khỏi những điều không đáng vướng phải. Xin trân trọng cám ơn trước.

Đôi dòng tâm sự. Hẹn sẽ còn trao đổi tiếp.

Tạ Văn Sỹ

More...

Chuyện làng văn nghệ

By tavansy@gmail.com

*Lời thưa: Trưa qua (21-3) nhà thơ Phạm Khải Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Công an bất ngờ gọi điện thoại bảo” VNCA số này in bài viết của Nguyễn Tam Mỹ kể giai thoại in tập thơ đầu tay của ông đấy”! Thế là mình gọi ngay Nguyễn Tam Mỹ (hội viên Hội Nhà văn  Biên tập viên báo Quảng Nam) hỏi sự tình. Hắn cười khơ khớ nói “Bọn làm báo là nhanh nhạy vậy đó anh ơi nghe thoáng là “chộp” ngay! Không những một bài mà gửi luôn cho anh cả bài in trên báo Quảng Nam vừa rồi nữa”!... Thế là tôi được tác giả mail về 2 bài báo nhỏ. Xin cho luôn vào đây để lưu giữ kỷ niệm bạn bè.

NGUYỄN TAM MỸ

Nhà thơ “cơm gói trong mo”...

Cách đây chừng vài chục năm nhà thơ Tạ Văn Sỹ được Tỉnh đoàn Gia Lai - Kon Tum mời tham gia sáng tác văn học về đề tài tuổi trẻ địa phương góp phần xây dựng quê hương. Quanh năm suốt tháng “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” nơi nương rẫy ít tiếp xúc nơi đông người nên khi dự cuộc gặp mặt Tạ Văn Sỹ thấy ai cũng “lạ hoắc”! Lúc người chủ trì giới thiệu đến nhà thơ ông Vũ Trọng Kim - Bí thư Tỉnh đoàn - ngồi đối diện đứng dậy chìa tay ra bắt làm Tạ Văn Sỹ hoảng quá vội… giật mình!

Có phải vì “ấn tượng” cái sự vụng về đó mà sau này nhà thơ được ông Vũ Trọng Kim quý trọng kết thân. Hễ mỗi lần “hạ sơn” xuống phố Tạ Văn Sỹ lại đến nhà ông Vũ Trọng Kim thăm chơi. Tất nhiên ngoài việc lo chu đáo chỗ ăn chỗ ở chủ nhà còn lo  cả rượu bia thuốc lá để đãi đằng. Khi ông Vũ Trọng Kim chuyển về làm Bí thư Huyện ủy Sa Thầy một huyện biên giới giáp Kampuchia cuối tuần Tạ Văn Sỹ lọc cọc đạp chiếc xe đạp cà tàng vượt 30 cây số đường đèo dốc thăm chơi ông bạn làm quan “tra tấn” thâu đêm suốt sáng bằng... thơ!

Năm 1992 ông Vũ Trọng Kim được điều ra Hà Nội làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn. Trước khi rời Tây Nguyên ông Vũ Trọng Kim mời nhà thơ Tạ Văn Sỹ đến chơi nhà để chia tay. Ngẫu hứng tại chỗ ông Vũ Trọng Kim tặng Tạ Văn Sỹ một món quà bất ngờ mà nhà thơ nhớ mãi không quên đó là... một bài thơ! Nguyên văn bài thơ như sau:

Chào nhà thơ

      * Tặng Tạ Văn Sỹ

Gặp nhà thơ tôi ngỡ nhà nông

Gặp nhà nông - quả thật nhà thơ!

Cuộc đời ơi bao chuyện bất ngờ

Trí tuệ ẩn bao giờ cũng lớn

Ai cũng muốn lớn mà không lớn

Cái bóng to chưa chắc hình to

Hỡi nhà thơ cơm gói trong mo

Như hạt gạo nuôi đời no ấm mãi.

      Vũ Trọng Kim

(Kon Tum 9-5-1992)

Bản viết tay ấy bây giờ Tạ Văn Sỹ vẫn còn trân trọng lưu giữ.

Thời gian sau thấy Tạ Văn Sỹ làm nhiều thơ và có nhiều bài mình yêu thích nhưng vì nhà nghèo quá lại không quen biết đâu cả nên ông Kim bảo Sỹ đưa bản thảo cho ông mang ra Hà Nội lo in ấn giúp. Thế là tập thơ đầu tay “Những câu thơ mặt đất” của Tạ Văn Sỹ được ra mắt năm 1997 ở nhà xuất bản Văn hóa thông tin lúc tác giả đã 42 tuổi. Khi nhận được sách do Bưu điện đưa về Kon Tum Tạ Văn Sỹ mừng vui ngỡ ngàng trước “đứa con đầu đời” hý hoáy viết thư gửi về số 60 – Bà Triệu – Hà Nội cám ơn ông Vũ Trọng Kim. (Tập thơ ấy năm 2001 được nhà xuất bản Quân đội nhân dân in lại với tên “Mặt đất” – cũng do một Mạnh thường quân khác giúp đỡ tái bản vì người ấy cũng thích thơ Sỹ!).

Tạ Văn Sỹ vốn có nhiều “biệt danh” do bạn bè và bạn đọc “ban tặng” để phản ánh nghề nghiệp mà ông từng trải qua. Nào là nhà thơ nương rẫy nhà thơ đào vàng nhà thơ phụ hồ nhà thơ xe ôm... Bây giờ Tạ Văn Sỹ lại được một ông… Ủy viên Trung ương Đảng tặng cho cái “hiệu”... “nhà thơ cơm gói trong mo”! - Vì tính đến khi gặp gỡ và chơi thân với Vũ Trọng Kim thì Tạ Văn Sỹ đã có “thâm niên” 17 năm ruộng rẫy ngày ngày quảy túm “cơm gói nước bầu” lên nương!

Nguyễn Tam Mỹ

(Văn nghệ Công an số ra ngày 20-3-2011)

 

NGUYỄN TAM MỸ

Nhà thơ Tạ văn sỹ: “Thơ mình bật lên từ cảm xúc chân thật...”

Chuông điện thoại bàn khách sạn reo vang. Khuya rồi ai gọi điện thế nhỉ! Đang ngái ngủ nhưng tôi vẫn quờ tay nhấc ống nghe. Bên kia đầu dây giọng đàn ông cười nói: “Tạ Văn Sỹ đây! Ngủ chưa? Nếu chưa đi thang máy lên phòng 603 tào lao chuyện đời cho vui! Mai chúng ta lại xa Hà Nội rồi...”. “Ok! Chuẩn bị trà thuốc đi! Em sẽ lên ngay...”. Tôi bảo. Mấy ngày qua tuy ở chung khách sạn nhưng tôi không dễ gì gặp “nhà thơ xe ôm” Tạ Văn Sỹ. Bởi anh có khách liên miên...

-Có trà thuốc không?

-Có cả cuộc hàn huyên bất đắc dĩ nữa đây!

Phòng 603 khách sạn Bàn Cờ - Hà Nội. Nhà thơ Hương Đình bảo: Tạ Văn Sỹ xấu trai ăn mặc trông bụi bặm nhưng không hiểu sao lại có quá nhiều bạn gái! Sáng em này. Trưa em nọ. Tối em kia tìm thăm! Mà em nào cũng xinh đẹp cũng học hành tử tế cũng công ăn việc làm ngon ơ...

-Lắm mối tối nằm không! - Tạ Văn Sỹ cười ha ha - Mai xa Hà Nội rồi nên tối nay chẳng có em nào tới thăm chơi nữa cả! Rảnh rỗi tán gẫu cho vui! Thức một đêm với Hà Nội được chứ?

-Tất nhiên!

Trò chuyện bao đồng cuối cùng lại rơi vào cái vòng lẩn quẩn văn chương.

-Mình sinh năm 1955. Quê Tây Sơn - Bình Định. Năm 1965 theo gia đình lên định cư ở Kon Tum từ bấy đến nay. Và mảnh đất cực bắc Tây Nguyên ấy là quê hương thứ hai của mình. Yêu thơ tập tành làm thơ từ thuở mười ba mười bốn... Trước 1975 đã có thơ đăng ở nhiều báo chí Sài Gòn bắt đầu từ năm 1970 với bài thơ đầu tiên được in trên tờ Phổ thông bán nguyệt san do Nguyễn Vỹ làm chủ bút. Thơ đem lại cho mình bao niềm vui. Thơ cũng mang lại cho mình không ít nỗi buồn. Thơ khiến cho cuộc đời mình bao phen lận đận... Hết làm nghề chặt củi đốt than nông tang nương rẫy lại chuyển sang đào đãi vàng sa khoáng hết phụ hồ lại làm nghề xe ôm...

-Và nhờ làm nghề “thợ đụng” mà anh mới có điều kiện tiếp xúc với nhiều hạng người nhiều sự kiện xã hội nếm trải lắm buồn vui nên có vốn sống dồi dào và thấu hiểu nhân tình thế thái... Nhưng tại sao thơ lại khiến cho cuộc đời anh chịu bao phen lận đận?

-Năm 1972 chính quyền Sài gòn đôn quân bắt lính mình “dính đòn” nên bảo ông già làm lại giấy khai sinh trốn Kon Tum về trú ở Plei Ku để học tiếp tục trung học đệ nhị cấp. Lúc bấy giờ phong trào học sinh - sinh viên lên mạnh ở Plei Ku anh em ra tập san nội bộ của trường. Mình tham gia bài thơ lên án cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Thế là bị nhà trường đuổi học. Sau ngày giải phóng mình học Trung học Sư phạm Gia Lai- Kon Tum. Bồ bịch lăng nhăng. Làm bài thơ “Nhớ người yêu cũ” tặng cô bạn gái đã chia tay. Bài thơ bị Ban giám hiệu nhà trường suy diễn quy chụp rằng “nhớ người yêu cũ” có phải là… “nhớ chế độ cũ”?! Và thế là… đuổi học! Vì thơ trước 1975 mình phải xếp bút nghiên. Vì thơ sau 1975 mình phải từ bỏ ước mơ trở thành anh giáo trẻ!...

-Có phải do nhiều va đập như vậy mà anh đã tự trào: “Rằng xưa có gã làm thơ/ Trời sinh nhầm phải ngày giờ không thiêng/ Nên đời gã lắm truân chuyên/ Bước danh thì trật bước duyên thì trầy” chăng? Tai nạn văn chương không làm anh chùn bước hay nghiệp dĩ trót mang mà anh “cái nết đánh chết không chừa”?

-Đúng là không thể chừa được nhưng lúc đầu cũng tởn! Sau chuyện bị đuổi học rồi đuổi dạy ấy mình quay về lấy vợ sinh con và làm đủ thứ để sinh tồn. Mình vẫn lặng lẽ làm thơ nhưng qua hai lần bị nạn mình khôn ra thơ đem đút hộc bàn không dám cho ai biết ngoài những bạn là nông dân tiều phu phu hồ cửu vạn xe ôm... Rồi đất nước đổi mới thông thoáng hơn anh em văn nghệ ở tỉnh gặp gỡ động viên việt lại gửi đăng trên các báo tạp chí... Rồi có người bạn thân bán nợ cho mình “con ngựa sắt” đời cũ làm kế sinh nhai. Mình trở thành anh xe ôm từ đấy...

-Đến nay anh xuất bản các tập thơ Mặt đất Cõi người Trời xaTùy khúc. Dẫu chưa đọc anh nhiều nhưng thấy thơ anh luôn trăn trở về phận người về nỗi đời về thế thái nhân tình với những triết lý nhân sinh... Đó là đề tài hay cũng là quan niệm về thơ của anh?

-Cả hai! Mình làm thơ về cuộc sống chung quanh về những con người bình dị về những vùng đất đã từng đến và đi… Tất nhiên trong thơ mình tình người tình yêu quê hương đất nước luôn hòa quyện với nhau cùng những trăn trở buồn vui... Đời mình quá bầm dập lao đao lại “ham lãng bạt phiêu bồng ruổi rong khắp núi cùng sông dặm trường… cộng với trái tim đa cảm nên mình có vốn hiểu biết nhiều là nhờ vào cái sự “tự học” ấy... Mình không đủ sức làm thơ cao siêu xa vời chỉ giản dị gần gũi với cuộc sống vì câu chữ của mình cứ bật lên từ những cảm xúc thật. Không có cảm xúc mình quyết không cố sắp chữ ghép vần để thành thơ. Bởi đó là của giả mình tin sớm muộn gì bạn đọc cũng sẽ nhận ra ngay...

-Mấy ngày ở đây với nhau có lẽ anh là người “bận bịu” nhất. Lúc nào cũng có bạn bè ghé thăm. Đặc biệt là cánh bạn gái. Tò mò một chút anh quen với họ do đâu? Bởi “đất làm ăn” của anh ở tận Kon Tum kia mà?

-Tất cả là do qua thơ qua mạng internet và qua những lần tình cờ gặp gỡ - Tạ Văn Sỹ cười ha ha - Mình không có dáng vẻ của một anh nhà thơ. Nhưng các bạn gái đáng yêu của mình vì yêu thơ và có lẽ yêu luôn cái con người lấm láp phong trần của mình hay sao ấy. Chỉ đơn giản vậy “ai cũng hiểu” chỉ Hương Đình Nguyễn Tam Mỹ... là không chịu hiểu ra!

Tạ Văn Sỹ lại cười ha ha. Bất chợt điện thoại của anh đổ chuông. Ai vậy? Lại một “em” nào đó ở Hà Đông hẹn sáng mai cà phê chia tay. Rồi bất chợt có tiếng gõ cửa phòng. Một anh trung úy công an ở tận huyện Mường Khương – Lao Cai về Hà Nội công tác và một anh thiếu tá bác sĩ quân y ở Học viện Quốc phòng biết Tạ Văn Sỹ đi dự Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII nên tìm thăm “chàng thi sĩ xe ôm”... Quả Tạ Văn Sỹ là một người quảng giao! Thảo nào…

 Nguyễn Tam Mỹ

(Báo Quảng Nam cuối tuần)

More...

BẠN BÈ TRI ÂM…

By tavansy@gmail.com

*Tôi vừa in được tập thơ thứ tư ở nhà xuất bản Lao động Hà Nội 2010. Loay hoay không biết đặt nhan đề gì bèn ghi luôn “Tùy khúc”! Bạn đọc nghĩ nó có nghĩa là “những khúc ca (thơ) tùy hứng theo kiểu ngẫu cảm”. Thì có lẽ cũng… tượng tự vậy. Vừa rồi đọc được trên báo Gia Lai cuối tháng và tạp chí Văn nghệ Kon Tum có hai bài viết của hai người bạn trẻ một nam một nữ. Cám ơn các bạn đã chịu khó đọc thơ tôi và xin “nhặt nhạnh” vào đây để lưu giữ tình văn.

 

VŨ THU HUẾ 

NHỮNG NỖI NGỌT MỀM TƯƠNG TƯ…

(Đọc Tùy khúc thơ Tạ Văn Sỹ Nhà xuất bản Lao động-2010) 

Với người yêu thơ các tỉnh Tây Nguyên nói riêng cả nước nói chung cái tên Tạ Văn Sỹ từ lâu đã trở nên rất đỗi thân quen. Cũng bởi thơ anh giản dị mộc mạc dễ đọc dễ nhớ. Cũng bởi con người anh chân chất hiền khô gặp một lần là khó có thể quên. Mới đây trong một lần ghé Plei Ku gặp tôi anh cười sảng khoái: “Sau Mặt đất Cõi người Trời xa (tên các tập thơ của Tạ Văn Sỹ) là cái này đây em đọc nhé”. dúi vào tay tôi tập Tùy khúc anh vội vàng: “Tiếc là anh có việc gấp. Em nhớ đọc đấy”!

Thực ra không cần đến những lời này của anh thì một kẻ yêu thơ và kính trọng anh là tôi vẫn dành một khoảng không gian yên bình và khoáng đạt để đọc thơ anh. Tùy khúc gồm 40 bài thơ chứa đựng biết bao nhiêu cảm thức suy tư được ngân lên từ một tâm hồn nhạy cảm một trái tim tinh tế yêu người yêu đời của người thơ. Chẳng phải chính anh đã nói rất hay rồi đó thôi: -“Một quả cầu nho nhỏ/ Mà sức chứa mênh mông/ Đập đều theo nhịp thở/ Lọc tươi cho máu hồng” (Trái tim người làm thơ). Có cảm giác như anh đang muốn đem tất cả những gì là tinh túy là tinh diệu nhất của hồn thơ để dâng cho cuộc đời này. Bởi vậy Tùy khúc không chỉ như một lát cắt của cuộc sống mà chính xác hơn nó được cắt ra từ gan ruột từ máu và nước mắt của người làm thơ. Bởi vậy cũng thật dễ hiểu khi trong gần một trăm trang sách nhà thơ đã sử dụng tất cả các thể thơ khác nhau từ cổ điển cho đến hiện đại từ thơ truyền thống lục bát đến thơ tự do tất cả với chỉ một mong muốn là đem đến cho người đọc những ngẫu hứng khám phá khám phá để thấu hiểu.

Có thể nói Tùy khúc là những ngẫu hứng khám phá của chính tác giả. Xuyên suốt tập thơ là rất nhiều vùng miền với những xúc cảm đầy tính thẩm mỹ và nhân văn luôn thấm đẫm một chữ Tình. Ngay trong Tự cảm - bài thơ mở đầu tập thơ nhà thơ Tạ Văn Sỹ đã nói thực rõ ràng: -“Bao nhiêu đường gió bụi/ Bao nhiêu chuyến đi về/ Ta một đời chúi mũi/ Quay tròn như bánh xe”! Vì lẽ này ta đọc thơ anh để thêm một lần hiểu hơn được lẽ đời hiểu hơn về những “nỗi ngọt mềm tương tư” đang từng ngày từng ngày khắc khoải vang rộng và ngân xa trong trái tim người thơ. Khi anh đang từng phút từng giây vắt kiệt mình trong từng con chữ người đọc sẽ có cả một không gian rộng lớn để thưởng thức để chìm đắm trong một niềm cảm xúc vô bờ từ Đất Mũi đến Lai Châu Mường Khương Lương Sơn; từ "Đêm chợ Kỳ Lừa" xưa cho đến "Ở Kon Tum nghe ca dao Bình Định" quê nhà; từ "Chơi mùa nước nổi ở Tây Nam" đến lang thang những chiều "Cuối thu Hà Nội"...

Hiện hữu trong tập thơ nhiều hơn cả là tình yêu nhà thơ dành cho mảnh đất đang nuôi dưỡng trái tim mình - mảnh đất Tây Nguyên. Trong thơ anh Kon Tum Plei Ku nói riêng Tây Nguyên nói chung đẹp đến lạ kỳ. Ở đó có một mùa Ning Nơng say đắm: -“Tiếng chiêng ngân trầm theo lời anh nói/ Lửa hội nồng nàn ấm theo vòng tay/ Men rượu ngây ngây trong từng nhịp thở/ Em bừng bừng trong mắt anh say”. Ở đó có một đêm Tu Mơ Rông lấp lánh sắc màu huyền thoại: -“Đêm Tu Mơ Rông trăng có thật không trăng/ Em có thật không không biết nữa/ Em một nửa ở bên tôi - một nửa/ Tan như trăng và thoảng cứ như hương”. Ở đó có một Plei Ku đẹp đến nao lòng với hoa vàng và em trong nỗi ngọt mềm tương tư: -“Chút hồn mỏng tựa sương tan/ Tặng Plei Ku với hoa vàng và em”…

Những tình cảm rất đời rất đẹp này đã khiến người đọc dừng lâu với Tùy khúc của anh!

  Vũ Thu Huế

 (Báo Gia Lai Cuối tháng)

NGUYỄN VĂN NÔNG 

CẢM NGHĨ TỪ NHỮNG KHÚC CA TÙY HỨNG!

(Đọc tập thơ TÙY KHÚC của Tạ Văn Sỹ) 

Thực tế cuộc sống luôn vùi dập mà cũng rất ưu ái cho nhà thơ Tạ Văn Sỹ! Anh được mệnh danh là vị “Đại-sứ-thơ độc đáo trên dọc dài đât nước”! Việc anh một mình một “ngựa sắt” lang bạt muôn nơi đã đem lại niềm khoái cảm đặc biệt cho giới văn chương. Hình ảnh anh với chiếc xe máy cà khổ ấy được thi vị hóa như hình ảnh chiếc xe Tam mã bên rừng bạch dương chở Puskin “Lạc ngựa đều đều buông xa thẳm/ Sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng”! Các bạn đọc vì hiếu kỳ với cái “con ngựa sắt” hí ra nhạc ra thơ này mà tìm đến với chủ nhân. Đó là những chiếc xe đưa con người tiếp diện với biết bao điều thú vị trong cuộc sống để từ đó có những khúc ca tùy hứng.

Mỗi nhà văn đều có một “ẩn ức” sáng tác nào đó. Vấn đề là nó được biểu hiện như thế nào. Ở đây xin vận dụng một  khía cạnh tạm gọi là những ẩn ức quá khứ những mặc cảm thân phận và thế thái nhân tình trong tập thơ Tùy khúc của Tạ Văn Sỹ. Tất nhiên chỉ giới hạn trong cái nhìn ẩn ức rất đặc trưng của tác giả này nó gián tiếp cơ hồ như một ẩn ức chung có trong mỗi con người dóng lên những tiếng chuông ngân.

Nhìn đại thể tập Tùy khúc như một bản nhạc đàn mà những hợp âm của nó rất đáng được lưu giữ vào kí ức. Nó tri kỉ với tâm hồn nhà thơ và giống như một nguồn suối đầu nguồn chảy mãi vào rừng già rậm rịt… Đó là một cuộc hành trình tìm kiếm không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ. Điều này rất đáng trân trọng trong khi không ít trong số chúng ta tự thấy vô cảm trước cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống tươi đẹp. Tạ Văn Sỹ khi lang thang suốt dọc miền đất nước không đòi hỏi phải đi như thế nào mà anh đi bằng tâm hồn. Chính vì vậy ống kính của trái tim anh không bỏ qua trước những cảnh sắc ở những nơi mà anh đã đi qua. Nhưng để thăng hoa thành những bản nhạc thơ đâu có dễ: -“Mường Khương ai hẹn ai tìm đến/ Đến để mà thương để vấn vương”… -“Hòa Bình là thế em yêu nhé/ Đã đến là em thích ở luôn!”… -“Anh yêu Huế như yêu cổ tích/ Huế trong anh là nỗi khát thèm”…

Cứ thế ở từng vùng miền dường như tác giả hứng khởi mới ghi lại được những nét thần thái: -“Mênh mang những xẻo những vàm/ Những kênh những rạch biết làm sao đây” (Chơi mùa nước nổi ở Tây Nam); -“Plei Ku nếu thiếu hoa vàng/ E đồi đất đỏ ba-zan khó nhìn” (Plei Ku hoa vàng và em); -“Về nghe đất quặn mình sinh nở/ Với rừng… “mắm trước đước theo sau” (Về Đất Mũi); -“Lên đây Tam Đảo cao nghìn thước/ Tóc chạm mây ngàn dựng gió xa” (Tam Đảo)…

Ở đâu anh cũng muốn kéo giữ tất cả về mình từ thiên nhiên cảnh sắc đất nước con người… Nhưng nàng thơ lại có giới hạn trong ngẫu hứng tự sự nên dù có muốn “nhận” tất cả thì anh cũng đã  phải trả giá cho một số hạn chế nhất định - đó là những câu thơ tham lam còn mang nặng tính chất miêu tả: -“Người Mông ở lũng sâu Nùng Nàng/ Từ Lao Tỷ Phùng Chin Chu Chải Xảy Xan…” (Trăng Lai Châu); -“Những Lao Pao Chải Tả Ngải Chồ/ Những La Pán Tẩn Tung Chung Phố…” (Mường Khương)…

          Riêng quê hương Bình Định vùng văn hóa đã thấm sâu vào mạch nguồn hồn anh Tạ Văn Sỹ như người vừa đi vừa ngoái đầu nhìn lại quê nhà: -“Làng xưa mỗi dịp quay về/ Mới hay đất thói quê lề vẫn nguyên” (Về quê). Ý tưởng này gợi nhớ đến mấy câu thơ của Vương Trọng: -“Con đi lang thang vất vưởng giữa đời thường/ Đâu đâu cũng không trở thành quê được/ Đường về quê mẹ chân trời xa tít tắp…”. Do vậy với quê nhà Tạ Văn Sỹ có một thế đứng rất bình tĩnh không hững hờ trước “đất lề quê thói”. Cũng viết về quê nhà bài “Ở Kon Tum nghe ca dao Bình Định” anh có cánh diễn đạt mềm mại uyển chuyển đọc đi đọc lại vẫn không thấy chán. Cả bài thơ là những cặp từ đối nhau co duỗi nhịp nhàng: Kon Tum - Bình Định về xuôi - lên ngược dễ nhớ - dể quên đấy nắng - đây mưa đành thôi - đôi nơi gửi xuống - có lên nhạt nghĩa – phai thề… Những cặp tiểu đối này rất gần gũi với hơi thở ca dao.

Những bài thơ chứa chan cảm xúc đều có những “ẩn ức” về thế sự. Đó là những bài thơ Tạ Văn Sỹ viết về tình bạn về nhân vật văn học về các danh nhân… như về chính mình. Bài “Buổi tối ngồi nhà bạn” sau những dòng tâm sự về “tiếng đời thị phi” là một niềm lạc quan vững tin vui sống. Ở bài “Có lẽ…” sau những “tập thiền” cảnh giác với cuộc đời (theo cách nói rất humour của tác giả) là hiển lộ trái tim đau đáu tính nhân văn. Ở bài “Tâm sự về Tấm” tác giả lấy tấm lòng nhân ái của Tấm như chiếc gương soi lại tâm hồn mình. Bài “Gửi người yêu cũ” đã xa rồi bóng dáng người xưa mà nỗi lòng chưa thôi xao động…

Nằm trong dòng chảy văn hóa phương Đông người Việt ta thường ôm giấc mơ quá khứ dù thực tiễn vẫn bao điều nóng bỏng nhưng quá khứ cứ mặc nhiên đi về như một chiếc bình nhớ hơi nồng rượu cũ. Tạ Văn Sỹ có riêng cả một khung trời kí ức. Anh đón giao thừa tĩnh lặng đến ghê người chỉ một mình đối diện với chính mình: -“Khuya còn sót được vài giây/ Rượu suông tôi rót ly đầy mời tôi…” (Giao thừa tuổi 50); hay như: -“Giao thừa năm cũ sang năm mới/ Tôi tự giao thừa một thể luôn!” (Giao thừa)… Ngày trước Xuân Diệu cũng vậy: -“Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề”!... 

Văn chương dẫn đường anh tìm về với các bậc anh tú của nền thơ ca Việt để từ đó suy nghiệm lại lẽ đời. Với Tản Đà: -“Mộng con rồi mộng lớn/ Mộng ảo là mộng đời/ Vùi say tìm nghĩa sống/ Cuộc đời như cuộc chơi!” (Tản Đà); hay với Nguyễn Bỉnh Khiêm: -“Thôi lui về ở ẩn/ Lợi danh xin trắng tay/ Quắc nhìn đôi mắt sáng/ Chuyện đời mây trắng bay”…

Ấy là Tạ Văn Sỹ đang làm cuộc thám hiểm lại chính cuộc đời mình tâm hồn mình với những ẩn ức xưa cũ. Và anh biết mình đang ở tọa độ nào. Có một nhà văn đã nói “Nhà văn có thể chưa hẳn là người chỉ ra chân lý nhưng là người biết hướng con người đi đến gần chân lý”. Mỗi người có một khởi thủy và niềm tin riêng của mình. Những ẩn ức và mặc cảm thân phận là thế mạnh trong thơ Tạ Văn Sỹ. Nó mãi như kho báu khai thác không bao giờ cạn trong những chặng đường tiếp theo của anh. 

 Nguyễn Văn Nông

(Măng Đen 27-08-2010)

More...

NGƯỜI ĐANG VIẾT KỆ!

By tavansy@gmail.com

*Lời thưa: Trong lúc lục chồng báo cũ (để tìm bài Phùng Phương Quý - đã đưa lên trang blog này hôm trước) lại bắt gặp bài viết này in trên tạp chí Văn nghệ Công nhân  số ra đầu năm 2005. Đọc lại thấy vui vui xin đưa luôn vào đây để lưu giữ.

 

Hắn phải sang khách bỏ dở “cuốc” xe ôm đi huyện (có lẽ giá mấy chục ngàn) để quay về đón tôi ở bến xe Kon Tum. Nghe hắn nói vậy tôi nghĩ ngợi quá! Nhân vào đây có việc gia đình tôi nảy ý ghé thăm hắn nói với hắn dăm ba câu chuyện rồi…rút. Thật tình tôi không muốn làm mất thì giờ của hắn vì biết hắn đang phải trần ai khó nhọc mưu sinh. Chẳng có gì giúp hắn thì chớ lại còn đến quấy quả…

-Anh lên xe tôi chở anh đi chơi.

Một thoáng ngần ngại sau khi nói ra cái ý tứ trên tôi tặc lưỡi leo lên xe ngồi sau lưng hắn. Kệ hắn muốn chở mình đi đâu thì chở!

Và bây giờ thì hắn đang chở tôi đi lòng vòng thị xã Kon Tum. Sông Đắk Bla đang mùa nước cạn để lộ những tảng đá đủ hình đủ dạng nhấp nhổm giữa dòng. Nhà thờ Thiên chúa giáo bằng gỗ có lẽ là độc đáo nhất Việt Nam nhô cao nơi góc phố. Đất đỏ rừng xanh… Phố núi mà đường bằng phẳng khác gì Thành Nam quê tôi.

                            Tôi tìm đến hắn không phải vì tò mò. Anh bạn văn của tôi có lần đã dẫn hắn vào chơi nhà tôi nhân chuyến hắn chu du về tận miền Hải Hậu. Tôi nhìn hắn thầm nghĩ: Thằng cha gì mà đen nhẻm thế! Giời ơi lại thêm một nhà thơ nữa à? Sao cái xứ sở mình có lắm nhà thơ thế không biết! Đã mấy chục năm qua miền thơ ca ồn ào mà trống vắng một nền đất rộng mà thưa thớt những lâu đài! Nhưng… chợt một hôm …“Ở nơi đó muộn phiền tôi thắp sáng/ Nỗi u hoài bay tản mạn ngàn năm” (Cảm xúc Kon Tum). Hắn đấy! Và“cây hạnh ngộ” - từ ngữ hắn dùng trong bài thơ vừa trích dẫn - của thi ca đã mọc ở đất Kon Tum.

                            Có lẽ không ít giai nhân thèm được như tôi lúc này: Ôm eo hắn đi đến những nơi không định trước. Và bây giờ hắn và tôi đang ngồi cùng mấy anh em văn nghệ Kon Tum. Vừa nhâm nhi tôi vừa nghe hắn nói và lặng lẽ ngắm hắn. Khuôn mặt chữ điền rất đàn ông. Đôi mắt lúc nào như cũng nheo cười với mọi người với mọi sự đời. “Đàn ông miệng rộng thì sang”… Đằng này miệng hắn nhỏ môi hình trái tim. Sao hắn không là đàn bà? Nhân tướng như thế khổ là phải. Anh em Kon Tum đặt cho hắn thêm một biệt hiệu “Gã xe ôm… tai hoạ!” để nghịch lại với “tài hoa”! Hắn từng bị đời đánh lên đánh xuống. Ấy thế mà hắn không tiêu đời không hận đời. Hắn có triết lý của hắn: -“Anh lem lấm một đời anh bụi bặm/ Nắng và mưa vỗ rát mặt phong trần/ Anh khinh bạc bước bên đời kiêu mạn/ Xem vui buồn như thể mộng phù vân”! (Thơ tặng người họ Lữ). Hắn còn lại động viên “những người cung khổ” nữa chứ: -“Em rồi sẽ bước qua khung cửa hẹp/ Đêm dài nào chẳng đổi một bình minh” (Thơ tặng người họ Lữ).

                          Chợt điện thoại trong túi hắn reo. Hắn xin lỗi để nói chuyện với ai đó qua điện thoại. “Alô em đấy hả? Em khoẻ chứ?... Em chưa nhận được sách anh gửi à?... Ủa thế hả?... Ờ…ờ…Em khoẻ nhé! Chào em”.

                           Cất máy vào túi hắn kể: -“Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau vừa gọi đấy. Con nhỏ này viết khá lắm nha! Trong một cái truyện nó dùng cái từ “khuya xa” nghe rất thơ mình thích lắm! Vừa rồi có đoàn văn nghệ Cà Mau ra đây giao lưu Ngọc Tư ngã bệnh bất ngờ không đi được không gặp lại được nhà văn trẻ tài năng buồn quá. Tôi làm hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ mất hai ngày cho đoàn thăm thú Kon Tum”.

                            Như muốn khoe khoang hắn lại lấy máy di động ra: -“Thằng con rể thấy tôi cứ phải nghe nhờ điện thoại của ông bạn ở bến xe thồ nó mua cho cái này đấy. Có cái này cũng tiện mà vui nữa”. Rồi hắn đọc cho tôi nghe: -“Một ngày điện thoại không reo/ Coi như hôm ấy buồn teo cả ngày…” (Chờ chuông điện thoại). Nhân thể hắn bấm số gọi về Nam Định báo cho mấy người bạn biết tôi đang ở đây với hắn.

                           Một lúc lại có người gọi hắn. Hắn cười khờ khờ rồi phán: -“Chú đọc cái truyện cháu gửi cho chú rồi. Viết dở quá viết lại đi nhá!... Ờ…Ờ…Đó…Đó…Chào cháu!”

                           Thế là hắn đang đổi đời chứ khổ sở nỗi gì?! Con người từng bị đời đày đọa bây giờ đang được đời ưu ái chăng? Thì đấy nhưng ngày ra Bắc dự trại sáng tác hắn được các bạn trẻ ở trường viết văn Nguyễn Du mời về “ba cùng”. Hắn được một bạn văn nữ là hoa khôi hàng tỉnh cho mượn xe máy và tình nguyện làm hoa tiêu đưa hắn rong chơi Hà Nội để… “cảm hồn theo buổi chuyển mùa” (Giữa lòng thu Hà Nội). Thì đấy việc hắn vào hội Nhà văn Việt Nam có lẽ là một kỷ lục về thời gian nhanh. Suôn sẻ từ lúc nộp đơn đến khi Ban Thường vụ Hội họp xét ra văn bản kết nạp chỉ có không đầy ba tháng. Ối vị xếp hàng trước hắn bao năm hẳn là thèm… ngang cổ!            

                           … Không chỉ trong những tứ thơ cái con người nghe nói gốc gác dòng họ phát xuất đâu ở xứ Đoài này hễ có dịp là tìm về cội nguồn xứ Bắc. Có người bảo thơ hắn phảng phất Xuân Diệu phảng phất Phùng Quán. Không chừng lại có người bảo phảng phất Nguyễn Bính Nguyên Sa… nữa cũng nên! Được phảng phất tiền nhân là may lắm! Tôi không bênh hắn mà hắn cũng chẳng cần ai bênh. Tôi biết tôi có viết thế nào cũng chẳng thêm được gì cho hắn. Nhưng tôi phải thú nhận rằng gần đây tôi bị ám ảnh bởi những câu thơ mộng mị của hắn. Mà sao tất cả các bài thơ in ra hắn đều không ghi thời gian sáng tác?

                            Mấy anh em văn nghệ Kon Tum cáo từ trở về với công việc ngày thường của họ. Hắn bảo tôi: -“Mời anh vào thăm ông bà già thăm vợ con tôi”.

                            Ông cụ thân sinh hắn trên bảy mươi tuổi ốm yếu nhợt nhạt. Giọng khàn khàn cụ hỏi chuyện tôi không nghe rõ. Hắn đỡ lời: -“Ông già bị phẫu thuật vì bị ung thư thanh quản”. Qua một mảnh vườn lưa thưa cây cối một cụ bà đang lom khom còng lưng cuốc xới hắn bảo đấy là bà già hắn. Tôi quên hỏi hắn có mấy anh em nhưng biết hắn là con trai cả hắn là chỗ dựa tinh thần chính cho cả gia đình. Thế mà chạy xe ôm thế mà nhong nhóng làm thơ… Làm sao mà nuôi con ăn học làm sao mà phụng dưỡng cha mẹ già?

                            Đến một ngôi nhà khang trang hắn bảo nhà con gái hắn. Con rể và con gái hắn đi đâu đó. Mấy người thợ đang khoan đang hàn. Một người đàn bà nhỏ nhắn trắn trẻo (tương phản với hắn) đang hì hụi bê chuyển những viên gạch men. Hắn bảo: -“Bà xã tôi đó anh vào nói với bà ấy mấy câu”.

                           Tôi nói như cái máy:

                           -Chào chị! Trưa mà không nghỉ à chị?

                            Tôi biết là mình đã hỏi một câu rất lố vì lúc này đã hơn ba giờ chiều.

                            Người đàn bà xổ một tràng:

                            -Bụng đói đầu gối phải bò nghỉ làm sao được anh! Làm riết lo riết tối ngày cực lắm anh ơi.

                           Cuộc thăm viếng chóng vánh không có ai mời ngồi chơi xơi nước. Hắn than thở: -“Tôi đưa anh đến đây để anh mừng cho tôi. Đời tôi khổ nhưng đã nhìn thấy lũ con đang trưởng thành. Chứ bà ấy coi tôi như thằng đàn ông vô tích sự”!

       Hắn tiếp tục chở tôi đi. Hết mấy anh em văn nghệ lại đến đồng hương Nam Định của tôi. Mà chỗ nào cũng đem rượu ra mời nào linh chi mật ong phấn hoa sâm Ngọc Linh… Quý vật đãi quý nhân đây! Tôi phải bảo hắn: -“Tôi có là cái thá gì đâu mà ông tha tôi đi lắm nơi thế khó ăn khó nói quá”! Chừng như nhận ra sự nhiệt tình thái quá của mình hắn cười khờ khờ: -“Vậy thì tôi đưa anh đến mấy nhỏ bạn”.

          Tôi đoán đấy là mấy người đàn bà có mặt trong thơ hắn. Có nàng thấy hắn và tôi đến lẳng lặng đi mua thức nhắm về mời khách lai rai với chồng nàng. Có nàng bỏ đi đâu mất. Có nàng chồng đi vắng cao giọng đọc thơ rồi ngang nhiên đưa tay xoa đầu hắn trước mặt tôi. Tôi nhìn mặt hắn: Có sự thánh thiện của ông thánh tử vì đạo trước giờ lên đoạn đầu đài lại có vẻ ung dung tự tại của một con bò cái đứng yên cho người ta vắt sữa.

          -Anh về nghe!

          -Thôi anh về đi!

          Hắn lảo đảo dắt xe ra cổng. Loay hoay mãi không làm sao khởi động được máy. Nàng nhanh chóng giúp hắn nổ máy rồi trao tay lái lại cho hắn. Tôi chột dạ: Lỡ hắn đưa mình xuống sông thì sao? Nhưng tôi kịp trấn tĩnh lại ngay: Người như hắn trời hẳn chưa cho chết được!

          Thật lạ lùng! Người ngồi trên xe trước tôi dường như không phải là hắn nữa. Không phải là hắn mà chính “con ngựa sắt” của hắn đã đưa hắn và tôi về tận cuối con đường nằm ở rìa thị xã. Ánh điện vàng vọt soi rõ một ngôi nhà nhỏ lợp tôle thấp lè tè. Một con chó nhỏ nghe động nhổm dậy không sủa cũng không vẫy đuôi mừng chủ. Vì có người lạ hay vì hàng ngày chủ của nó vẫn bỏ đi từ sáng sớm đến tận đêm khuya mới về đến nhà nên nó quen rồi ơ hờ đến vậy?

          -Mở cửa cho ba con ơi!

          Im lặng.

          -Con ơi mở cửa cho ba!

          Giọng hắn khào khào luễnh loãng tan vào bóng đêm nghe mênh mang một nỗi xót xa. Rồi điện bật sáng và cửa mở. Một thằng bé lễ phép chào khách xong lại lăn vào cơn ngủ lại.

          Tôi cởi bỏ áo ngoài rồi cùng hắn ngồi bệt xuống nền xi-măng không chiếu trải. Hắn quờ tay lấy ra chai rượu. Không biết rượu gì mà “trong” như nước… gạo! Tôi lờ mờ tưởng tượng những đêm trước đây có lẽ hắn cũng vậy. Vị trí hắn ngồi và vị trí chai rượu trong tầm tay với. Hắn mở tủ cái tủ chẳng ra tủ kính ngoài Bắc cũng chẳng ra tủ li lai Tây. Cái tủ của nhà bình dân để quần áo ấm chén có khi để cả trứng gà hoa quả!… Đằng này tủ của hắn chứa toàn sách. Hắn lấy ra mấy tập thơ của hắn đề tặng tôi và gửi tôi mang về tặng người bạn viết ở quê. Xong hắn bảo: -“Anh có buồn ngủ thì cứ ngủ trước đi tôi còn thức tí nữa đã”.

          Tôi chỉ chờ có thế vội nói “xin lỗi” cho phải phép rồi nhanh chóng chui vào màn đã giăng sẵn trên cái phản gỗ kê sát tường. Lạ thay vừa nãy mí mắt tôi nặng trĩu là thế mà lúc này không hiểu sao tôi không tài nào chợp mắt được!

          Hắn lại móc điện thoại ra gọi nói cười khờ khờ với người trong Nam ngoài Bắc người trên rừng dưới biển. Tôi bỗng thèm được như những người đêm nay hắn gọi. Liệu có một đêm nào đó sau này hắn chợt nhớ và gọi tôi như đêm nay hắn gọi họ không? Rồi hắn giở cái túi xách giả da lôi ra nào thư từ bản thảo đọc một hồi. Rồi hắn hí hoáy ghi chép viết lách gì đó…

          Trong trí tưởng chập chờn của tôi lúc này: Gã xe ôm tài hoa biến mất kẻ khất thực nuôi thơ (có bài viết gọi hắn như thế) cũng không còn… Ngồi kia là một "Thiền sư" đang viết kệ “Có và không/ Nhiều và ít/ Giữa đám đông/ Mình im thít!” như trong bài thơ có nhan đề “Kệ viết khi còn sống” của hắn.

          Và đấy chính là nhà thơ Tạ Văn Sỹ yêu quý của riêng tôi và của cả chúng ta.

 

          Nguyễn Mộng Nhưng

          (Nam Định 05-2004)

* Tạp chí Văn nghệ công nhân số 1 năm 2005.

More...

GÃ XE ÔM TÀI HOA Ở KON TUM

By tavansy@gmail.com

 

*Lời thưa: Anh bạn nhà văn Phùng Phương Quý ở Phù Ninh - Phú Thọ vừa gọi điện thoại bảo sắp trên đường vô Nam nếu tính toán được thì có thể sẽ ghé qua Kon Tum thăm tôi. Sực nhớ cách đây 7 8 năm anh có bài viết về mình cũng hay hay in trên Phụ san Thơ. Thế là lục lại chồng báo cũ đưa ra đây khoe với mọi người kẻo nay mai gặp nhau bạn trách rằng mình đã... quên!

 

          Ngã tư đường Trường Chinh - Trần Phú thị xã Kon Tum có một gã chở xe ôm người đen như củ tam thất thường ngồi trầm ngâm trên yên xe máy. Chiếc xe máy Trung Quốc trông cũng lam lũ như gã yếm và đèn xi-nhan sứt sẹo. Chiếc túi giả da để giữa khung xe đầy căng bên trong là mấy tập thơ vài tờ báo và giấy viết. Gã không tranh giành khách cũng không chèo kéo ai gọi thì đi không thì ngồi đọc báo hoặc ngẫm ngợi làm thơ. Tên khai sinh và cả bút danh khi làm thơ của gã là Tạ Văn Sỹ nhưng chúng tôi gọi gã là TAVAVY nghe có vẻ như tên người Nhật! 

Nhà thơ xe ôm và xe ôm thơ

          Gã là nhà thơ có tài của Kon Tum hành nghề xe ôm để nuôi vợ con và nuôi thơ. Ba năm nay quen biết rồi thân thiết tôi cứ tưởng đã yêu mến gã từ kiếp nào rồi. Lần này tôi ngạc nhiên khi thấy gã xuất hiện ở thành phố Việt Trì quần áo nhàu nhĩ và chiếc xe máy sứt sẹo y chang hồi đầu năm gặp gã ở thị xã Kon Tum. Giữa khung xe vẫn là chiếc túi giả da căng phồng. Cam đoan trong ấy chỉ có một bộ quần áo còn thì toàn là sách. Gã đi cả ngàn cây số ra đây bằng xe máy để dự trại sáng tác ở Tam Đảo. Gã chỉ một anh bạn gày gò tóc dài hoe vàng ngồi ủ rũ đằng sau: -"Đây là hoạ sĩ Kh. bạn nối khố. Hắn chưa biết Đền Hùng nên đòi Sỹ đưa đi cùng. Mới gặp cơn mưa mà đã xùi lơ như gà gặp nước"! Còn Sỹ thì nhẵn túi! May ra Hà Nội lĩnh được ba triệu tiền thưởng giải ba thơ lục bát ở toà soạn báo Văn nghệ. Nhưng gã không gặp may. Lên tới Việt Trì xe bị nổ xăm vừa thay xong đi đến Đền Hùng thì tịt máy không chịu nổ nữa. -"Thứ nhất là hỏng bu-gi..."! Vừa đọc xong câu thơ tếu táo thì phát hiện xe chết bu-gi và cục bán dẫn thật. Hai hôm sau bộ nhông xích kẽo kẹt đình công phải thay bộ mới. Thế là chiếc xe ngốn đứt hơn sáu trăm ngàn vẫn còn thừa tiền đi chơi khắp xứ Bắc!

          Tạ Văn Sỹ được các bậc "tiên chỉ" trong làng thơ đánh giá là một cây bút có triển vọng ở Tây Nguyên. Lần dự trại sáng tác văn học ở Hà Nội tôi ngạc nhiên khi thấy gã Tây Nguyên đen cháy được giới văn nghệ sĩ Hà Nội quan tâm đến thế. Kể cả nhà thơ Hữu Thỉnh nhà thơ Vũ Quần Phương nhà thơ Trúc Thông... khi đến thăm trại sáng tác đều hỏi thăm có Tạ Văn Sỹ ở Kon Tum ra không? Lại còn tay bắt mặt mừng hỏi gã chạy xe ôm và làm thơ thế nào? Trước kia tôi cứ tưởng tượng ra cảnh TAVASY chạy xe ôm lách vèo vèo theo xe đò giành khách. Đến tháng Tư vừa rồi đi Kon Tum mới tận mắt trông thấy gã ngồi im lìm bên ngã tư đường Trường Chinh - Trần Phú. Gã chạy xe ôm để nuôi con ăn học và để nuôi cả thơ nữa. Sở dĩ gã chọn địa điểm ấy là vì gần đại lý bưu điện Minh Thành gã nhờ số điện thoại của đại lý hàng ngày ngồi hóng hớt xem có ai trong đám bạn bè cả nước gọi điện đến. Ông chủ đại lý người Hà Tĩnh cũng rất yêu văn học và quý trọng tài thơ của Sỹ nên rất nhiệt tình với gã. Tôi biết được điều này vì mỗi lần gọi điện vào qua Minh Thành là thấy ông xởi lởi vui vẻ đi gọi Sỹ ngay.

          Chạy xe ôm để nuôi con ăn học thành người đó là cái công lớn nhất trong trăm ngàn cái... tội không tên của gã! Cô con gái lớn đã tốt nghiệp đại học Sư phạm ra dạy học mấy năm nay. Hai cậu kế sau cũng một đại học một cao đẳng đều theo nghề sư phạm mà cha chúng bỏ dở. Hai cậu nhỏ tiếp theo đang học cấp phổ thông. Trời phú cho con của Sỹ tính thông minh lanh lợi học hành thi cử cứ như đi chơi. Nếu phải chật vật lo lót "mua chữ" như con một số nhà lắm tiền khác chắc cha con gã kéo nhau lên núi làm rẫy hết cả rồi! Tưởng mất nghề dạy học Sỹ buông xuôi nhưng xem ra gã đã thực hiện việc gửi gắm ước mơ cao đẹp được làm thầy cho các con. Gã vừa chạy xe vừa chiêm nghiệm cuộc đời và gửi vào những bài thơ. Bởi vậy thơ gã nhiều triết lý giàu tình người. Bài thơ nào cũng như lọc ra từ mồ hôi nước mắt từ những khao khát cháy bỏng không thành của tác giả. Tạ Văn Sỹ viết nhiều thơ tình những bài thơ tình vật vã đa mang. Bây giờ thơ của gã được rất nhiều bạn đọc trong nước biết đến và yêu mến. Ba năm nay tôi cũng trở thành bạn thân của gã yêu gã cháy lòng. Đứng bên gã những người làm thơ "làng nhàng" như tôi cảm thấy bé nhỏ và vụng dại đáng thương!

"Đã mang lấy nghiệp vào thân"...

          Ngay từ hồi còn là cậu học sinh mười lăm tuổi Tạ Văn Sỹ đã có thơ in trên các báo Sài Gòn cũ và được nhiều người yêu thích nhất là lớp thanh niên học sinh. Thời ấy nhìn người ngắm cảnh rồi cảm xúc thành thơ. Chủ yếu thơ Sỹ lúc này là thơ tình. Lúc ấy chẳng ai biết chàng thi sĩ trẻ có theo nghiệp thơ đến cuối đời không? Nhưng sau ngày giải phóng Miền Nam thì "nghiệp thơ" đã giáng cho "nghiệp đời" của gã một đòn chí tử. Chả là năm 1976 Sỹ theo học trường Trung cấp Sư phạm Gia Lai - Kon Tum cùng các bạn. Học giỏi thông minh Sỹ là một trong 5 giáo sinh khá nhất của trường đã từng được chọn lên đọc báo cáo kinh nghiệm học tập trước các quan chức hàng tỉnh. Gần hết khoá một bài thơ tình mới sáng tác của Sỹ được chuyền tay trong số bạn thân rồi không hiểu sao lại đến nằm trên bàn của Ban Giám hiệu nhà trường. Đó là bài thơ tình "định mệnh" của gã. Bởi nó có tên là "Nhớ người yêu cũ". Vừa mới giải phóng xong lại kêu "nhớ người yêu cũ"! Có phải là nhớ chế độ cũ không? Khổ thế! Cái kiểu suy luận quy chụp ấu trĩ một thời ấy đã làm thui chột một mầm măng khoẻ mạnh của ngành giáo dục. Ra trường không được phân công đi dạy thế là tịt luôn gã quên hẳn nghề dạy học.

          Thất chí gã lên núi với con rựa cái cuốc phát rẫy trồng mì trỉa bắp ngược xuôi làm ăn đến quên mình. Mưa nắng và sương gió Tây Nguyên nhuộm đen chàng trai Bình Định vốn dĩ đã có sẵn nước da không được mấy sáng sủa cho lắm! Trong cái vỏ ngoài đen sạm chắc lẳn như cây gỗ giữa đại ngàn là một hồn thơ xanh mướt. Tới khi có chút đỉnh tiền Sỹ nghĩ ra cách kiếm chiếc xe cọc cạch chạy xe ôm. Có vẻ gã tâm đắc với nghề này. Gió sương mưa nắng đối với gã là chuyện vặt. Chạy xe ôm cũng kiếm được tiền lại được đi đây đó hợp với tính năng động của kẻ tìm tứ cho thơ. Cái dở và cũng là cái hay của gã là hay say rượu và dại gái. Gã có thể ngồi uống rượu thâu đêm hết ngày nếu có bè bạn. Gã biện bạch cho cái tật này của mình như thế này: -"Hồn ta đẹp thế này/ Sao đời nhiều xảo trá/ Không lẽ chỉ tìm say/ Mới thấy mình cao cả?". Đến chơi nhà bạn câu đầu tiên gã hỏi "Có xị rượu nào không"! Có cái lạ càng uống say gã càng đọc thơ hay giọng sang sảng đọc cho tới khi say "quắt cần câu"!

          Gã xe ôm tài hoa được rất nhiều cô gái mê thơ rồi mê luôn gã thi sĩ đen như... Trương Chi! Có một cô dòng dõi Tôn Nữ ở Huế vì yêu thơ Tạ Văn Sỹ nên đánh đường vào tận Tây Nguyên tìm tác giả. Đến khi tìm được rồi thì kêu trời: -"Ông lừa tui chớ! Tạ Văn Sỹ mà như vậy sao?"! Cuối năm ngoái mãi tung tăng bạn bè xe ôm cũng kẹt tiền gã tính viết thơ lục bát gửi báo Văn nghệ Trẻ dự thi nhằm kiếm tí tiền nhuận bút xài Tết. Gửi bốn bài được in ba. Cầm tờ báo trên tay đã hí hửng sắp có tí tiền còm. Bỗng một cô nàng quen biết người quê Nam Định đang học viết văn ngoài Hà Nội viết thư cho Sỹ than vãn rằng đời sinh viên nghèo quá không có tiền về Tết. Gã nổi máu hiệp sĩ liền viết giấy uỷ quyền lĩnh nhuận bút gửi ra cho nàng với lời ghi tặng luôn em lấy tiền về xe thăm u!

     Từ "Mặt đất" đến "Cõi người"

          Tạ Văn Sỹ làm thơ từ rất sớm và cũng được nhiều người yêu mến tài thơ từ ba chục năm nay. Hàng trăm bài thơ đã đăng tải trên các tờ báo tạp chí ở Trung ương và địa phương. Nhưng rõ ràng là "Cơm áo không đùa với khách thơ "... Gã nghèo kiết xác vì lo cho năm cái tàu há mồm lấy tiền đâu mà in thơ! Tập thơ đầu "Mặt đất" được nhà xuất Quân đội Nhân dân phát hành năm 2001 đánh dấu gặt hái mùa thơ của gã. Cứ như lời tự bạch trong thơ của gã thì mặt đất bao dung là chỗ dựa suốt đời cho kẻ hàn sĩ để hồn thơ của gã vượt lên mọi bất hạnh mà bay bổng: -" Dẫu bay lên vũ trụ vô cùng/ Cũng từ mặt đất này làm bệ phóng". Những bài thơ đầy ý tưởng tài hoa của gã cũng đào bới từ cuộc đời đầy những cay đắng mà gã từng kể: -" Hồn tôi như địa chất/ Tầng tầng trầm tích xưa/ Suốt đời tôi khai quật/ Tìm nỗi buồn ban sơ".

             Mà cũng lạ! Một tâm hồn nhạy cảm thế mà lại rất "lì" với sự an bài của số phận. Gã cứ vô tư sống vui vẻ sống nhặt nhạnh mồ hôi nước mắt mà sống không kêu ca bi luỵ. Chiếc xe ôm với túi xách đầy chữ nghĩa rong ruổi khắp các nẻo đường Tây Nguyên nhặt từng đồng tiền lẻ và từng câu thơ thấm đẫm tình người. Khi mải vui với bạn ngả nghiêng bên ly rượu là quên cả trần thế. Lúc lơ mơ tỉnh dậy lại nghĩ đến thùng gạo vơi mấy đứa con đang chờ tiền học! Đó chính là điểm sáng le lói trong cái đầu ưa bay bổng gã tự nhắc mình: -"Cái khối sáng vĩnh hằng/ Trong đầu ta - ý thức".

             Năm này thấy Sỹ thông báo ra được tập thơ thứ hai. Tập "Cõi người" là kết quả sau 3 năm lang thang khắp trong Nam ngoài Bắc: Thăm thú Thủ đô viếng Tổ Đền Hùng chơi hồ Ba Bể ngắm biển Hạ Long lặn lội về thăm Nguyễn Bính Tú Xương ở Thành Nam than thở cảm thông cùng Thuý Kiều nhớ Hàn Mặc Tử... và tơ tưởng đôi bóng giai nhân! Rồi cảm xúc tình thân ái anh em sự ganh ghét đố kỵ của kẻ tiểu nhân... Gã nhận ra "Cõi người" mặc dù vẫn thái độ của người dè dặt: -"Có và không/ Nhiều và ít/ Giữa đám đông/ Mình im thít"! Tất cả gã gửi vào thơ...

             Đầu tháng 9 vừa qua gặp nhau ở Phú Thọ gã tặng tôi tập thơ Cõi người và khoe ra cái đơn xin vào Hội Nhà Văn Việt Nam. Ký giới thiệu là hai hội viên hai nhà thơ tầm cỡ. Quả là Hội Nhà Văn Việt Nam có con mắt xanh đã kết nạp gã vào Hội. Thế là gã xe ôm đã trở thành Nhà thơ chính hiệu.(*)                                                                      

Phùng Phương Quý

(Phú Thọ)

(*) Phụ san Thơ số 10 tháng 04-2004.

More...

CÓ MỘT NGƯỜI ĐĂM ĐẮM VỚI THƠ!

By tavansy@gmail.com

 

Tôi có một anh bạn mê thơ và làm thơ say đắm đến... không thể tưởng tượng nổi! Anh là Bùi Hữu Thiềm ở Móng Cái - Quảng Ninh.

Bùi Hữu Thiềm có lẽ thuộc mẫu người "chuẩn" của một đảng viên mẫu mực một cán bộ hành chính mẫn cán bởi không thế thì sao có thể từng "leo" đến chức Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Móng Cái (nay là thành phố)? Thế mà anh lại... làm thơ! Bây giờ về nghỉ hưu (nói theo cách "hiện đại" thì là đã đến tuổi... làm thơ!) rảnh rỗi thời gian lại càng "tung hoành" hơn nữa! Anh là tác giả của 2 tập thơ dày dặn đã được ấn hành. Các cán bộ ta bây giờ đổ xô làm thơ kể ra không hiếm nhưng để có được thơ hay thì hiếm thật. Thơ Bùi Hữu Thiềm trong chừng mực nào đó lại thuộc dạng "hiếm" trong... "dòng thơ cán bộ" ấy!

Ở đây không đề cập đến vấn đề hay dở trong thơ anh mà chỉ xin kể chuyện anh làm thơ nhạy nhanh nhiều và mê đắm đến... khó tin.

Năm ngoái trên tạp chí Nhà văn của Hội Nhà văn Việt Nam có bài viết của nhà thơ Mai Phương ở Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh kể chuyện mỗi ngày Bùi Hữu Thiềm nhắn vào máy điện thoại di động của nhà thơ một bài tứ tuyệt. Đều đặn nguyên một năm trời như vậy. Nghĩa là cả thảy... 365 bài thơ trong năm ấy! Tôi cũng nhận được rất nhiều "tin nhắn thơ" từ Bùi Hữu Thiềm như vậy nhưng chỉ lai rai chứ không được đều đặn như nhà thơ Mai Phương nên khi đọc bài viết đâm ra nửa tin nửa ngờ.

Đến dịp tết Tân Mão vừa qua thì tôi tin điều ấy có thể có thật! Là cũng bởi trong vòng đâu chừng tuần lễ tôi nhận được liên tục 10 bài thơ Bùi Hữu Thiềm viết về chủ đề xuân tết! Thấy đây cũng là một "sự lạ" - lạ vì bao nhiêu người làm thơ lúc tết đến xuân về cũng đều muốn vung tay múa bút đôi chữ khai xuân mà dễ gì đã được. Đằng này Bùi Hữu Thiềm có hẳn 10 bài cho khoảng mươi ngày đặc biệt lúc thời gian và thời tiết chuyển giao nhau. Đầu năm rỗi rãi chưa biết làm gì  bèn tỉ mẩn "thống kê tổng kết" cái sự lạ này cho vui. Căn cứ vào nghĩa lý từng bài tôi xin sắp xếp lại và giới thiệu cùng bạn bè tứ xứ đọc chơi. (Như đã nói ở đây chưa xét nét dở hay bởi chắc tác giả của chúng cũng chưa đủ kịp thời gian để xem lại đâu mà chỉnh sửa! Chuyện ấy tôi đã có bài viết nho nhỏ "Bùi Hữu Thiềm - Vịn xiêu cả bóng chiều tà đợi nhau" ở những trang trước cũng trên Blog này. Chỉ xin nói thêm rằng mặc dù thơ của tuổi U70 mà sao đọc cứ... "nghe lòng phơi phới dậy tương lai" với những nỗi xao lòng của tuổi đôi mươi! Kể ra đây cũng là một... sự lạ nữa!).

Bài 1: Có thể được viết vào những ngày áp Tết (trước 30) khi mà tâm hồn tác giả đang rạo rực nguồn thi hứng chuẩn bị cho một đợt trào dâng mới:

Khá lâu rồi chẳng gần thơ

Xa câu lục bát lạc bờ ca dao

Bạn bè giờ ở nơi nao

Biết còn ai nhớ mà xao xuyến lòng!

Bài 2: Viết ngày 30 Tết:

Chiều Ba mươi Tết về quê

Gặp em chân đất nón mê lội đồng

Ta như kẻ bị trời trồng

Không tin đời vẫn còn nông nỗi này!

Bài 3: Viết lúc Giao thừa:

Rót rượu đi anh sắp giao thừa

Đêm còn chút lạnh lất phất mưa

Nâng chén mừng xuân mừng năm mới

Rạo rực niềm vui lúc chuyển mùa.

Bài 4: Viết ngày Mồng 1 Tết:

Vui buồn năm cũ đã qua

Tình xưa đã nhạt mưa nhòa dấu chân

Đang về cả một mùa xuân

Giang tay mà đón tần ngần mà chi?

Bài 5: Viết ngày Mồng 2 Tết:

Mồng hai Tết vẫn đang xuân

Rượu ngon bạn gửi cạn gần nửa chai

Chớm vàng mấy nụ hoa mai

Chạnh lòng lại nhớ đào phai quê nhà.

Bài 6: Viết ngày Mồng 3 Tết:

Tết hình như sắp dần qua

Thoắt thôi đã lại Mồng ba - chiều rồi!

Mà tình chưa chạm đầu môi

Ngẩn ngơ ta ngẩn ngơ đời... ngẩn ngơ...

Bài 7: Có thể viết xen vào Mồng 4 Tết:

Trầm cháy hết mình mới tỏa hương

Mới đằm sâu nhớ gửi nhau thương

Mới dâng đến độ tình muôn thưở

Mới tận cùng say phút thiên đường.

Bài 8: Có thể viết vào Mồng 5 Tết vì theo bản tin Dự báo thời tiết trên sóng truyền hình thì vào lúc này ở khu vực miền bắc đã có nắng hửng sau đợt lạnh kéo dài:

Trời nắng bừng lên tươi nét xuân

Nghiêng chao cánh én điểm thêm phần

Lộc biếc chồi xanh đà bật dậy

Vươn cùng đất nước bước canh tân.

Bài 9: Có lẽ viết vào Mồng 6 Tết vì ngày này là ngày khai hội nhiều lễ hội ở các chùa đền đình điện trên khắp miền Bắc quê tác giả:

Đầu xuân sắm lễ lên chùa

Cầu xin đức Phật lá bùa hộ thân

Để năm Mèo bớt gian truân

Xua cho tan đám bụi trần bay đi!

Bài 10: Cũng có thể trong lúc du xuân cùng lễ hội trái tim "già" của tác giả bất chợt "trúng luồng gió độc" khẽ động rung trước bóng đào nào đó nên mới sáng sớm Mồng 7 Tết đã có bài này nhắn ò í e vào máy tôi:

Bảy mươi - mười tám... bao xa

Cái thời "đũa lệch" đã qua lâu rồi!

Nói ra em chớ vội cười

Anh đây là kẻ coi trời bằng vung!

Theo lệ tục ngày xưa Mồng 7 là ngày hạ nêu hết Tết. Tôi cũng xin "hạ nêu" thơ Tết Bùi Hữu Thiềm ở bài thơ anh vừa nhắn sáng sớm Mồng 7 này! Chắc chắn Bùi Hữu Thiềm sẽ còn thơ dài dài nữa nhưng bài viết chơi nho nhỏ thì xin dừng lại ở đây.

Liên tưởng đến chuyện có một vị Giáo sư - Tiến sĩ khoa học chỉ trong một đêm mà viết liền một mạch đến cả trăm mấy chục bài thơ đã là sự lạ. Nhưng không lạ lắm (!) vì đó là thơ (như lời tự bạch của tác giả) được thần linh "mặc khải" cho mà thành! Vả lại ai đã đọc 2 tập thơ về đất thiêng Yên Tử và cố đô Hoa Lư của vị này thì đều thấy rõ rằng chỉ là thơ đề vịnh miêu tả kể chuyện về cảnh vật và sự tích có sẵn nên cũng... dễ thôi! Đằng này thơ Bùi Hữu Thiềm là thơ tự sự thế sự trữ tình nên mỗi bài cần phải động não động tâm nghĩa là phải có ý tưởng rõ ràng cảm xúc cao độ thực sự mới viết được. Thế mà... mỗi ngày một bài làm sao không "lạ"?

Chúc anh dồi dào cảm hứng và sức khỏe để làm thơ. Tuy nhiên ở góc độ chân tình cũng xin góp ý với tác giả trước khi cho in ấn để công bố vào đâu đó thì nên "rà" lại câu từ một tí để được nghệ thuật hơn Đây mới chỉ là dạng bản thảo còn thô mộc anh Bùi Hữu Thiềm đáng quý của thằng em này nhé?

Tạ Văn Sỹ

(Mồng 7 Tết Tân Mão)

More...