tavansy | 09 December, 2011 18:21
(Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in lần đầu năm 2003 với 38 bài; nhà xuất bản Đà Nẵng tái bản năm 2007 với 40 bài). Là tập thơ thứ hai của Tạ Văn Sỹ, sau tập đầu tay “MẶT ĐẤT”.
1- Ở KON TUM
Sống tràn qua những tuổi
Ngày tháng tuột sau lưng
Mắt quen nhìn thấy núi
Nên hồn xanh như rừng.
2- CẢM XÚC KON TUM
Ở nơi đó chim tha về trái nhớ
Tôi trầm tư cây hạnh ngộ bên vườn
Chiều xuống thấp mấy đường mây trắng nở
Em không về áo lụa vỗ bên nương
Ở nơi đó khói sương mờ ảo ảnh
Tôi đợi chờ chim vỗ cánh bay xa
Em vô nhiễm bước qua ngời kiêu hãnh
Lòng trinh nguyên chợt lạnh giữa chiều tà
Ở nơi đó tiếng tù và rừng núi
Gọi tôi về lạnh nguội của thiên nhiên
Em xa lắc nỗi ưu phiền mệt mỏi
Tôi lạc loài từ một cõi uyên nguyên
Ở nơi đó tôi muộn phiền thắp sáng
Nỗi u hoài bay tản mạn ngàn năm
Ôm giấc mộng lạnh căm hồn mỏi cạn
Em không về reo vạn nỗi xa xăm
Ở nơi đó tôi âm thầm rét mướt
Nghe phai tàn trên mỗi bước thời gian
Chợt trời đất biệt ngàn năm một lượt
Tôi lạc loài sau trước gió lang thang…
3- GỌI
Bất ngờ tôi gọi tôi ơi
Nghe thinh không đáp vọng lời hư không
Nghe tan từng giọt máu hồng
Trong hơi thở đã ẩm nồng đau thương
Tôi trong cõi mộng vô thường
Bước chân xuôi phía lạc đường vời trông
Sông trôi dài dọc đời sông
Mây bay suốt cuộc phiêu bồng đời mây
Mở bàn tay khép bàn tay
Cũng không níu giữ được ngày tháng qua
Con người giữa cõi người ta
Tôi và tôi và tôi và tôi ơi!
4- NGẪU ĐỀ
Tôi gom cả tham sân si
Mang ra chợ bán ngồi lỳ đến trưa
Người qua kẻ lại thờ ơ
Không ai thèm hỏi lấy cho lời nào
Mừng thầm trong bụng xiết bao
Thế gian tốt thế cớ sao còn ngờ
Quay về hỏi Phật trên chùa
Mới hay ai cũng vậy, mua làm gì!
5- CHỈ TAY
Xoè ra đôi bàn tay
Lâu ngày lao động
Xạm màu cáu bẩn
Nhì nhằng những vết sần chai
Ông thầy tướng xem hoài không rõ
Những đường chỉ tay
Những đường chỉ tay
Đường sinh mạng thì dài
Đường công danh lại ngắn
Đường tình cảm đậm hơn
Đường tiền tài quá nhạt
Này, những đường chỉ tay
Đường nào rủi
Đường nào may
(Biết đường nào may rủi)
Những đường chỉ cuộc đời
Tôi nắm ở trong tay.
6- NẰM KHUYA
Nằm khuya ngửa mặt thức tràn
Trân trân mắt ngó trần màn trống trơn
Nghiêng qua bên phải chập chờn
Vách in bóng nỗi cô đơn nằm khoèo
Lật về bên trái buồn teo
Gian phòng vắng ngọn đèn heo hắt mờ
Trở người úp sấp thẫn thờ
Mình gặp mình tự bao giờ quen thân
Canh dài thao thức đủ năm
Xoay quanh hết bốn thế nằm vẫn trơ.
7- NẰM BỆNH
Mưa đêm ngoài sân viện
Ru nỗi sầu mênh mông
Mình ta trong giường bệnh
Thức với đời trắng không.
8- KỆ VIẾT LÚC SỐNG
(Xưa, trước lúc viên tịch, các thiền sư
thường có bài kệ để thị đệ tử và răn
chúng sinh.. Nay bắt chước viết chơi!)
Có và không
Nhiều và ít
Giữa đám đông
Mình im thít!
9- GIỮA LÒNG THU HÀ NỘI
*Tặng Tú Anh
Anh về gặp mùa thu Hà Nội
Gặp người em gái mến thương xưa
Hẹn nhau một tối vòng quanh phố
Để cảm hồn theo buổi chuyền mùa
Vẫn đấy hồ Gươm ngăn ngắt liễu
Hồ Tây vẫn sóng dập duềnh sương
Lim dim hàng sấu lơ mơ ngủ
Hoa sữa u trầm lẳng lặng hương
Vẫn đấy gió mùa đông bắc thổi
Thoảng về hương cốm những thu xưa
Vần thơ hoài cổ còn đâu đó
Theo nhịp ca trù sênh phách xưa
Vẫn đấy muôn xưa hồn phố thị
Quanh quẩn chưa tròn năm cửa ô
Khuya đã bao giờ không để ý
Trăng xế về ngang phía Tây Hồ
Em ạ, ta qua bao ngõ mới
Thành xưa phố cổ vẫn rêu phong
Chân đang đi giữa lòng Hà Nội
Mà hồn vời vợi nhớ Thăng Long.
10- SAY Ở QUY NHƠN
Rượu bao nhiêu độ đều chê nhạt
Đòi quán đi tìm thứ mạnh hơn
Đốt cháy ruột gan ngồi với bạn
Say rượu say người say Quy Nhơn
Ta say không biết về đâu nữa
Quanh quẩn thi gan với nắng trời
Ra eo Nín Thở phanh ngực thở
Cái gió hào hoa của biển khơi
Dường như biển cũng say Bàu Đá (*)
Chếnh choáng duềnh lên sóng ngã nghiêng
Dường như sóng cũng say lơi lả
Chấp chới chồm lên níu đất liền
Muốn lên ghềnh đá nằm nghe sóng
Như Hàn Mặc Tử ngủ quên đời
Muốn ra ngoài đảo làm đèn biển
Để thức ngàn năm với đất trời
Nay mai ta lại về với núi
Đứng làm tượng đá ở sườn non
Ngóng về phía biển xa vời vợi
Nhớ người nhớ rượu nhớ Quy Nhơn.
11- THĂM MỘ HÀN MẶC TỬ
“Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng”
(Hàn Mặc Tử)
Anh nằm đây với trăng sao
Ngoài kia đất rộng trời cao cuộc đời
Sóng miên man vỗ vô hồi
Ngàn năm còn động những lời thơ đau
Anh nằm tưởng vọng ngàn sau
Nhân gian lắng tiếng kinh cầu dưới kia
Hồn anh xanh ánh sao khuya
Trăm năm một cuộc sầu chia nhân tình
Đất trời vẫn cõi lặng thinh
Vô ngôn tự thuở tượng hình nỗi đau
Nguồn thơ run rẩy máu trào
Oà theo lệ vỡ chạm vào hư vô
Đất ru anh ngủ dưới mồ
Sao và sương và trăng mờ lặng soi
Thơ anh không viết bằng lời
Là hồn đau gửi cõi người thiên thu.
12- GỬI TÔN NỮ
Thấp thoáng Hương Giang dáng liễu thon
Thoáng mây Thành Nội mắt buồn vương
Thoáng thôi một chút chuông Thiên Mụ
Dìu dặt hoà trong tiếng nói trong
Xa lắc kinh kỳ một xóm quê
Nhớ thôn Vỹ Dạ lối đi về
Thơ Hàn Mặc Tử còn bay thấu
Nét đẹp sau rèm lá trúc che
Tưởng tiếc gì em bóng một thời
Vần thơ hoài niệm gửi xa xôi
Ơi em dáng nhỏ hồn Đông Á
Tôn Nữ, lòng anh đã Huế rồi.
13- NGHE HÁT CA TRÙ
Ở BÍCH CÂU ĐẠO QUÁN
*Tặng nghệ sĩ Bạch Vân
Em bước ra từ siêu thực tranh
Mang theo câu hát điệu chòng chành
Phách sênh nhịp gõ vào hư ảo
Hư ảo kìa em huyễn hoặc anh
Em Giáng Kiều xưa, anh Tú Uyên
Bích Câu đâu phải chuyện hư truyền (*)
Ở đây hương khói và sương khói
Em giáng trần hay anh nhớ tiên
Phách nhạc dìu thơ phút lạc thần
Muôn đời tài tử với giai nhân
Điệu ca huyễn ảo như mây trắng
Nhuộm trắng hồn anh đoá bạch vân!
14- VIẾT TRƯỚC MÙA XUÂN
Bài thơ kịp viết trước mùa xuân
Có nắng hồng mai ấm lại dần
Có trái vườn thơm đang chín tới
Có tiếng chim xa hót vọng gần
Bài thơ kịp viết trước mùa xuân
Hoa đẹp chờ tay em bón chăm
Mộng đẹp chờ em bên gối mỏng
Gương lược chờ em sắp điểm trang
Bài thơ kịp viết trước mùa xuân
Niềm vui đứng đợi ở ngoài sân
Nỗi buồn cũng ngóng anh trước ngõ
Anh vững bàn tay mạnh gót chân
Bài thơ kịp viết trước mùa xuân
Náo nức nhiều khi lạc cả vần
Cũng bởi hoa tươi và em đẹp
Bởi đời đang tới bởi… vân vân…
15- NHỚ CHUYỆN CỔ
Ngày xửa ngày xưa… Bao chuyện hay
Nghe bà kể suốt tuổi thơ ngây
Thời còn dễ gặp Tiên và Bụt
Cái thuở Trời còn ở thẳng ngay
… Ôi, nhớ mà thương nàng Cúc Hoa
Ghét con Tào Thị quá chua mgoa
Thạch Sanh bị hại vì… chân thật
Thằng Lý Thông kia trời đâu tha
Ôi, nhớ mà thương chàng Trương Chi
Lệ tình để vỡ chén lưu ly
Còn như Vạn Lịch buồn đau quá
Oan trái tình duyên phải giải thề
Ôi, nhớ mà thương dạ thuỷ chung
Đá nàng Tô Thị mãi chờ trông
Mẹ con con Cám rồi thê thảm
Cô Tấm về sau lấy được chồng
… Bà mất lâu rồi con lớn lên
Hội đời con lỡ bước chân chen
Những mong Bụt hiện mà không hiện
Ước gặp bà Tiên chẳng thấy tiên
Thế đấy bà ơi, những chuyện xưa
Một thời thơ dại hóng say sưa
Đời nay không giống như bà kể
Vẫn đẹp hồn con mãi đến giờ.
16- TỨ TUYỆT KHÔNG ĐỀ
1.
Đời có ba cái khổ
Nghèo bệnh và cô đơn
Nghèo bệnh không đáng sợ
Cô đơn mới thật buồn.
2.
Số mệnh như dòng sông
Người vẫy vùng như cá
Người cũng giống như cá
Đâu để cuốn xuôi dòng.
3.
- Đời này không tốt được!
Cứ thế lắm người than
Tôi nghĩ sẽ tốt được
Nếu con người bớt than!
4.
- Con Người, hãy cảnh giác!
- Con Người, niềm tự hào!
Goóc-ki và Phu-xích
Đâu có gì khác nhau.
17- RƯỢU NÚI
*Tặng Dương Khâu Luông
Rượu ngô còn gọi là rượu núi
Bởi người miền núi có rượu ngô
Thương bạn mang từ quê Việt Bắc
Về đãi bạn bè giữa Thủ đô
Rượu này mẹ ủ bằng men lá
Em gái chưng từ nước suối trong
Ngô của cha gieo trên núi đá
Ta uống mà nghe ấm cả lòng
Một ly nghe nồng nồng vị núi
Hai ly nghe hăng hắc hương rừng
Ba ly nghe ngọt lừng nước suối
Bốn năm ly chuyện đã tưng bừng
Say rồi vẫn nhớ lời bạn nói
Rằng “Rạc mạy tẩn rạc cần rì”(*)
Đúng thôi bạn ạ, người miền núi
Tình như rượu vậy cứ tràn ly.
(*) Tục ngữ Tày: “Rễ cây ngắn, rễ người dài”!
18- VU VƠ KINH BẮC
Tôi về qua Báng qua Lim
Mê câu quan họ đi tìm thăm nhau
Muộn rồi hội chẳng còn đâu
Lang thang ra dạo sông Cầu sông Thương
Lại về đứng bến Tiêu Tương
Nhớ Trương Chi với Mỵ Nương thuở nào
Cũng say điệu hát câu chào
Mà ra chén vỡ lệ trào khóc duyên
Người ta đến hẹn thì lên
Tôi không hẹn cũng về miền dân ca
Một mình ngồi gốc cây đa
Chẳng nghe ai hát ới a đừng về
Ơi câu quan họ tôi mê
Ơi người quan họ chưa hề kết giao
Tội tình chi tận non cao
Lại ra xứ Bắc khát khao tôi tìm…
19- THĂM NGUYỄN BÍNH
“Hoa chanh nở giữa vườn chanh…”
Cũng cùng một giống chân quê
Nay tôi lận đận tìm về thăm anh
Hoa chanh vẫn nở vườn chanh
Mà người còn mải độc hành những đâu
Vườn hoang nhà vắng trước sau
Cô đơn một nấm mộ sầu cỏ che
Xác xao lá rụng quanh hè
Nghe như dấu bước người về bên sân
Đã đành vướng nghiệp thi nhân
Tài hoa kia với phong trần phải mang
Đa tình thì hẳn đa đoan
Đến cho nát đá phai vàng mới thôi
Lãng du khắp đất cùng trời
Trầm luân bạc cả phận người tài danh
Bước chân cuối cuộc, thôi đành
Hoa chanh về lại vườn chanh mà nằm!
20- VIẾNG MỘ TÚ XƯƠNG
Và nay con được về quê cụ
Thăm lại Thành Nam của cụ xưa
Những trò bát nháo trăm năm cũ
Không biết bây giờ đã bớt chưa
Người ta mộ táng nơi thanh vắng
Riêng cụ nằm đây chốn phồn hoa (*)
Hẳn nỗi đau đời còn sâu nặng
Đành chưa lánh được cõi Người ta
Cụ nằm đây lắng nghe phường phố
Tất tả bon chen những sớm chiều
Những người và ngợm trò nhăng nhố
Láo nháo chung trong một chiếu chèo
Thì thôi cụ ạ, yên mà nghỉ
Hết kiếp là xong một phận người
Trăm năm hoặc dẫu ngàn năm nữa
Cũng bấy nhiêu thôi, chuyện khóc cười.
(*) Mộ Tú Xương ở giữa lòng thành phố Nam Định.
21- “ĐƯỢC”!
“Đến khi ốm nặng, ông - tức Nguyễn Du –
không chịu uống thuốc. Bảo người nhà sờ tay
chân, họ nói đã lạnh rồi, ông nói“Được!”
rồi mất, không trối lại một lời”.
(Đại Nam chính biên liệt truyện)
Được!
Nghĩa là Nhà thơ
Đã thanh thản nỗi lòng đau đáu
Sau khi vắt kiệt mình trên bản thảo
“Cảo thơm lần giở trước đèn”
Được!
Nghĩa là Triết nhân
Bình thản gửi trả mọi chức danh
Cái thứ đã làm đầu sớm bạc
Được!
Nghĩa là Thiền sư
Giờ tĩnh tâm soi lại
Vằng vặc cõi không tâm thức
Sau khi ngâm khúc “Đoạn trường”
Được!
Nghĩa là Đạo sĩ
An nhiên sau bước tiêu dao
Vẫy chào mây trắng
Được!
Nghĩa là Con người
Đã hoàn tất sự hiện hữu của mình
Hoá thân vào Thập loại
Phủi tay, giã từ…
22- ĐA TÌNH
Vâng, thì tôi kẻ đa tình
Dở hay thôi cũng trời sinh vậy mà
Làm sao trong cõi người ta
Mà không yêu đến thiết tha hết mình
Mẹ cha cho cái xác hình
Trời thương cho cái tính tình thế thôi
Tôi si mê hết mọi người
Và yêu thương cả cuộc đời đáng yêu
Kiếp người sống có bao nhiêu
Sớm mai đấy đã xế chiều rồi đây
Trái tim còn đập một ngày
Tôi còn yêu đến phút giây cuối cùng
Và em cô gái thuỷ chung
Yêu tôi em có ngại ngùng nữa thôi
Hồn thơ gửi trọn thơ rồi
Xin đừng giận trách rằng tôi đa tình.
23- PHÙ SA
Những buồn vui ấm lạnh của cuộc đời
Là phù sa bồi đắp bãi-bờ-tôi
Tôi cắm rễ chính trong màu mỡ ấy
Để vươn cao cành trổ trái-hoa-người
Tôi đã đói đến rã rời cơn đói
Tôi đã say đến mê muội cơn say
Tôi đã khổ đến tận cùng nỗi khổ
Và đã đau điên dại nỗi đau dài
Nhưng đời vẫn vỗ về tôi tiếp tục
Sống yên bình như một điệu dân ca
Vui hạnh phúc, buồn cũng là hạnh phúc
Cám ơn đời tôi hiểu ấy phù sa.
24- VINH DANH HUYỀN THOẠI
Ôi, tuyệt vời ông thánh tổ A-đam
Khi nghe lời Ê-va ăn trái cấm
“Tội tổ tông truyền” tôi xin lãnh nhận
Bởi tình yêu từ đó hoá nhiệm màu
Bởi con người từ đó biết yêu nhau
Và thượng đế mất quyền thiêng phép tắc
Và nhân loại chiếm riêng niềm bí mật
Tự sinh sôi cho cõi đất tươi hồng
Tôi hân hoan đón nhận “tội tổ tông”
Cái huyền thoại diệu kỳ là thế đấy
Dẫu địa ngục hay địa đàng cũng vậy
Chỉ địa cầu ta mới biết yêu nhau.
25- RU HOA QUỲNH
Ru ơi thức nhé hoa quỳnh
Khuya đang dần vắng lặng thinh đất trời
Ngồi đây anh lánh cuộc đời
Lánh bon chen lánh cõi người đợi em
Ru hời thức dậy hương đêm
Ngoài kia dường đã ướt mềm sương khuya
Hồn anh trăm mối sầu chia
Chờ em anh thức bên rìa nhân gian
Biết rằng em kiếp hồng nhan
Chịu làm sao nổi đa đoan nỗi đời
Biết rằng anh bạc phận người
Buồn chẳng khóc vui không cười được đâu
Ru em này khúc Phượng cầu
Chờ em trăng xế ngang lầu Tây hiên
Mở lòng em nhé trinh nguyên
Mai em lại khép niềm riêng một đời.
26- GỬI CHIẾC XƯƠNG SƯỜN NHỎ
Hỡi chiếc xương sườn nhỏ của tôi ơi
Xin em lấp đầy giùm tôi ngực trống
Bởi xưa kia Chúa ưu ái con người
Đã rút bớt để làm nên cõi sống
Em yêu hỡi chiếc xương sườn bé bỏng
Chúa vì tôi mà tạo dựng em thêm
Tôi vì em mà phạm vào tội trọng
Để giờ còn hình phạt mãi theo em
Em lúc đó nếu đừng ăn trái cấm
Đừng để lòng cám dỗ bởi giam tham
Đừng lén Chúa lừa tôi tin lũ rắn
Thì có đâu về sống cõi nhân gian
Em đã lỡ trách gì em cũng lỡ
Cám ơn em đã khéo chọn lỗi lầm
Bởi không thế làm sao tôi biết có
Một tình yêu cùng tuyệt ở dương trần
Chúa nhân đức vinh danh ngài cả sáng
Nếu lẽ gì khiến hai đứa xa nhau
Xin tội nghiệp những linh hồn vắng bạn
Thân xác nào lìa thân xác không đau
Và em hỡi chiếc xương sườn tội lỗi
Đã vì tôi chối bỏ cả thiên thần
Nếu lần nữa vì em mà phạm tội
Tôi cũng xin lầm lỗi đến muôn lần!
27- TỨ TUYỆT TÌNH YÊU
1.
Đâu phải anh yêu em
Vì môi son má phấn
Ai cũng yêu cô Tấm
Đâu phải từ phấn son.
2.
Em đẹp tốt giỏi hiền
Như một bài tứ tuyệt
Dẫu nghìn bản trường thiên
Cũng không sao nói hết.
3.
Em như… kẻ gian phi
Rình nhà anh mỗi tối
Anh mê ngủ đâu hay
Lẻn trong mơ em tới!
4.
Đã yêu nhau tha thiết
Đâu cần chi nói hoài
Tặng em bài tứ tuyệt
Anh e cũng quá dài.
28- TÌNH YÊU
Tình yêu có tự bao giờ
- Sao em cắc cớ giả vờ hỏi tôi
Tình yêu có tự lâu rồi
Có từ cái thuở cái thời… rất xa
Lâu rồi anh chẳng nhớ ra
Từ ông bà đến mẹ cha đến… mình
Thôi em đừng khéo vô tình
Em đừng hỏi nữa, chúng mình… đang yêu!
29- KHÚC ĐƯA NGƯỜI
Đưa người về buổi học chiều
Mây bay cũng có ít nhiều xót xa
Đưa người bóng nhỏ lòng ta
Xòe muôn cánh phượng giăng hoa ven đường
Đưa người bóng nhớ bóng thương
Biết mai sau bóng nào vương vấn đời
Đưa người bước nhỏ chia đôi
Cho đường chậm với tình tôi thật thà
Đưa người không đưa đường xa
Lỡ mai đời khuất mất ta mất người.
30- THƠ TÌNH TUỔI BA MƯƠI
Em yêu dấu, anh phải nói thật lòng và nói ngay rằng: anh yêu em.
Anh yêu em như điều không thể khác bởi tuổi đời anh đã quá ba mươi.
Ơi tuổi ba mươi, anh không còn là chú bé lên mười ngây ngô ngờ
nghệch cũng không là chàng trai trẻ đôi mươi khờ khạo vụng về
càng chưa phải là gã đàn ông bốn năm mươi để tâm hồn đang
dần dà lão hoá.
Anh sẽ kể em nghe những chuyện rất thật lòng và cũng rất đau lòng khi
buột lòng anh phải kể - chuyện đời anh như thể khúc thơ buồn.
Hôm qua chạy một cú mánh mung kiếm được mươi “ghim” anh nhét sâu
vào túi áo nghe ấm một vùng ngực trái trái tim anh. Anh yêu em.
Hôm qua vào quán rượu uống say nổi máu yêng hùng gây sự đánh nhau
anh đấm thẳng vào giữa mặt một thằng láu cá bởi ghét đắng
ghét cay cái thói hợm mình xấc láo. Anh yêu em.
Hôm qua trong cơn ác mộng anh thấy em biến thành mụ già độc ác xấu
xa hằn học nhìn anh bằng ánh nhìn man rợ anh tuyệt vọng kinh
hoàng hét một tiếng thật to và choàng tỉnh dậy. Anh yêu em.
Hôm qua trằn trọc mãi đến khuya không ngủ được bắt chợp tứ thơ
trở dậy chong đèn định viết bỗng trước mắt anh tờ giấy trắng tinh
khôi cứ trắng bệch dần ra rồi nhập nhoà nhập nhoà ảo ảnh, tờ
giấy trắng loang dần rồi phủ cuốn lấy anh, anh điếng lặng ngồi
yên đành giấu kín bao nhiêu niềm trăn trở. Anh yêu em.
Hỡi em yêu, như em từng biết đấy, anh đã viết cho em những dòng thơ
tình ngọt ngào bay bổng cũng có khi viết những lời thơ hằn học sự
đời mà một đời anh vẫn chưa sống hết những bài thơ mình đã viết.
Anh yêu em như đã từng yêu lẽ sống cuộc đời.
Có sớm lắm không hay đã quá muộn mằn khi anh viết bài thơ tình
giữa những tuổi ba mươi để chỉ nói một điều duy nhất rằng anh
yêu em dẫu cuộc đời anh đã từng lắng trầm bao nắng mưa giông
bão và chuyện áo cơm như một điệp khúc buồn.
Anh yêu em, anh yêu em, anh sẽ đọc mỗi ngày như lời kinh nhật tụng.
31- THƠ TÌNH TUỔI BỐN MƯƠI
Không còn trẻ cũng chưa già
Là tôi cánh bướm la đà nhân gian
Bốn mươi đâu đã trễ tràng
Yêu em rằng dẫu muộn màng hề chi
Đường dài vô định tôi đi
Trăm năm một cái chớp mi em buồn
Tôi tung hê cả linh hồn
Biết đâu chớp bể mưa nguồn mà hay
Rượu nồng uống cạn cho say
Uống đêm ngọt đắng uống ngày đục trong
Cuộc vui ngấn lệ lưng tròng
Mà cười như mếu mà lòng bể dâu
Tặng em này trái tim đau
Bài thơ anh viết nghìn câu không lời
Cám ơn em cám ơn đời
Rủ lòng thương tuổi bốn mươi vụng về.
32- THƠ TẶNG NGƯỜI HỌ LỮ
Em nhỏ nhắn giữa xô bồ cuộc sống
Em chơ vơ giữa gió bão đường đời
Em ốm yếu làm sao em chèo chống
Giữa vô cùng sóng vỗ của trùng khơi
Anh lem lấm một đời anh bụi bặm
Nắng và mưa vỗ rát mặt phong trần
Anh khinh bạt bước bên đời kiêu mạn
Xem vui buồn như thể mộng phù vân
Trong nghiệt ngã xui tình ta gặp gỡ
Anh gió sương em chân yếu tay mềm
Anh thương em như tình em gái nhỏ
Để đôi hồn san sẻ nỗi niềm riêng
Thì hãy gắng em ơi đời vẫn đẹp
Anh từng quên số phận của đời mình
Em rồi sẽ bước qua khung cửa hẹp
Đêm dài nào chẳng đổi một bình minh
Ta lữ khách ngang đời nhau một bận
Kiếp ngựa thồ anh chưa hết long đong
Em gái nhỏ thương em còn lận đận
Tình anh đây thơ cũng đẹp như lòng.
33- GỬI NGƯỜI ĐÀN BÀ BUỒN
*Tặng chị Thu Nguyệt
Chị tôi là… chị của tôi
Nghĩa là bạn, nghĩa là người… người dưng
Nhưng tôi thương chị vô cùng
Như là kiếp trước đã từng thương nhau
Chị tôi có một niềm đau
Có nhiều nỗi tiếc giấu sâu giữa đời
Có chồng mà chị đơn côi
Chị tôi buồn chị tôi vui một mình
Chị tôi nhân hậu ân tình
Tấm lòng tròn trặn như vành trăng thu
Cầm bằng kiếp trước vụng tu
Mà nay đời chị coi như lỡ làng
Lòng người vốn bể đa đoan
Chị làm sao lượng đâu vàng đâu thau
Đã đành chẳng đặng giếng sâu
Chị ngồi tiếc mãi dây gầu được không.(*)
(*) Ca dao: “Tưởng giếng sâu ta nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn ta tiếc hoài sợi dây”.
34- NHỚ
Anh nhớ em âm thầm mà nóng bỏng
Nửa muốn dạo vòng nửa lại ngồi yên
Giống như kẻ đi thuyền trên biển sóng
Đứng chỗ nào cũng cứ thấy chao nghiêng.
35- HỒI TƯỞNG
Trong quạnh vắng khuya nay tôi chợt nhớ
Tháng ngày xưa xa hút hiện nguyên hình
Thuở tuổi đời thơm vẹn mộng băng trinh
Hồn tôi đó như gương vừa mới tráng
Em mười sáu hay tôi vừa mười tám
Mắt em buồn xa vắng quá hồn tôi
Tóc em dài bay rối cả thơ tôi
Thơ tôi đó trả lời em thư mỏng
Thơ tôi đó của những đêm trường mộng
Của đam mê rạo rực buổi ban đầu
Thuở nghe hồn tan theo mộng qua mau
Thuở yếu đuối tưởng như mình sắp khóc
Trong những chiều riêng một mình cô độc
Ôm nỗi buồn thầm kín rất xa xôi
Ôi, còn đâu ngày tháng cũ bay rồi
Trong ký ức khuya nay tôi bắt gặp
Màu dĩ vãng buồn vương lên mái tóc
Tóc em xưa buồn đọng xuống vai gầy
Hỏi ai người ru tóc rối em bay
Ai lặng ngắm mắt em buồn xa ngái
Ai rạo rực khi nhìn cành hoa dại
Em vu vơ vò nát ở trong tay
Giữa sân trường em đứng ngóng mây bay
Chiều tan học riêng mình em về muộn
Tôi chờ đợi… (và sao giàu tưởng tượng)
Bước chân em khe khẽ buổi hẹn hò
Lời đầu tiên còn quá đỗi đắn đo
Em e ngại và tôi thì ngượng ngập
Cánh thư đầu trao qua tay e ấp
Tưởng như vừa thoáng nhẹ một giấc mơ
Tình học trò tôi chép lại thành thơ
Trên giấy trắng như tình em áo trắng
Là từ đó một hồn tôi xa vắng
Là một đời thương nhớ quá xa xôi
Em bây giờ có lẽ đã quên tôi
Tôi bây giờ còn nghe lại bồi hồi
Ngày tháng cũ chìm sâu về quên lãng
Em đã ở bên kia bờ dĩ vãng
Tôi thì xa mù mịt nhánh sông đời
Còn một đời để thương nhớ xa xôi…
36- TIẾNG VE
Ngủ quên trong ký ức
Rất xa xưa mùa hè
Không dưng hồn chợt thức
Ngân đầy trời tiếng ve
Nhớ ngày xưa chú bé
Tuổi mười lăm học trò
Giữa trưa vàng lặng lẽ
Ngồi mơ màng làm thơ
Bài thơ ngày ấy không còn nhớ
Chỉ tiếng ve ngân của một thời
Hồn thơ ngày ấy không còn nữa
Chỉ tiếng ve khan đến rã rời.
37- BUỔI MAI THANH THẢN
Lâu ngày được buổi mai thanh thản
Cứ lơ ngơ như đứa lạc đường
Vào ra như một thằng ngớ ngẩn
Không biết làm chi để đỡ buồn
Cuộc sống lâu rồi quen tất bật
Và cũng lâu rồi quên thảnh thơi
Thấy mình sao giống con lật đật
Sấp ngửa loay hoay mãi với đời
Không dưng… được buổi mai thanh thản
Chẳng biết làm chi để hết giờ
Vụng về đâu biết thời gian ngắn
Thoắt cái, qua rồi, tiếc ngẩn ngơ.
38- Ở BIỂN
Gọi tên em thật trầm
Vào giữa chiều biển động
Về nghe lại phúc âm
Vọng ngàn năm tiếng sóng.
39- THĂM BẠN Ở TÂY SƠN
*Gửi Trần Viết Dũng
Lâu ngày ta ghé bạn
Mừng hơn là tình nhân
Ừ, mà hơn cũng phải
Đời gì hơn tình thân
Bạn lớ ngớ lơ ngơ
Ta lờ đờ lận đận
Hai đứa rất là… thơ
Thơ lỡ vần lỡ vận
Ta hỏi chuyện văn chương
Bạn than không viết nổi
Bởi không khó gì hơn
Bắt lòng mình giả dối
Hỏi thăm nhau bè bạn
Đứa góc biển chân trời
Áo cơm xui tứ tán
Cuốn trôi theo dòng đời
Chuyện xoay sang thời thế
Bạn nhắc ta vừa vừa
Bởi ta quen nói lớn
Những điều “trời” không ưa
Ta đi bạn theo tiễn
Cố chậm bước chân mau
Cầm tay ta bạn dặn
Nhớ nhau tìm thăm nhau.
40- NHỮNG NGÀY Ở KON TUM
Những ngày ở Kon Tum
Chân rong mòn phố núi
Đời như nắng bụi lầm
Hồn như mưa lầy lội
Con hẻm dài lạnh căm
Những khuya về tăm tối
Ôi, ngày ta gió nổi
Giữa mang mang cõi người
Nhìn dốc đời leo ngược
Ngác ngơ hồn đôi mươi
Ôi, ngày tháng rong chơi
Ta thấy mình lạ mặt
Với chính ta trong đời
Ta giữa dòng cuộc sống
Tên tội tù chung thân
Đời sống đã như chông
Dưới chân ta tua tủa
Đời sống đã như gươm
Quanh mình ta vây bủa
Rình đâm lén sau lưng
Nên hồn ta máu ứa
Ôi, ngày tháng rong chơi
Trong tận cùng trí nhớ
Ta thấy em xa vời
Em mặc áo lụa vàng
Ta thương hoài áo trắng
Chiều xưa em tan trường
Đứng chờ nhau lối vắng
Ta giấu hồn thảm thương
Giấu luôn đời bão cuốn
Để yêu em thật lòng
(Mang một đời giông bão
Ta đi vào tình em
Bằng vòng tay cuồng bạo
Và môi khô khát thèm)
Ôi, ngày tháng rong chơi
Ta thấy mình rõ nhất
Thấy ta cần yêu em
Bằng tình yêu thật ngọt
Để quên bao muộn phiền
Thấy ta cần phải sống
Cho hết thời thanh niên
Thấy còn dư ảo mộng
Để ru mình lãng quên
Ôi, đời sống và em
Đủ hành ta thấm mệt
Ôi, đời sống và em
Bài thơ không muốn viết.
tavansy | 25 November, 2011 09:46
(Nxb Văn hóa Thông tin 1997 với tên “Những câu thơ mặt đất”, 38 bài; nxb Quân đội nhân dân 2002 đổi tên “Mặt đất” 40 bài; nxb Đà Nẵng 2007 tái bản).
*Lời thưa: Lâu, không có bài viết mới, nhớ lời bạn bè bảo đưa thơ vào blog để đọc lại, vì sách in không tìm đâu ra. Để “điền vào chỗ trống”, xin đưa lên đây tập thơ thứ nhất. Các tập sau sẽ tiếp tục đưa thêm.
1- CÓ MỘT NỖI BUỒN
Hồn tôi như địa chất
Tầng tầng trầm tích xưa
Suốt đời tôi khai quật
Tìm nỗi buồn ban sơ.
2- NHỮNG CÂU THƠ MẶT ĐẤT
Nhỏ nhoi quả địa cầu
Mà mênh mông mặt đất
Ta quên lãng hằng ngày ta phá phách
Đất lặng thầm như mẹ rất bao dung
Dẫu bay lên vũ trụ vô cùng
Cũng từ mặt đất này làm bệ phóng
Ta cố đứng cố vươn cao nhưng bóng
Vẫn ngả về đất tựa chốn nương thân
Không thể nào có được nỗi an tâm
Khi cất mình chơi vơi khỏi đất
Hãy cứ giản đơn là bụi cát
Trước khi mơ làm ánh sáng mặt trời
Mai kia tôi có xa đời
Ầu ơ… Đất lại ru tôi vào lòng!
3- THI SĨ
Đã lắm ví von
Về anh: Thi sĩ
Nào là ong hút nhuỵ
Làm nên mật ngọt cho đời
Nào là chim ngứa cổ hót chơi
Như chàng tài tử
Nào là giữa rừng ngôn ngữ
Anh như phù thuỷ phép phù…
Tôi chỉ thấy anh như
Tên ăn mày khốn khổ
Gom góp của đời làm vốn liếng riêng tư
Nên suốt kiếp anh mang công mắc nợ
Phải trả của vay bằng lãi suất ngôn từ!
4- KÍNH TẶNG MỘT NHÀ THƠ
Những câu thơ không nuôi sống nổi ông
Cũng chẳng làm ông thêm vinh thân và địa vị
Người đời quý tấm lòng thi sĩ
Gọi ông là Nhà thơ
Ông sống giữa đời rất thực cứ như mơ
Nghĩ đơn giản mọi điều chân thiện mỹ…
Ông vẫn sống giữa hai chiều nghịch lý
Bởi ông là Nhà thơ!
5- GỬI CHÍ PHÈO
Ả Thị Nở vô danh
Nhờ anh mà nổi tiếng
Gã gian manh Bá Kiến
Nổi tiếng cũng vì anh
Thơm tho bát cháo hành
Với eo sèo mối nợ
Bá Kiến và Thị Nở
Hai nửa của đời anh
Giữa bát nháo dữ lành
Dẫu chửi trời chửi đất
Dẫu tự mình rạch mặt
Anh cũng không thành Người
Nhọn hoắt tiếng anh cười
Đùa bóng mình dưới đất
Chiếc bóng đời xiêu lạc
Anh đạp nhàu dưới chân
Phải giết đứa giả nhân
Để giữ mình lương thiện
Nhát dao lòng tự nguyện
Đâm ngược vào chính anh!
6- LÀM NGỰA CHO CON
Mời lên, chú nhóc của ba
Yên cương đã sẵn đường xa còn dài
Nào, ta cùng tiến: một, hai…
Con cười vui ba mệt nhoài chân bon
Đời ba đâu biết cúi lòn
Quỳ đây làm ngựa cho con vui đùa
Với đời ba trật đường đua
Với con, yên chí, ba chưa mỏi chồn
Tóc ba con giật làm bờm
Ngựa phi nước đại lồm chồm không nhanh
Nhà mình chật quá, thôi đành
Thả đều nước kiệu loanh quanh trong phòng
Lưng ba mưa nắng bẻ còng
Hề chi, con cứ vững lòng vui chơi
Mai kia con cứng chân đời
Nhớ ba - ngựa chứng một thời bất kham!
7- ĐỐI KHÚC ĐEN
1. Vẽ ngược hình ảnh đời sống lại
vẫn nhận được ra tôi
như sự thật
Soi nhìn vào tấm gương đen
tôi thấy mình trong ấy
một khuôn mặt rất quen
Chìm tận đáy cơn say
mới thấy mình rõ nhất
nỗi sầu không ai hay!
2. Và em, ôi em
tôi thấy em bên kia bờ ảo vọng
em vẫy bàn tay cánh chim non
dắt tôi qua bờ khổ hạnh
Và em, ôi em
tôi mơ thấy em trong từng cơn ác mộng
ôi, đêm đêm
những giấc mơ thảng thốt
sực tỉnh dậy bàng hoàng
Và em, ôi em
em cũng vời xa như mộng mị
tình yêu - những chiếc bóng màu đẹp mắt dễ vỡ
những cánh hoa nở và những cánh hoa tàn
trong mắt nhìn có chiều sâu ảo giác
3. Con người soi mãi tấm gương đen
kiếm tìm hoài chân dung mình không ra chỉ là bóng
Tôi sợ nhất khi ngồi đối bóng
đời vô tăm như gương vỡ bao giờ
Mảnh gương soi đen đã vỡ
tôi nhìn thấy tôi ngoài khung gương.
8- KHÔNG ĐỀ THỜI GIAN
***
Khởi đi từ vô thuỷ
Về tận cõi vô chung
Tôi sâu đo bé tí
Làm sao đo vô cùng.
***
Ai cũng tiếc mùa xuân sao quá ngắn
Hạ đã sang thu đến lại đông tàn
- Mọi khái niệm thời gian đều hữu hạn
Chỉ vô cùng khi tự nó - thời gian…
***
Mặt trời thì khép lại ngày
Mặt trăng khép tháng phút giây khép giờ
Con người khởi tự ấu thơ
Bước chân khép ở bến bờ thiên thu…
9- KHẲNG ĐỊNH
Mặt trời có thực
có người xác định thế
Mặt trời không bao giờ có thực
có người phủ định thế
Mặt trời mọc cho ai
có người giả định thế
Mặt trời không của riêng ai
có người nhận định thế
Mặt trời lặng im
vẫn mọc.
10- TRONG LẶNG LẼ
Cây lặng lẽ ra hoa
hoa đưa hương lặng lẽ
Thai nhi lớn dần trong bụng mẹ
và mẹ âm thầm lặng lẽ hoài thai
Chúng ta quen sống ồn ào tất bật hôm mai
quên để ý trái tim mình lặng lẽ.
11- Ý THỨC
Như mặt trời
rừng rực sáng chói
Thẳm sâu diệu vợi
như mặt trăng
Có lúc như sao băng
xẹt ngang bất chợt
Cái khối sáng vĩnh hằng
trong đầu ta – Ý thức!
12- NGHĨ VỀ HẠNH PHÚC
Người đàn bà luống tuổi sống cô đơn
Thèm tiếng khóc đòi của lũ trẻ con bên nhà hàng xóm
Người mẹ trẻ ôm con tháng ngày thầm lặng
thèm tiếng quát la của người chồng bên láng giềng…
Đôi khi điều bất bình yên
lại cần thiết để cân bằng hạnh phúc.
13- BẢN THẢO
Trang giấy trắng trắng trong vô tội
Chỉ những con chữ đen mới có vấn đề
Và ngòi bút cũng hoàn oàn không lỗi
Chỉ lương tri người viết tỉnh hay mê!
14- TỰ TẢ
***
Hồn ta đẹp thế này
Sao đời nhiều xảo trá
Không lẽ chỉ tìm say
Mới thấy mình cao cả?
***
Nhìn cơn say chóng mặt
Linh hồn như mây bay
Đời hốt nhiên lạ hoắc
Nỗi sầu không ai hay!
15- TỨ TUYỆT KHÔNG ĐỀ
***
Trời sinh cho đôi mắt
Đâu để tự nhìn mình
Nhưng người đời lạ thật
Cứ thấy mình trước tiên.
***
Nói được điều trung thực
Không dễ như nói đùa
Làm người dân chính trực
Khó hơn là làm vua.
***
Thường một tư tưởng lớn
Ít khi phải nói dài
Nhưng những điều nhỏ mọn
Lại thường bị nói dai.
***
Những điều bất khả luận
Thường hay được nói nhiều
Càng nói càng luẩn quẩn
Ví dụ như: tình yêu.
16- DỰ KHÚC ĐÊM
Buổi tối nằm gối cánh tay
Lắng nghe mạch máu đập ngoài nhịp tim
Nghe hai lá phổi im lìm
Phập phù hít thở nỗi niềm hư không
Nghe tan chầm chậm qua hồn
Niềm vui thuở trước nỗi buồn kiếp sau
Nghe phai dần tóc trên đầu
Và nghe đượm một niềm đau bất ngờ
Đêm đen như nỗi ngóng chờ
Ta thân gỗ mục đợi giờ hoá thân.
17- CUỐI NĂM
UỐNG RƯỢU VỚI EM TRAI
Giáp Tết một mình buồn nhớ rượu
Nghe gió tàn đông tạt nát lòng
Bỗng dưng các chú về đông đủ
Gầy cuộc rượu mừng chiều cuối năm
Nhớ xưa còn bé bên cha mẹ
Anh em thương nhau như chân tay
Lớn lên các chú đi trăm nẻo
Tết nhất mới về sum họp đây
Chú Ba mày lắm phen lận đận
Đến giờ chưa hết số long đong
Chú tình nghĩa thế mà nghèo thế
Thiên hạ đâu chỉ cần tấm lòng
Chú Tư may mắn bề danh phận
Có tí chức quyền cũng sướng thân
Chỉ khuyên chú nhớ câu oan trái
Cái công danh là cái nợ nần
Chú Năm mò mẫm đường ăn học
Có chí thì nên chú gắng thôi
Cố dăm ba chữ cho đỡ dốt
Đỡ phải ngây ngô trước lẽ đời
Còn anh tuổi đã vào “bất hoặc” (*)
Đâu còn nghi phận với ngờ danh
Biết chắc đời mình không thể khác
Rằng vui cũng được buồn cũng đành
Rượu ngấm tàng tàng anh kể lể
Chân tình các chú ngậm ngùi nghe
Ra Giêng các chú rồi đi hết
Anh đợi năm sau các chú về.
(*) Khổng Tử: “Tứ thập nhi bất hoặc”.
18. LỤC BÁT RU CON
.. Ơi à, con ngủ cho lâu
Ru con ba hát đôi câu thuộc lòng
À ơi, con ngủ cho nồng
Ru con ba hát lòng vòng đôi câu
Ba nào biết hát gì đâu
Chẳng qua cao giọng nghêu ngao bất ngờ
Một đời chỉ biết làm thơ
Làm sao tránh khỏi dại khờ hỡi con!
… Ơi à, con ngủ cho ngon
Mẹ còn đi vắng dỗi hờn ba chi
À ơi, con ngủ say đi
Thương con, ba chẳng biết gì ru thêm
Đời ba chân cứng đá mềm
Đã quen bể nổi dâu chìm, đã quen
Lạ gì giữa cuộc bon chen
Nào ba muốn sống đớn hèn cho cam
… Ơi à, con ngủ cho ngoan
Vụng về ba hát không làm con vui
À ơi, con ngủ cho muồi
Ru con, ba lại ngậm ngùi… ru ba!
19- TỰ BẠCH
Bấy nhiêu năm tôi ngó lại đời mình
Thấy một khoảng trống dài từng ấy tuổi
Hồn trai trẻ đã nghe chừng mệt mỏi
Tôi sợ mình bắt gặp nỗi già nua
Nỗi già nua ai thoát được bao giờ
Dòng tuổi tác cứ trôi về phía ấy
Dẫu nhắm mắt hay lắc đầu vẫn thấy
Cái niềm đau bất hạnh cứ xê gần
Tôi muốn ghì trong ngực máu thanh tân
Cho tim đập nhịp đời vui dào dạt
Và muốn giữ màu tươi trong ánh mắt
Với màu non ngan ngát ở trong hồn
Ôi, một đời cơ cực với áo cơm
Bao đau khổ, những muộn phiền, trăn trở…
Buồn có đấy nhưng mà hồn tôi đó
Em yêu ơi nâng nhẹ kẻo thơ buồn.
20- TRƯA NGHE RU CON
Tiếng trẻ ấm ức khóc
Giọng mẹ ru ngọt ngào
Ngàn năm hồn dân tộc
Đong đưa buồn ca dao.
21- TÔI YÊU ĐẤT NƯỚC TÔI
“Tổ quốc tôi như một con tàu”… (*)
“Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu”…(*)
“Đất nước hình tia chớp”… (*)
Vân vân…
Cảm ơn nhạc hoạ thơ văn
Ví von Tổ quốc muôn phần đẹp tươi
Tôi yêu đất nước của tôi
Yêu mũi thuyền vượt trùng khơi vững bền
Yêu tia chớp rạch đêm đen
Yêu tha thiết tiếng độc huyền ngân tơ…
Tôi yêu từ thuở ấu thơ
Tập quen vẽ bức dư đồ cong cong
Yêu đau đớn yêu xé lòng
Lom khom cái dáng lưng còng khổ đau!
Từ trong nắng giãi mưa dầu
Tôi mơ thấy những đẹp giàu ngày mai.
22- KHUYA NGHE ĐÀN BẦU
Nửa khuya nghe tiếng đàn bầu
Tiếng ngân lắng giữa thẳm sâu hồn người
Mà nghe xao động đất trời
Mà nghe âm vọng một thời xưa xa
Mà nghe thuở ấy ông cha
Đau thương vẫn nét tài hoa lạ lùng
Một dây mà đủ năm cung
Lắng trong tiếng láy vô cùng âm giai…
Tiếng đàn như tiếng lòng ai
Nguyện thề đá nát vàng phai với đời
Tiếng đàn như tiếng đưa nôi
Điệu ru của mẹ vọng lời quê hương
Tiếng đàn theo dấu yên cương
Hồn chinh phụ gửi sa trường người đi
Tiếng đàn ngọt giọng Trương Chi
Để thiên thu đẹp lâm ly chuyện tình
Tiếng đàn như có phép linh
Thạch Sanh chém mãng xà tinh cứu người…
Tiếng đàn - chỉ tiếng đàn thôi
Mà như lắng cả cuộc đời ở trong
Mà như đọng những tơ lòng
Mà âm vọng mãi mênh mông, tiếng đàn…
23- ĐÊM TRĂNG NHỚ KIỀU
Anh thương em “đứt ruột” Thuý Kiều ơi
Khuya thao thức cùng vầng trăng mất ngủ
Nhớ màu trăng thuở cũ
“Hiên tà bóng gác chênh chênh”…
Còn mãi đó cái đêm
Em thao thức cùng vầng trăng tình tự
Mười lăm tuổi em sầu thiếu nữ
Mơ chàng Kim lại mộng Đạm Tiên
Buổi trăng đầu số phận với tình duyên
Em cứ tự phân thân thành hai nửa
Còn bao vầng trăng nữa
Đã có giữa đời em…
Anh đâu thể nào quên
Đêm em đến cùng chàng Kim hò hẹn
Song song đôi lời ước nguyện
Có “vầng trăng vằng vặc giữa trời”…
Còn cái “vầng trăng ai xẻ làm đôi”
Thuở xa người riêng em lẻ bóng
Ôi, vầng trăng sầu mộng
Đeo đẳng đời em suốt cuộc đoạn trường
Đâu ai muốn đưa em đến bến Tiền Đường
Trò dâu bể khiến em đà đuối sức
Nhưng số phận không đành cam bất lực
Cái trẫm mình vực dậy kiếp người em
Chính cuộc đời là vãi Giác Duyên
Và dòng thơ là ông chài lưới
Vớt em, một linh hồn chết đuối
Trả em về với cuộc đời
Giữa tuổi ba mươi
Em lại sầu thiếu phụ
Lại đêm dài mất ngủ
Với những vầng trăng còn lại của đời em
Anh như chàng Kim đáy bể mò kim
Tìm gặp lại em xưa trong màu trăng thuở cũ
Khuya thao thức cùng vầng trăng mất ngủ
Anh thương em “đứt ruột” Thuý Kiều ơi…
24- TIỄN BẠN
Bạn đi, ừ, thì bạn sẽ đi
Không là từ giã không phân kỳ
Không như thơ cổ sầu lưu biệt
Không hờn không hận không chia ly
Người xưa tiễn những “khách qua sông”
Nay tiễn nhau đi chỉ đượm buồn
Không ngâm tống biệt không ly khách
Chén rượu nồng suông đủ ấm lòng
Bạn xa, ừ, chỉ đó và đây
Không câu phương nọ với phương này
Cầm tay nhau hẹn ngày gặp lại
Cụng chén cười vang ngất ngưởng say.
25- GIÃ BẠN
(Tưởng nhớ nhạc sĩ Ngọc Minh)
“Người ơi, người ở đừng về”…
Hát chi giã bạn bên lề cỏ non
Để ai sầu nhớ chon von
Để ai tượng đá héo hon ngóng tìm
Người về, vù một cánh chim
Tiếng ca rớt giữa im lìm cỏ hoa
Trăm năm chất ngất sầu ca
Nghìn năm thoáng bóng câu qua khuất ngàn
Người về nẻo ấy quan san
Bước chân lạc cõi trần gian hững hờ
Trăm nghìn cũng một câu thơ
Muôn thiên cũng một giấc mơ cát lầm
Khuya nay một bóng trăng rằm
Lẻ loi soi giữa lặng câm đất trời
Người về, tôi hát “người ơi”…
Tiếng ca lắng giữa tiếng đời buồn thương.
26- HOA VÀNG PLEI KU
Đưa nhau lên dốc hoa vàng
Màu hoa vàng đến ngỡ ngàng Plei Ku
Chiều hoang vắng khói hoang vu
Rừng hoang dã với sương mù hoang sơ
Ngỡ chừng đi lạc trong mơ
Rời tay, hai đứa chợt ngơ ngẩn buồn
Xa rồi một thuở mù sương
Người đi ngút một mùa hương chưa về
Hoa vàng vẫn nở tái tê
Chiều đông lạnh gió bốn bề dốc xa
Vô tình giữa chuyến xe qua
Mình tôi với một mùa hoa… rất vàng!
27- MỘT CHUT KON TUM
Bởi lần đầu em đến quê anh
Anh đưa em xem phố yên lành
Kon Tum nhỏ bởi lòng thung nhỏ
Chầm chậm thôi bước vội chi nhanh
Em thấy không phố bốn bề xanh
Rừng vây quanh núi cũng vây quanh
Đất vẫn xuôi mà sông chảy ngược
Con nước trôi về phía thác ghềnh (*)
Những con đường băng ngang lòng phố
Rồi loanh quanh đâm bổ ra rừng
Rừng và phố cách dăm dốc nhỏ
Nên thiên nhiên gần quá đỗi gần
Mới xuống dốc lại quành lên dốc
Đưa thăm xa thôi lại thăm gần
Chưa tròn buổi phố chừng muốn hết
Đã gì đâu mà em mỏi chân
Người ở đây tình người rất rộng
Như núi rừng trầm mặc ngàn năm
Mai tạm biệt em về phố lớn
Mang theo về một chút Kon Tum.
(*) Sông Đăk Bla chảy về hướng tây, ngang qua lòng thị xã Kon Tum, đổ vào thác Ya Ly.
28- SÂM THƯƠNG
“Có Hôm thì chẳng có Mai
Còn như sao Vượt nhớ ai giữa trời”
(Ca dao)
Ở đây nghìn thước cao hơn biển
Núi gió rừng mưa khuất dáng người
Phương em sóng vỗ ngày đêm vọng
Nỗi nhớ hai miền đất ngược xuôi
Ở đây mùa hạ mưa nhiều lắm
Mà ở phương em nắng chói chang
Ta cách hai đầu mưa với nắng
Cách đèo cho nỗi nhớ giăng ngang
Ở đây anh đổ dồn thương nhớ
Như suối nguồn xuôi một biển đông
Phương em từng lắng trong triều sóng
Có tiếng ru thầm những nhánh sông
Ở đây, ở đó – hai người ở
Anh một phương và em một phương
Có nhớ có mong đều mỗi nửa
Ta cách hai đầu như Sâm Thương.
29- SAY GIỮA ĐÊM XOANG
Lửa lên cho tiếng chiêng roòng
Em ơi vào hội cho tròn vòng xoang
Bước cao bước thấp ngỡ ngàng
Anh vừa say khướt mấy cang rượu cần
Em cười má ửng bồ quân
Mắt hoang dại thuở sơn thần còn ngai
Bàn tay tuốt lúa sần chai
Bàn chân dốc ngắn đèo dài đã quen
Mà sao… anh ngẩn ngơ nhìn
Vào xoang chỉ nét dịu mềm lạ ghê
Mời thêm cho khách đê mê
Đổ thêm nước suối vào ghè rượu ngon
Dài thêm hỡi nhịp chiêng ngân
Nối thêm người nữa cho tròn vòng quay
Em ơi cầm chặt bàn tay
Dìu anh em nhé, đêm nay quên về.
30- CẢM XÚC YA LY 1989
Chỉ toàn đá và đá
Trong mắt nhìn hoá thạch triệu nghìn năm
Bản trường ca hoá đá ở bên sông
Ngàn năm dội âm âm lòng vách núi
Tiếng đàn xưa không còn ai nhớ tuổi
Điệu ngân rung còn hoá đá bên triền
Bài hát nào em một thuở bỏ quên
Giờ hoá đá lênh đênh cùng tiếng thác
Màu thần thoại khói sương vờn ánh mắt
Tôi tìm em chiều hoá đá bên ghềnh…
31- MẸ
Mẹ bỏ quên thời con gái
Vì con chín tháng cưu mang
Mẹ trong cơn đau quằn quại
Sinh con mắt lệ vui tràn
Mẹ thơm thơm dòng sữa ngọt
Vắt từ mạch máu buồng tim
Nuôi con thuở dìu từng bước
Giờ con chân cứng đá mềm
Mẹ là bóng cha đọng lại
Một đời héo hắt chờ mong
Trong mắt mẹ buồn con thấy
Đời cha khổ luỵ long đong
Mẹ nguồn ca dao tục ngữ
Dạy con tiếng nói ông cha
Từ trong lời ru tình tự
Giờ con hiểu nghĩa quê nhà.
32- DÁNG MẸ THÂN CÒ
Ngày xưa mẹ hát ru ta
Cánh cò bay lả bay la ngoài đồng
Mẹ ru con thiếp giấc nồng
Cò bay trắng giấc mơ hồng tuổi thơ
Vẫn đồng ruộng ấy bây giờ
Mẹ còn lặn lội bãi bờ sớm trưa
Câu ca của tự ngàn xưa
Mà nay đời mẹ nắng mưa thân cò
Dẫu xa chín bến mười đò
Cũng không quên được câu hò mẹ ru
Nay về thăm mẹ, hình như
Dáng cò đâu đã gặp từ ca dao.
33- TẶNG VỢ
Trong phòng sinh em quằn quại cơn đau
Dẫu bồn chồn anh cũng không đau giùm em được
Ngoài phòng đợi anh điềm nhiên hút thuốc
Nghĩ sẵn câu thơ chuẩn bị làm quà
Những câu thơ không vật vã xót xa
Không đau đớn bằng em sinh nở
Thôi, gắng nghe em, ta sắp làm cha làm mẹ
Những nỗi đau đời anh hứa sẽ đau chung.
34- VIẾT CHO CON TRAI
Bà sinh cha bà đau thế nào
mẹ sinh con mẹ đau ra sao
cha
gã-đàn-ông-vô-tình
làm sao biết được
và con
hỡi chú-bé-trai-vô-tình
làm sao biết được
Cha con ta
những tên đàn-ông-con-trai-vô-tình
làm sao biết được ngọn nguồn
những cơn đau sinh nở
Nhưng
khi nhìn bà khổ
khi thấy mẹ buồn
cha
gã-đàn-ông-vô-tình
lại vô tình
đau như trở dạ.
34- TĨNH VẬT
Bó gối ngồi ngắm mãi chân dung em
sầu tĩnh vật
Buổi chiều lả tả rơi ngoài thềm
những mảng màu đậm nhạt
Bóng tối đùn lên
Tràn lan mặt đất
Ngày hoang vu
đầy căn gác chật
em hoang vu
thăm thẳm muộn phiền
Phát thảo chân dung em
ánh mắt buồn
mái tóc buồn
khuôn mặt buồn
lãng đãng
Ngày hoang vu
đầy căn gác chật
tôi hoang vu
trí tưởng phiêu bồng
Tĩnh vật chân dung em
ánh mắt hoang vu
mái tóc hoang vu
khuôn mặt hoang vu
trầm xa vắng
Buổi chiều lả tả rơi ngoài thềm
bóng tối đùn lên
tôi
đầy căn gác chật
bó gối ngồi ngắm mãi chân dung em
sầu tĩnh vật.
36- NÓI TRƯỚC MỘT TÌNH YÊU
Có một cuộc tình nào
Dở dang mà chả đẹp
Có lời nói yêu nào
Dối dang mà chả… thật
Hỡi nhỏ của tình ta
Hơn một lần em đã
Nói yêu ta thật thà
Ta tin chắc thế nào
Cũng một lần sẽ đến
Dẫu không lời hứa hẹn
Dẫu không điềm tiên tri
Em lúc đó ra đi
Khỏi đời ta thảng hoặc
Tay đưa lời vĩnh biệt
Mắt đưa lời chia ly
Ừ, em cứ ra đi
Khỏi tình ta như mộng
Nếu em cảm thấy cần
Phải xa nhau để sống
(Ừ, phải xa nhau thôi
Tình yêu nào không vậy)
Hỡi nhỏ của tình ta
Môi ngậm lời phản trắc
Mắt giam lòng điêu ngoa
Ta yêu em thật thà
Em yêu ta tráo trở
Hạnh phúc như loài hoa
Nên dễ dàng héo, úa
Hạnh phúc như cơn mơ
Nên dễ dàng tan, vỡ
Em cứ bỏ xa ta
Đi về nơi chốn khác
Em cứ lãng quên ta
Mơ một đời sống khác
Em cứ mặc tình ta
Một trời giông bão, khổ
Em rồi cũng như mây
Bay khỏi đời ta, mất
Em rồi cũng như hương
Xa khỏi hồn ta, nhạt
Ra khỏi tình ta, thôi!
37- GỬI ĐÀ LẠT
Một mình tôi giữa trời sương
Để nghe Đà Lạt thấm buồn qua vai
Tôi tìm ai tôi đợi ai
Mà hoa vàng cứ thoảng hoài hương thơm
Em mờ mờ như là sương
Tôi như thông đứng buồn buồn trong mưa
Về thôi dốc vắng đường thưa
Cám ơn Đà Lạt thấm vừa vai khuya.
38- PHỐ NÚI MƯA THU
Mùa thu rồi phố núi trời mưa
Anh chợt nhớ vô cùng em yêu dấu
Cây đứng buồn chim không về đậu
Anh đứng buồn nhớ lại dáng tình xưa
Mùa thu rồi phố núi trời mưa
Ôi, nhớ thuở trời “mưa chưa ướt áo”
Em áo trắng sân trường xưa một dạo
Bài thơ buồn anh viết có mưa bay
Tình yêu đầu khờ vụng quá đâu hay
Anh để mất từ khi thu vừa tới
Ánh mắt cứ ngóng tìm nhau vời vợi
Em xa vời để lại nỗi chia ly
Anh khởi đầu cho những chuyến ra đi
Âm vọng mãi lời ca buồn hư ảo
Mà tiếng hát còn vương mùi thạch thảo
Nghe bâng khuâng sương khói thuở xa người
Anh bây giờ chìm lạc giữa mưa đời
Hồn rét mướt nép hiên người gió tạt
Ôi, nhớ thuở trời “mưa chưa dứt hạt”
Để mưa trời giăng mãi suốt chiều nay
Mùa thu rồi phố núi có mưa bay...
39- GỬI SÂN TRƯỜNG XƯA
Có một lần tôi lỡ nói yêu em
Để xấu hổ suốt một thời trai trẻ
Em đành đoạn, sao mà… con gái thế
Để nỗi buồn từ đó cứ mang mang
Ta gặp nhau thu rợp bóng muồng vàng
Và chia biệt hè sang hoa phượng đỏ
Mười tám tuổi em đâu hay từ đó
Tôi khởi đầu lận đận của con trai
Tôi ra đi theo những chuyến đi dài
Biền biệt quá bài thơ buồn gửi lại
Sân trường cũ và em thời con gái
Mải ham vui ngày áo trắng trăng rằm
Mười tám năm tôi lại trở về thăm
Ổ, áo trắng các em hồn hậu quá
Những mắt thỏ mắt nai nhìn tôi xa lạ
Gã đàn ông râu tóc đứng bên đường
Sót giữa hồn lãng đãng một mùi hương
Tôi cúi xuống nhớ thương từng kỷ niệm
Em giờ chắc đã áo vàng áo tím
Nhớ gì không áo trắng phất phơ buồn.
40- THƠ TÌNH CHO NGƯỜI YÊU
Anh viết bài thơ tình cho em, em đừng trách sao chưa là bài thơ hay và đẹp nhất bởi mỗi bài thơ có riêng một niềm bí mật sẽ không ai đi tìm sự thật những vần thơ.
Em cứ yên tâm em cũng chớ nghi ngờ, anh chỉ đọc cho những vì sao khuya vào những đêm mất ngủ để thơ anh sẽ biến thành tinh tú sáng đêm đêm như một nỗi mong chờ.
Em cứ yên tâm em cũng chớ nghi ngờ, anh chỉ đọc cho mây trời lãng tử mây trời nghe và mang về viễn xứ để ngàn năm phiêu lãng những chân trời.
Bài thơ rất dài chỉ một tiếng “em ơi”, chỉ một tiếng “em ơi” thật lòng không thi vị, anh cũng chẳng cần dùng những ngôn từ hoa mỹ để cứ phải nói suông những triết lý cuộc đời.
Bài thơ rất dài chỉ một tiếng “em ơi”, anh chỉ có bài thơ tình nho nhỏ anh đã từng để quên trái tim mình ở đó đập nhịp thì thầm chỉ để em nghe.
Anh chẳng ra đi anh cũng chẳng quay về chỉ ở lại làm người canh giữ những bài thơ tình anh một đời ấp ủ, bài thơ rất dài chỉ một tiếng “em ơi”…
Tạ Văn Sỹ
tavansy | 29 October, 2011 05:37
Cao Xuân Thái “chấp bút”,
Phạm Doanh “nối điêu”,
Toàn trại góp ý,
Tạ Văn Sỹ “biên tập”!
*Lời thưa: Gần một tháng nay, đi Hội thảo Thơ ở Sầm Sơn – Thanh Hóa do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, rồi ra luôn Hà Nội chữa bệnh ở Viện 103, lại vòng lên hồ Đại Lải – Vĩnh Phúc tham gia Trại sáng tác do Hội Văn học nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức. Ở trại lại được “chỉ đạo” làm trại phó phụ trách việc theo dõi sáng tác của anh em để viết Tổng kết báo cáo vào ngày bế mạc, do vậy không có nhiều thời gian vào mạng. Nay đã xong mọi việc, chỉ chờ ngày bế mạc (31-10-2011) nên rảnh rỗi, ngồi “hiệu đính” lại toàn bộ bài “Trại ca” tếu táo phúng vịnh mọi người được anh em tin tưởng giao cho “biên tập”, cũng xin đưa lên đây các bạn ở xa đọc chơi vui.
Tháng Mười, Đại Lải “nổ” ra
Một Trại Sáng Tác thật là đông vui
Người Nam kẻ Bắc, ngược - xuôi
Như “chim” gặp “bướm” (!) như đời có nhau!
“Bày trò” để nhớ dài lâu
Thơ Cao Xuân Thái mở đầu Trại ca…
Phạm Doanh kho chuyện bao la
Bao lần kể bấy nhiêu “ca” gây… “ồn”!
Ngọc Diễn dí dỏm, ôn tồn
Tuổi cao, “cua bấy” vẫn còn muốn… “xơi”!
Kim Chung rất đỗi “yêu đời”
Gặp ai cũng “tặng” nụ cười hồn nhiên!
Lạ lùng thay bác Huỳnh Nguyên
Ra vào “lẩn thẩn” như quên cái gì!
Hữu Ninh vắng trại lắm khi
Tối thì… “bắt bóng”, ngày đi săn hình!
Ai muốn tìm bạn “tâm tình”
Xin gặp ngay bác Ma Đình tên Thu!
Nghề văn dẫu lắm công phu
Vẫn thương Xuân Mẫn viết như… “thợ cày”!
Chu Ngọc Phan chỉ mấy ngày
Thơ Đại Lải đã “phọt” ngay sáu bài!
Đố ai đoán được mới tài
Bác Lò Văn Chiến đang “thai nghén” gì?!
Tạ Sỹ “đen như Trương Chi”
Thế mà thơ cứ “mê ly” đàn bà!
Minh Sơn “lững khững, la cà”
Văn chương chẳng biết “phòi” ra khi nào!
Kim Dung“hoa hậu” đẹp sao
Hương hồi Xứ Lạng thơm vào văn thơ
Cao Bằng Nghĩa “giở” lắm “trò”
Sáo Mông, khèn Thái, lại “phò” đàn môi!
Bùi Nhị Lê chính là người
Đẻ Đất Đẻ Nước… “đẻ trời đẻ… mo”!
Nguyễn Quang “hai cục” sỏi to
Nó chặn thận lại chẳng cho… “đô xòn”!
Mường Khương còn rượu ngô ngon
Thì thơ Pờ Sảo Mìn còn… “nổ” vang!
“Đa tài” có bác Tuấn Giang
Nhạc ca, khảo luận… lại “quàng” luôn thơ!
Trại bao việc nhỏ chuyện to
A Lềnh trại trưởng đều “lo” hết … “dồi”...
… “Bôi hôi”, bổi hổi, bồi hồi
Nghĩ ngày tạm biệt, “nối lời” gửi trao:
-Trại ta rất đỗi “tự hào” (!)
Văn chương nghệ thuật, người nào cũng... “hăng”!
Bên hồ Đại Lải
(Những ngày cuối tháng 10 năm 2011)
tavansy | 29 October, 2011 05:17
*Lời thưa: Gần một tháng nay, đi Hội thảo Thơ ở Sầm Sơn – Thanh Hóa do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, rồi ra luôn Hà Nội chữa bệnh ở Viện 103, lại vòng lên hồ Đại Lải – Vĩnh Phúc tham gia Trại sáng tác do Hội Văn học nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức. Ở trại lại được “chỉ đạo” làm trại phó phụ trách việc theo dõi sáng tác của anh em để viết Tổng kết báo cáo vào ngày bế mạc, do vậy không có nhiều thời gian vào mạng. Nay đã xong mọi việc, chỉ chờ ngày bế mạc (31-10-2011) nên rảnh rỗi, đưa bài Tổng kết lên đây các bạn ở xa đọc chơi.
Những ngày cuối tháng Mười xứ Bắc, ánh trời mỗi chiều đã ngả sang màu vàng nhạt và mặt hồ sương Đại Lải cũng đã bắt đầu bốc hơi mờ ảo mỗi sớm mai. Cái nóng ấm của mùa hè chưa qua hẳn, cái rét đậm mùa đông cũng chưa lúc đến, khiến người phương xa về đây đều có cảm giác dễ chịu, thư thái.
Nói “Người phương xa về đây” là nói 22 gương mặt văn nghệ sĩ của Hội Văn học nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam tham gia trại sáng tác cuối năm 2011. Anh chị em thuộc các thành phần dân tộc: Mông, Thái, Mường, Pa Dí, Hoa, Tày, Kinh… đến từ các tỉnh thành: Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Lao Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Đăk Lăk, Kon Tum…
“Trưởng lão” Mã A Lềnh, nhà văn dân tộc Mông ở Lao Cai được “phong” ngay chức trưởng trại. Ngoài tinh thần tích cực quan tâm, tổ chức mọi sinh hoạt cho trại viên, vị trưởng lão này còn kịp hoàn thiện một công trình sưu tầm, nghiên cứu về văn hóa dân gian nơi quê hương mình với tập bản thảo “Văn hóa Mông – Những nét đặc trưng”. Ngoài ra anh cũng đã có một truyện thí nhi sắp in tam ngữ Việt - Tày - Anh.
Nhà thơ Pờ Sảo Mìn, “người con trai Pa Dí” vùng biên giới Mường Khương – Lao Cai, chiếc lá quý của “cây hai ngàn lá” kỳ này mang về trại một số lượng thơ ít hơn nhiều so với lượng rượu ngô đặc sản Mường Khương anh mang theo để… “ăn” dần (như từ ngữ anh thường dùng là “ăn rượu”)! Nói thế thôi, chứ… thơ cần tinh, bất quý hồ đa! 4 bài thơ của anh đợt này là 4 sự chắt lọc từ một hồn thơ nguyên chất núi rừng.
Nhà giáo “lão làng” Phùng Ngọc Diễn dạy môn Tâm lý học rất tâm niệm với định lý về thơ: “Thơ được cảm xúc và xây dựng từ những viên gạch ngôn ngữ”. Từ định lý đó tác giả đã có những bài viết, những bài bình thơ sâu bén trên báo chí lâu nay và ngay cả trong trại viết này cũng kịp hoàn thành tập bản thảo “Thơ và bình thơ” với 7 bài thơ sáng tác và 4 bài bình thơ của bạn bè trong trại.
Nhà văn Cao Xuân Thái nộp tập ký 8 bài, là những quan sát, cảm nhận tinh tế cùng những kỷ niệm sâu sắc về xứ đá Hà Giang, về quê hương Tuyên Quang đổi mới, là những nơi anh đã từng sinh sống và công tác.
Nhà thơ Chu Ngọc Phan ở Bắc Giang với tập bản thảo 12 bài thơ được viết ra từ cảm xúc rất thật và nhanh ngay từ những ngày đầu đặt chân đến Đại Lải.
Nhà thơ Ma Đình Thu ở Thái Nguyên nộp tập bản thảo 25 bài thơ tiếng Tày và 60 bài thơ tiếng phổ thông với nhan đề chung “Cằm lượn mùa Bác” (Lời thơ dâng Bác).
Nhà nghiên cứu Thiều Kim Chung dâ tộc Hoa, người của “sân nhà” Vĩnh Phúc với tập bản thảo thơ ngụ ngôn “Dưới trăng” 14 bài, nhằm gửi gắm những điều tự răn mình và mong mỏi cuộc đời được nhiều điều tốt đẹp hơn thực tại.
Nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật Tuấn Giang đến từ Hà Nội tỏ ra mình là một người “đa tài” với bản nộp 2 ca khúc, 3 bài thơ và đặc biệt là 3 chuyên luận – nghiên cứu về nghệ thuật là sở trường của anh: “Sân khấu Mộc Thầu Ý Giá Hai”, “Sân khấu những năm đầu thế kỷ” và “Xiếc động vật – tồn tại hay xóa sổ?”.
Nhà thơ dân tộc Mường Bùi Nhị Lê ở Thanh Hóa, người có công giới thiệu tác phẩm “Đẻ đất đẻ nước” trước đây, lần này nộp tập bản thảo 7 bài thơ dài “đặc sệt” chất Mường, trong đó có những bài thơ hay đầy xúc động, giàu nghĩa lý như bài “Những người đàn ông mang dao…” hay bài “Đành vậy!”… tố cáo sự biến thái, làm mất đi nét văn hóa truyền thống, nét văn hóa rừng trong thời hiện đại!
Cũng lên tiếng giữ gìn bản sắc văn hóa và giữ gìn hệ sinh thái, môi trường miền núi, nghệ sĩ dân tộc Thái cùng quê Thanh Hóa Cao Bằng Nghĩa có 4 bài thơ lẻ và đặc biệt là một bài Khắp Thái dài có nhan đề “Trông giữ lấy rừng” để hưởng ứng Ngày trái đất và Ngày môi trường thế giới, được viết cẩn trọng bằng thứ chữ Thái cổ có phiên âm và bản dịch tiếng phổ thông. Bài Khắp hô hào bà con không nên vì cái lợi nhỏ trước mắt mà quên đi cái hại lớn về sau trong việc phá núi phá rừng sản xuất tự do.
Nhà văn Huỳnh Nguyên ở Lai Châu mang về trại một tiểu thuyết dày dặn có tên “Lửa Pu Ta Leng”. Tác phẩm phản ánh sinh động một thế hệ thầy cô giáo trẻ miền xuôi nghe theo tiếng gọi đi xây dựng vùng Tây Bắc vào những năm 1959-1960. Ở đó mỗi người một số phận riêng, có người đã hy sinh, có người thành công, hạnh phúc, có người trắc trở… nhưng tất cả đều vì sự nghiệp chung mà nhiều người đã tự nguyện “xin chọn nơi này làm quê hương”, xây dựng gia đình, định cư lâu dài, mà cụ thể là chính tác giả.
Cũng gần giống chủ đề trên là nhà văn Nguyễn Minh Sơn ở Thái Nguyên có một truyện ngắn rất dài với tên gọi “Chuyện tình người gác cửa rừng”. Truyện viết dài vì tác giả cố ý kết cấu theo kiểu liên hoàn, đan xen những đồng hiện, tái hiện nhiều sự kiện, nhiều nhân vật, nhiều số phận của những con người chịu nhiều hậu họa kể từ thời đi xây dựng quê hương mới đến thời kỳ sau chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Những cảnh ngộ éo le ấy có thể là do cuộc đời đưa đẩy, hoặc do những tắc trách, sai sót của thủ tục hiện hành đã đẩy đưa họ đến những bến bờ xa xót.
Nhà thơ Nguyễn Quang xứ đá Hà Giang có tập thơ 47 bài với cái tên nghe như một nỗi đau đời: “Món nợ chúng sinh”. Mà quả thật, anh đau nỗi đau di họa chiến tranh, nỗi đau những người khốn khổ, nỗi đau những thân phận không tròn, kể cả những nỗi đau của đổi trắng thay đen trong cõi nhân tình thế thái…
Nhà văn Nguyễn Xuân Mẫn ở Lao Cai với 2 bút ký về công cuộc chuyển đổi vật nuôi cây trồng nhằm phát triển kinh tế vùng đồi gò trung du và miền núi phía Bắc hiện nay qua các giống lúa lai và các loại cây trồng vừa gây rừng vừa kinh tế.
Nhà thơ Phạm Doanh nổi tiếng từ phong trào thơ vùng mỏ Quảng Ninh từ những năm 60 thế kỷ trước, giờ ở Đăk Lăk – Tây Nguyên, với chùm thơ 6 bài đề cập đến nhiều đề tài, trong đó nổi bật nhất vẫn là những bài viết về những cảm nhận và tình yêu mảnh đất Tây nguyên, quê hương thứ hai nơi anh đang sinh sống.
Cũng ở Tây Nguyên, nhà thơ Tạ Văn Sỹ tỉnh Kon Tum có 1 tập tạp ký dày dặn về chủ đề miền núi và dân tộc, giới thiệu nhiều mặt về cảnh sắc, nhân vật, lịch sử, tập quán… của bà con Ba-na, Xơ-đăng bản địa nhằm góp phần chào mừng 100 năm kỷ niệm ngày thành lập tỉnh Kon Tum 9-2-2013 sắp tới.
Nữ sĩ duy nhất của trại là Hoàng Kim Dung, con gái Tày Xứ Lạng có tập bản thảo “Một nét hồn quê” với 4 bài thơ song ngữ Tày – Việt, 3 bài thơ tiếng phổ thông, 1 bài ký về nét đẹp văn hóa chân chất thật thà của bà con vùng sâu vùng xa còn lưu giữ được và 1 truyện thiếu nhi thấm đẫm tình người, tình quê, tình gia tộc.
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Lò Văn Chiến, đã từng là một “yếu nhân” của chính trường Lai Châu, có 6 bức ảnh đẹp chụp hồ Đại Lải chiều thu, chụp các làng nghề Vĩnh Phúc và những hình ảnh đẹp khác của bà con dân tộc quanh vùng…
Tác giả Nguyễn Hữu Ninh ngoài những bức ảnh nghệ thuật với tay nghề cao góp phần cho trại còn có thêm tập bản thảo 15 bài thơ và 2 ca khúc, nội dung đa phần tập trung ca ngợi và giới thiệu quê hương Hà Giang xứ đá của mình.
Có lẽ phải “kể lể” thêm một tí về cái khổ của hai vị nhiếp ảnh này, vì phải nhiều lần đi xa săn ảnh và nhảy xe lên tận thành phố Vĩnh Yên để phóng ảnh. Đó là sự năng động và yêu nghề của các nghệ sĩ. Tuy nhiên cũng mừng cho các vị vì như vậy ở Đại Lải này còn “sướng” hơn đợt đi trại Quản Bạ và Hoàng Su Phì - Hà Giang. Đợt đó các nghệ sĩ nhiếp ảnh phải “ghi sổ nợ” với Ban tổ chức vì chưa nộp được tranh, bởi xứ đá xa xôi tận cùng Tổ quốc kia không tìm đâu ra nơi phóng ảnh!
Kết quả trên dĩ nhiên không dưng mà có. Mà đó là kết quả lao lực và lao tâm nghiêm túc của tất cả trại viên. Có điều không ai ngờ rằng các anh chị em ở đây, người “trẻ” nhất cũng đã là… U56! Nghĩa là đa số đã cập kề độ tuổi “xưa nay hiếm”! Thế mà tinh thần làm việc, tinh thần giao lưu trao đổi chuyện đời, chuyện nghề với nhau lại vô cùng cởi mở, phóng khoáng. Cái không khí vui vẻ thân tình cứ lan truyền từ phòng này sang phòng khác. Dường như ai cũng quên bẵng đi tuổi tác, sức khỏe, điều kiện riêng tư. Những tâm sự vui buồn cá nhân, những chuyện tiếu lâm, giai thoại văn học, những góp ý nhẹ nhàng, chân tình… cứ râm ran giữa người này người nọ, giữa nhóm này nhóm kia. Được một câu chuyện vui cả bọn cùng cười. Một câu thơ hay mọi người khen ngợi. Một chữ văn chưa chuẩn cùng xúm lại góp lời…
Xen kẽ vào những buổi “ngồi bàn” của từng cá nhân là những hoạt động “ngoại khóa” rất hữu ích và thú vị. Ví như các chuyến đi săn ảnh, đi tìm tư liệu, cảm xúc… Các chuyến thăm hỏi giao lưu bạn bè văn nghệ quanh vùng, buổi được mời tham dự hát Hầu văn của Trung tâm Văn hóa Đông bắc thuộc tổ chức UNESCO Việt Nam tại Quốc Oai – Hà Nội… Rồi các đêm sinh hoạt nội bộ với không khí sôi nổi ấm áp. Qua đó mọi người thêm hiểu nhau hơn, gần nhau hơn, tạo nên một động lực cho tinh thần sáng tạo tốt mà số lượng tác phẩm vừa tổng hợp trên kia đã nói lên điều ấy.
Tình thân ái và không khí vui vẻ còn được thể hiện ở những bữa tán gẫu, cùng nhau cao hứng làm thơ vui để phúng vịnh từng người, cố dùng những câu từ tếu táo, gây cười, nhưng tất cả đều vui, đều thích, không ai phàn nàn phản đối, mà coi đó là kỷ niệm đẹp khó quên… Này là đôi câu ví dụ: -“Tháng Mười Đại Lải “nổ” ra/ Một trại sáng tác thật là đông vui/ Người Nam kẻ Bắc ngược – xuôi/ Như “chim” gặp “bướm” như đời có nhau…”, hoặc: -“”Bôi hôi”, bổi hổi, bồi hồi/ Nghĩ ngày tạm biệt nối lời gửi trao/ Trại ta rất đỗi tự hào/ Văn chương nghệ thuật, người nào cũng… “hăng”!”. Có lẽ sau những phát biểu “nghiêm túc” của phần nghi lễ bế mạc này thì bài “Trại ca” kia sẽ được “trình bày” để chứng minh cho những báo cáo vừa nêu là không cường điệu.
Cuối cùng, toàn trại thống nhất đề nghị Lãnh đạo Hội và Tạp chí VHCDT dành cho nguyên một số gần nhất để chọn in giới thiệu các tác phẩm được nộp từ trại viết này.
Tạ Văn Sỹ
(Đại Lải, 31-11-2011)
tavansy | 06 October, 2011 03:41
*Hôm nay lên đường đi Sầm Sơn - Thanh Hóa tham dự Hội thảo “Thơ Việt đương đại nhìn từ Miền Trung và Tây Nguyên” sẽ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức vào hai ngày 8 và 9 tháng 10 năm 2011 này. Bị ảnh hưởng bão số 6 mưa tầm tã cả đêm không ngủ được, nằm nghe mưa mãi cũng mỏi nên dậy sớm để chuẩn bị một ít việc lặt vặt, thấy còn dư thời gian bèn mở máy xem lại bài Tham luận mà Ban tổ chức đã thông báo bảo viết trước để trình bày trong Hội thảo. Tiện tay đưa luôn ra đây, các bạn đọc chơi.
Tính diện tích tự nhiên thì Tây Nguyên không nhỏ hơn hai khu vực Bắc và Nam Miền Trung là mấy! Nhưng đem so đọ về lịch sử và văn hóa với dọc dài duyên hải Miền Trung thì Tây Nguyên quả là một vùng “đất mới”!
Mặc dù từ thế kỷ XV vua Lê Thánh Tông đã có chỉ dụ sáp nhập Tây Nguyên vào lãnh thổ Đại Việt; rồi thời Nguyễn Tây Sơn cũng tiếp tục “thực thi chủ quyền” của mình đối với Tây Nguyên, và đến cuối thế kỷ XIX, khi hoàn tất quyền kiểm soát toàn cõi Đông Dương, thực dân Pháp đã thiết lập Tây Nguyên thành đơn vị hành chính trực thuộc quan Công sứ Bình Định xứ An Nam, nhưng cho đến nửa đầu thế kỷ XX Tây Nguyên vẫn là một vùng rừng thiêng nước độc, biệt xứ lưu đày!
Thế nên từ cuối những năm 20 thế kỷ trước thực dân Pháp đã dựng lên ở đây các nhà tù để giam giữ, cách ly các chí sĩ yêu nước của ta cho… “chắc ăn” (!), như nhà lao Ban Mê Thuột và nhà ngục Kon Tum. Riêng tại Kon Tum, ngoài ngục chính ở trung tâm tỉnh lỵ còn có nhà giam Đăk Tô và ngục Đăk Glei ở tít cùng xó núi Ngọc Linh, nơi mà nhà thơ lớn của cách mạng Việt Nam Tố Hữu đã làm cú vượt ngục ngoạn mục nổi tiếng.
Phải đến khi có các lao tù ấy thì Tây Nguyên mới lác đác có những thơ văn xuất hiện, được viết ra ngay trên mảnh đất này, đa số là do các tù chính trị phạm sáng tác để tự cảm đời mình, để lên án kẻ thù, để động viên đồng bào đồng chí vững vàng khí tiết đấu tranh. Không nhiều, nhưng qua các lớp tù nhân, mạch sáng tác này còn kéo dài đến Cách mạng Tháng Tám. Số thơ văn này là một nguồn bổ sung không nhỏ cho gia tài văn học cách mạng và yêu nước Việt Nam thế kỷ XX. Tuy nhiên lâu nay nó vẫn khuất chìm đâu đó dưới bóng đại ngàn Trường Sơn và dưới lớp bụi thời gian! Nhà chuyên môn chưa chú ý nghiên cứu, sách báo ít nhắc đến, chưa có công trình sưu tập quy mô… Do vậy bây giờ mấy ai còn nhắc còn nhớ những dòng thơ thấm đẫm máu, nước mắt, mồ hôi đầy tâm huyết của các tù chính trị phạm và những người liên quan lúc bấy giờ? Những áng thơ văn của Hồ Tùng Mậu, Hồ Văn Ninh, Ngô Đức Đệ, Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Huy Lung, Đồng Sỹ Bình, Trịnh Quang Xuân, Võ Trọng Bành, Trương Quang Trọng, Lê Viết Lượng, Phạm Thị Trang, Nguyễn Thị Du, Tố Hữu v.v… đã tạo nên một “dòng thơ tù đày” thật ấn tượng nơi núi xanh đất đỏ pha xương trắng máu đào này. Dẫu không là những tác gia chuyên nghiệp nhưng những sáng tác này cũng mang đủ tầm vóc giá trị học thuật và tư tưởng. Đến hôm nay may ra còn mỗi Tố Hữu được thỉnh thoảng nhắc tới với những vần thơ tiêu sái trong bài thơ “Tiếng hát đi đày”… Đường lên xứ lạ Kon Tum/ Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao…
Sau thời kỳ đó cho đến 1975, trong chiến tranh, Tây Nguyên với bao lớp người đến rồi đi (kể cả hai phía cách mạng và chính quyền Sài Gòn), chỉ kịp để lại những dòng thơ văn như cách lưu nhớ một thời mà thôi, chứ không định hình thành một dòng chảy ổn định và liên tục để có thể thành một “lưu vực” thơ Tây Nguyên. Thời kỳ này có thể chia hai dòng nhỏ: Dòng thơ ca kháng chiến chống Mỹ của các nhà thơ, nghệ sĩ là cán bộ, chiến sĩ Giải phóng quân trên suốt dọc Trường Sơn, nay còn một số bài trụ lại. Một dòng sáng tác khác được gọi là “văn chương đô thị Miền Nam” là của những công chức, binh lính chính quyền Sài Gòn, là những khách thương hồ vãng lai v.v… Bằng một giọng điệu thơ lãng mạn và tiêu sái của cảm hứng từ núi rừng biên tái, từ lửa khói chiến chinh đã tạo nên những cái tên như Vũ Hữu Định, Du Tử Lê, Lê Nguyên Ngữ, Lâm Hảo Dũng, Kim Tuấn, Cao Thoại Châu, Trần Quang Thiếu, Nguyễn Bạch Dương v.v… Đến nay, vừa theo thời gian, vừa không biết có phải do là “người của phía bên kia” hay không mà những vần thơ Tây Nguyên này cũng… chìm vào dĩ vãng! Chỉ may mắn còn vọng âm một đôi trường hợp hy hữu như Vũ Hữu Định với “Còn chút gì để nhớ”… Em Plei Ku má đỏ môi hồng/ Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông…
Sau 1975 đến nay, cùng với cả nước, Tây Nguyên dần ổn định và ngày càng phát triển về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa… Như một vùng “đất lành chim đậu”, bà con từ khắp ba miền Bắc, Trung, Nam tụ hội về đây đông đảo. Có thể nói trên mảnh đất Tây Nguyên hôm nay có đủ người của 64 tỉnh thành và 54 dân tộc anh em cùng cộng cư sinh sống! Trong con số vô vàn ấy đã có những người tâm huyết với văn chương và có khả năng sáng tác. Hầu hết thành phần này được tập hợp vào các Hội Văn học nghệ thuật của các tỉnh thành trong khu vực.
Những người này, họ là ai? Như đã nói, là người từ tận đỉnh Lũng Cú mịt mù phương Bắc đến chóp mỏm Cà Mau tít tắp trời Nam cùng tìm về với đất Tây Nguyên hội tụ. Nói như thơ Hồng Nguyên: -“Lũ chúng ta/ Bọn người tứ xứ/ Gặp nhau hồi chưa biết chữ/ Quen nhau thuở mới một hai/ Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài/ Lòng vẫn cười vui kháng chiến…”! Hay nói như thơ Nguyễn Khoa Điềm: -“Gánh tên đất tên làng theo mỗi chuyến di dân”, thì không loại trừ yếu tố dấu ấn văn hóa vùng miền, giọng điệu địa phương nơi cố hương còn mang đeo vương vất trong từng cây bút, khiến thơ Tây Nguyên khó có một âm hưởng khu biệt để gây nên ấn tượng cho một vùng văn học. Nó như giàn hợp xướng buổi đầu lắp ráp, chưa “hòa âm phối khí” nhịp nhàng! Đó cũng là một phần khiến thơ Tây Nguyên khó có được một chuyển động mạnh để gây nên những dư ba dư chấn đủ độ “vang” độ “rền” vươn ra ngoài góc khuất!
Tác giả sáng tác thơ ở các Hội Văn nghệ trong khu vực có đến hàng trăm! Nhưng được mấy cây bút khiến dư luận cả nước chú ý, quan tâm? Cụ thể số được chọn kết nạp vào hội chuyên ngành trung ương, là Hội Nhà văn, đã được mấy người? Nếu tính cả số vừa viết văn xuôi vừa có làm thơ thì tác giả thơ ở Chi hội Nhà văn khu vực này cũng chưa đầy con số chục! Đếm trên đầu ngón tay: một Văn Công Hùng, một Hương Đình, một Thu Loan, một Phạm Doanh, một Nguyễn Hoàng Thu, một Văn Thảnh, một Hữu Kim, một Huỳnh Trung Hiếu, một Tạ Văn Sỹ… (Nếu nói một cách thẳng thắn kiểu không giấu xấu, giấu dốt, rằng có thể con số đó còn khiêm tốn hơn nữa nếu có nghi ngờ một đôi trường hợp nhất định nào đó đã được kết nạp có phần do yếu tố cơ cấu, chiếu cố, nể nang!). Có thể kể thêm một số thi hữu “kém may mắn hơn”, nghĩa là chưa được cùng đứng tên trong đội ngũ hội viên Hội Nhà văn như Hữu Chỉnh, Vũ Bình Lục, Phạm Đức Long, Vũ Hùng v.v… Thế hệ này nay đều đang ở phía dốc bên kia của đời người, năng lực sáng tạo đã có phần chùn lại, khó lòng mong mỏi một sức bật mạnh. Không có sức bật mạnh thì cũng khó lòng vượt lộ ra khỏi cái góc khuất vô hình!
Cái sự được kết nạp “khiêm tốn” và cái sự tài thơ cứ “thấp thoáng rừng sương” kia nói lên điều gì? Trước hết về mặt chủ quan, là nói lên yếu tố “tự thân vận động” của những người sáng tác ở đây. Ấy có thể là tài năng chưa đủ chín, giá trị nghệ thuật văn chương chưa đủ tầm. Về mặt khách quan, ấy có thể là điều kiện địa lý không thuận tiện cho việc tiếp cận với những chốn “phồn hoa đô hội” của văn chương đương đại, mà nhất là tiếp cận với các tổ chức văn học, các hoạt động văn học và những người hoạt động văn học chủ chốt, đã khiến cho các cây bút ở đây như bị chắn che trong một góc khuất của không gian văn học rộng lớn chung quanh? Công tâm mà nói, dẫu chưa có được những “đỉnh” những “điểm” “nổi đình nổi đám” như một số tài năng thơ thật sự ở các khu vực khác, nhưng Tây Nguyên cũng có trội lên một ít tác giả, bằng năng lực và nỗ lực cá nhân, có gây được ít nhiều chú ý trong bạn bè cả nước. Tuy nhiên điều này cũng chưa khiến được thơ Tây Nguyên thoát khỏi cái bóng chập chờn của một góc khuất!
Điểm đáng lưu tâm ở thơ Tây Nguyên là các tác giả đều là người Kinh, cảm và nghĩ theo kiểu Kinh, nói và viết theo kiểu Kinh, mà lại là pha tạp các nguồn văn hóa Kinh từ các vùng miền! Họ giống như nhóm người “khai sơn phá thạch” cho dòng thơ ca nơi vùng đất mới! Từ đó dấu ấn của thô mộc, tì vết là điều khó tránh khỏi! Tác giả là các tộc người Trường Sơn tính đến nay chưa có một cây bút nào định hình định dạng định danh! Điều này góp phần làm cho khập khiễng khi đem thơ Tây Nguyên so đọ với thơ các vùng miền trên đất Việt. Chỉ mới vừa lấp ló đôi ba trường hợp trẻ là người bản địa, nhưng cũng mới ở bước đầu, chưa dám nói trước một điều gì khả dĩ!
Tóm lại, có thể nói thế hệ đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ngày hôm nay có mặt tại Hội thảo này là “thế hệ nền móng” của văn học nói chung, thi ca nói riêng trên đất Tây Nguyên. Và cũng may cho Tây Nguyên, tiếp sau “thế hệ nền móng” này đang xuất hiện không ồn ào nhưng cũng khá ấn tượng một “thế hệ vàng” – có thể nói được như thế không? – của các cây bút trẻ hơn đang ngày càng gây được nhiều ấn tượng tốt trong dư luận bạn đọc cả nước, đó là một Lê Vĩnh Tài, một Đinh Như Thúy, Một H’trem Knull (dân tộc Ê-đê), một Hoàng Thanh Hương (dân tộc Mường), một Ngô Thanh Vân, một Lê Vi Thủy, một Từ Dạ Linh, một Hồng Thủy Tiên, một Y Việt Sa (dân tộc Ba-na), một Hoàng Việt, một Vũ Việt Thắng v.v… Và sẽ còn những bút danh nào nữa mà chúng ta đang nóng lòng mong ngóng? Họ được sinh ra trên đất Tây Nguyên, hoặc chí ít ra cũng được bố mẹ đưa đến với Tây Nguyên khi còn rất bé. Họ trưởng thành và hấp thụ không gian và không khí Tây Nguyên. Họ sẽ không còn, hoặc ít còn, bị yếu tố địa phương, vùng miền cũ chi phối như lớp trước từ tứ xứ tụ về. Họ là… “thế hệ F1”, tổng hòa và chuyển hóa những cảm thức chung và riêng để lập thành một giọng điệu mới cho thơ Tây Nguyên. Tính đến hôm nay, trong số họ có thể chưa chọn ra được “đỉnh”, nhưng “điểm” thì cũng đã một đôi bút danh “lót ổ” được vào bộ nhớ của bạn đọc xa gần.
Hy vọng thơ Tây Nguyên“trời mỗi ngày lại sáng” để bước ra khỏi cái góc khuất kiểu tự ru: -“Núi cao chi lắm núi ơi/ Núi che mặt trời không thấy người thương!”. Xin nhớ rằng: núi có văn hóa núi!
Tạ Văn Sỹ
(Kon Tum, tháng 9 năm 2011)
ĐT: 0905.171.113
tavansy@gmail.com
Hãy nhấp vào CHUNG
ở hộp CATEGORIES
để xem nhiều bài khác
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||