TẠ VĂN SỸ

CHUYỆN CỦA MỘT… THIÊN TÀI!

tavansy | 03 September, 2010 10:19

 

*Lời thưa: Sau khi đọc bài "Chuyện người ảo mị văn chương" trên blog của tôi, có người bạn gửi cho một email chuyển tiếp "lời kêu oan" của một người đang chịu nhiều... o ép oan ức! Thấy hay hay, xin cóp nguyên xi đưa lên đây để bạn bè cùng biết về một "thiên tài" của đất nước ta đáng ra phải được giải... Nôben!


--------- Thư đã chuyển tiếp ----------

Từ: Thái Ngọc <ngocthai194qt@ymail.com>

Ngày: 02:23 Ngày 01 tháng 9 năm 2010               

                                                                          

Nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI                                                

 

            Hữu Thỉnh  - Chủ tịch HNVVN thực ra cũng tầm thường, tiểu nhân,  không cao thượng. Tôi gửi tới mọi người, các toà báo, các tổ chức có liên quan về văn học, nhất là với thơ ca - Hai bản "Tuyên cáo": Hy vọng rằng rồi đây chân lý sẽ sáng tỏ!

     Nhà bình thơ Phạm Khải trẻ tuổi có lần nói với tôi rằng: "Không ai người ta lại phong thi hào cho anh lúc còn đang sống"! Nào tôi đâu có đòi hỏi vậy? Chuyện đó rồi sẽ có thế nhân!...Nhưng các ông ấy, ăn lương của Quốc gia, hưởng nhiều bổng lộc của quốc gia... thì không thể có cách cư xử nhỏ mọn, cố tình dìm lấp một nhà thơ như thế được.

     Sau khi tôi cho xuất bản tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM & biếu tặng -  Tôi  hỏi về sự nhận xét tác phẩm - Trong  một sáng mùa xuân, dưới mái hiên của HNVVN ( tại 9 Nguyễn Đình Chiểu HN), chính Hữu Thỉnh đã nói: Anh vĩ đại rồi! 

       Nhà văn Cao Tiến Lê cũng khen hết lời.   

      Còn nhà thơ Lê Đình Cánh thì đánh giá: Phạm Ngọc Thái đã đi trước các nhà thơ đương đại của HNVVN 4-50 năm!

      Người bạn thơ Nguyễn Quang Thiều của tôi cũng rất ca ngợi: Tập thơ rất tuyệt!

      Nhà thơ đồng thời là nhà bình luận "Chân dung & đối thoại" Trần Đăng Khoa  đã từng phát biểu: "Phạm Ngọc Thái - Một thiên tài cô độc!".

     Vào một buổi cùng ngồi uống bia, nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thủ đô) đã nói với tôi: "Đúng là anh có cả một thế giới thơ riêng! Nhưng... số anh không may!".

       Không may có nghĩa là sao? Là sẽ có nhiều kẻ ghen ghét,đố kỵ... tìm cách dìm lấp chăng? - Thế thì phải mượn cụ Nguyễn Du một câu thơ mà chiêm nghiệm rằng:

                     Chữ tài đi với chữ tai một vần

      Hay là, phải ngửa mặt lên trời mà than như Tố Như:

                     Bất tri tam bách dư niên hậu

                      Thiên hạ hà nhân..."có khóc ta"?...

      Nhưng anh Bằng Việt là ai nhỉ? Cũng một tầm bậc có tên tuổi đương thời. Trong lĩnh vực báo chí, văn chương... quyền hạn có kém gì Hữu Thỉnh? Thế đấy!...

      Chẳng thế mà nhà thơ Chử Văn Long - Khi tôi chuẩn bị cho xuất bản tập thơ "Rung động trái tim" ấy, anh nói: "Ông cẩn thận, kẻo chúng hơi hóng biết được... chúng sẽ đâm chọc với NXB, sẽ phá - Ông khó mà xuất bản"!

     Thực tình, tôi đã phải lẳng lặng mà làm... cho đến khi tập thơ xuất bản trót lọt xong rồi! Cầm tập thơ rất đẹp trên tay tôi biếu, anh phải thốt lên : Đúng là... thượng đế đã không cắt hết đường ai!

     Tôi bảo: Đúng thế - Trời hại thì mới sợ, chứ... người hại thì không sợ!

      Để rồi xem mây mù có thể che lấp được bầu trời mãi hay không?                    

 

                  Sau đây là nguyên văn hai bản tuyên cáo đó!

 

Nhà thơ Phạm Ngọc Thái 

Lên án những gian tà                                             

           

                                 Gửi ông: Hữu Thỉnh

                                             Chủ tịch  HNVVN

                                        Cùng Ban chấp hành HNVVN                                                                                                           

                                                                   

          ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (II)

       Sau đơn phản bác (ĐPB) đầu tiên tôi đã gửi tới các ông, các Viện và trong Hội Văn học từ ngày 15/1/2010 - Trong ĐPB.II này, tôi không nói lại cái việc mà các ông cùng ban bệ đã có dã tâm, cố tình dìm lấp tôi!...mà chỉ muốn nhắc với các ông một số điểm như sau:

1/- Nếu các ông gạt bỏ được sự vị kỷ, nhỏ mọn của con người: 

      Có tổ chức đánh giá tập thơ Rung động trái tim (RĐTT), tôi đã cho xuất bản tại NXB Thanh niên 2009 vừa qua -  Tôi tin:  sự vô giá của tập thơ sẽ không còn chỉ của riêng tôi, mà nó sẽ là tài sản của cả nền văn học quốc gia.

      Tôi xin khẳng định lại: Tập thơ RĐTT không chỉ là một tập thơ sâu sắc và tầm vóc nhất so với hàng nghìn các tập thơ đã xuất bản từ 1975 đến nay, mà nó còn là một tập thơ hay, độc đáo của cả nghìn năm văn hiến Thăng Long.

    Thì trong Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, đó chẳng phải là thành quả quí báu của nền thi ca đối với nước non hay sao? Trong đó các ông là những người lãnh đạo, cầm cân nẩy mực... vừa tỏ ra cao thượng và có trách nhiệm, chí ít cũng của một giai đoạn thơ ca trong đương đại nước nhà. Đằng này các ông chỉ giỏi kiếm bổng lộc quốc gia - Chỉ sợ PNT này vượt lên trên mặt, tức là vượt lên trên chân dung các ông!

2/-Các ông định cứ lơ đi ư? Các ông định tâm "để lâu cứt trâu sẽ hoá bùn" ư?

         Nếu các ông tìm mọi cách để phủ nhận, bới móc hay thoá mạ lên các tình thơ trong tập RĐTT - Thì đồng thời cũng chính là dịp cho mọi người sẽ xô vào để  đọc, nghiền ngẫm và thưởng thức... lập tức thế giới bên trong các tình thơ của tôi sẽ trở nên bất hủ, kỳ diệu ngay!.... Đó là nguyên lý của loại thơ tồn tại, thơ hay và sâu sắc điển hình của tập thơ RĐTT. Trong Tuyển thơ đại bàng (TTĐB) của tôi có đến cả trăm bài tôi đã đạt được sự viên mãn như thế!

      Như tôi đã nói trong ĐPB.I (xin xem lại - có lưu kèm theo với văn bản này), rằng: Tập thơ RĐTT dám nói là có thể đem so sánh với tầm vóc thơ bà Hồ Xuân Hương, một trong ba thi hào dân tộc của nước nhà.  Đấy, tập thơ tôi đang cho công bố: ai cũng có thể đọc và phán xét nó, ai cũng có thể cào xé hoặc bôi xấu nó - xem có thể dập vùi nổi nó không? 

       Tập thơ "Rung động trái tim" chính gốc đẹp và dầy 200 trang đã được xuất bản ấy (chứ không phải là tập thơ mỏng nhỏ tôi trích ra, photo ít bài quảng bá) - Riêng các nhà lý luận phê bình hay các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học  thì PNT xin biếu tặng, còn với quảng đại văn nghệ sỹ và công chúng... tác giả có thể bán để còn có khả năng mà tái bản tiếp - Ai muốn mua liên hệ với nhà thơ qua ĐT 01683024194, Email phamngocthai48@yahoo.com.vn, gửi thư hoặc đáo qua thăm nhà. 

3/-Vào mùa thu năm Giáp Thân (2004) tôi đã gửi tới ông Hữu Thỉnh cùng ba Viện một bức thông điệp dưới dạng viết ngỏ -  

       Hồi đó còn gọi ông là Tổng thư ký Ban chấp hành HNVVN. Trong bức thông điệp đó có đoạn tôi đã viết:

      "... Nhìn chung TTĐB của tôi là loại thơ muôn tuổi, thứ thơ thuộc ngôn ngữ thi ca triết học. Rất nhiều các bài thơ hay hoặc khá hay vào hàng đẳng cấp, thơ của mọi thời đại. Từ thơ tình tới thơ đời tuy chắt ra từ trong đời riêng tác giả, nhưng đều mang nỗi nhân quần thế thái, tính xã hội sâu xa...".

      Và tôi còn nhấn mạnh:

      "Tôi xin sẵn sàng diễn trình: đọc thơ, bình luận và phân tích - về TTĐB nói chung (cụ thể là với tập thơ RĐTT này mà tôi tin là đã đạt đến đỉnh thi sơn), trên cơ sở những bài thơ hay và kiệt tác - Trước tất cả các nhà văn, nhà thơ, các nhà lý luận phê bình, các tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ hay các viện sỹ văn học trong toàn quốc, trên đại sảnh của HNVVN... bằng phong cách tuỳ hứng của một thi nhân!".

       Hôm nay tôi vẫn xin nhắc lại với các ông điều đó.

4/-Cũng trong bức Thông điệp năm Giáp thân ấy có đoạn tôi đã viết: 

    " Khi xưa Hàn Mặc Tử vì lâm bệnh hiểm nghèo đã mất sớm ở Gành Ráng, lúc đó thi nhân cũng chỉ mới xuất bản được một tập Gái quê - Ông Trần Thanh Mại là một nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Huế, đã lên tận nơi mà thi nhân tạ thế, thu lượm từng trang bản thảo viết tay, lúc sống thi nhân đã sáng tác bị vương vãi trong dân. Để sau này (vào năm 1988) - Nhà thơ Chế Lan Viên (CLV) đã biên tập trọn vẹn "Tuyển thơ Hàn Mặc Tử" và xuất bản cho Người, cũng lưu giữ lại cho nền văn học của nước non.

     Trong lời đề tựa cho tuyển thơ, chính CLV đã từng đánh giá: Hàn Mặc Tử (HMT), anh là ai? - Ông đã khẳng định: Mai sau, những cái tầm thường mực thước biến tan đi không còn nữa, và còn lại của cái thời kỳ này, một chút gì đáng kể đó là HMT!... Và lời tiên tri của ông đã đúng, HMT chính là một thi nhân lớn nhất thời tiền chiến"! Còn các ông diễn văn và miệng nói thì có vẻ nhân văn đấy, mặc dù làm việc quốc gia... nhưng tấm lòng và trái tim nhân đạo thì chưa bằng một nhà văn như Trần Thanh Mại của thời kỳ thực dân, phong kiến cũ.

5/-Tôi đã định tìm cách gửi tập thơ Rung động trái tim đi thế giới để tham dự giải Nobel!

      Nhưng khó khăn lớn nhất chính là công việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài. Hơn nữa, vấn đề dịch thơ nó đòi hỏi không chỉ ngoại ngữ giỏi mà trình độ chuyên nghiệp dịch tác phẩm văn học phải cao

      Nếu được HNV với tư cách quốc gia đứng ra đảm nhận việc đó, thì chắc không phải là việc quá khó. Nhất là vừa qua (vào ngày 5/1/2010) ông Hữu Thỉnh có tham gia một Hội nghị mang tính Quốc tế để mở rộng việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài - gồm các nhà văn, nhà thơ và các dịch giả từ 32 nước trên thế giới đến nước ta - Tôi thiết nghĩ: Một tập thơ với giá trị như tập RĐTT, có lẽ cũng xứng đáng để được HNV quan tâm làm điều đó.

      Ở Ấn Độ - Đại thi hào Tagore,  chẳng phải Người đã được giải Nobel cũng chỉ bằng tập thơ Lời dâng đó thôi!

6/-Tôi viết tiếp ĐPB (II) này còn mang theo mục đích:

      Mai sau khi lịch sử nghiên cứu về tôi sẽ hiểu sâu sắc hơn - Nhà thơ đã phải sống trong một đương đại mà những chân dung thi ca của ta hạn chế thế nào? Nhất là thực chất khuôn mặt thật của những người cầm cân nẩy mực trong HNV đối với  nền thi ca đó như các ông... thì lòng dạ, tâm địa đã cư xử với Người ra sao?

      Nói đi rồi nói lại: Đại thi hào Uýt-Man nước Mỹ trong buổi đương thời, Người chẳng cũng đã từng phải chịu cảnh dập vùi, thoá mạ của bao phường văn sỹ nhỏ nhen đó hay sao?... Những tầm bậc siêu nhân thường phải gánh chịu "nợ đời", chẳng phải chỉ riêng tôi!

    Hoài Thanh đã từng viết trong Thi nhân Việt Nam, khi Người bình bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên rằng: Một thiên kiệt tác, một bài thơ hay cũng đủ để lưu danh!... Huống chi cả tập thơ RĐTT dám nói là trang trọng và bất hủ, có cả chục bài thơ hay và kiệt tác - Tôi tin rằng: Rồi đây, cùng với bao nhiêu thiên tuyệt tác nữa trong Tuyển thơ đại bàng của tôi lần lượt được xuất bản, nó có khả năng để tạo nên cả một "vạn lý trường thành" của thi ca mà sừng sững đến muôn năm. 

                                                                               Viết tại đất Thăng Long                                                                     

                                                                                     NGƯỜI PHẢN BÁC

                                                                                               (đã ký)

                                                                                            Phạm Ngọc Thái

* Sao gửi đến ba Viện và lưu vào lịch sử                          

 

               Xin xem tiếp ĐƠN PHẢN BÁC (I) - tức là ĐPB đầu tiên, đã gửi tới                Ban chấp hành HNVVN  vào ngày 15/1/2010 - nguyên bản như sau:

               Gửi: Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn                                                      

               Cùng ông Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)                                                      

 

                              ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (I)

 

         Tôi - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái, hiện trú ngụ tại ngõ 194 (số 34), phố Quán Thánh, Hà Nội.

A- PHẢN BÁC I/.

Việc làm thiếu trong sáng, thuộc vào nhân cách, đạo đức (của ban bệ nào, hay do các ông chỉ đạo thì tôi không biết?) - Theo như cách xử sự mà tôi nhìn nhận trong những năm tháng qua, tôi cho rằng rất thiếu trách nhiệm và cả nhân tâm đối với một nhà thơ như tôi. Như đã cố tình dìm lấp trong đợt xét duyệt vừa qua, nhằm gạt bỏ người xin vào Hội. Tôi chỉ biết rằng trong hàng trăm nhà thơ xin vào HNVVN năm 2009 này đều có danh sách (xem công bố của HNV trên mạng internet), riêng tôi bị ỉm đi. Cá nhân tôi nhận định: Đó là một sự hèn kém, thậm chí là thiếu liêm sỉ của những người có cương vị  trong công tác văn học (riêng về thơ ca). Sự chưa được nhân đức đó không thể chấp nhận được.

B-  PHẢN BÁC II/.

Thực tình, do tâm dạ luôn muốn hướng tới lòng nhân hòa của con người, dẫu có tồi tệ hơn thế tôi cũng sẽ chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng với tôi, các ông tư cách là những người có trách nhiệm quốc gia,  tâm linh, tình cảm cùng khát vọng là nhà thơ với nhau. Tất nhiên là số vận của các ông thì đã được hưởng bổng lộc quá nhiều, chứ không "chó ăn đá , gà ăn sỏi" như tôi - làm như thế... thì có lẽ là nhỏ mọn. Để tự cứu mình tôi buộc lòng phải lên án! Như nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có lần nói với tôi: "Phải tự cứu mình thôi, Thái ạ!".

    Đi vào ngay việc cụ thể, tôi xin nói về chân dung thơ tôi! Như trong lá đơn gửi Hội nhà văn (do nhà thơ Bằng việt và anh Phạm Đức giới thiệu), tôi đã viết - Đến nay tôi đã cho xuất bản 3 tập thơ:

            - Có một khoảng trời, NXB Hà Nội 1990.

            - Người đàn bà trắng, NXB Thanh niên 1994.

            - Rung động trái tim, NXB Thanh niên 2009.

     Tôi xin tập trung nói về "Rung động trái tim", là tập thơ tôi mới cho xuất bản trong năm 2009 vừa rồi. Vì trên giấy tờ, tôi nói thẳng ngay vào những ý chủ chốt - Còn tất cả những gì cần hỏi... khi các ông hay là Ban chấp hành HNV tổ chức: cần gì tôi sẽ giải thích, thích gì tôi sẽ chiều.

            1/-"Rung động trái tim" (RĐTT) là một tập thơ hay hiếm có, độc đáo và thi phẩm có giá trị tầm vóc cao đối với thi ca hiện đại nói riêng, cũng như của nền thi ca trong nghìn năm văn hiến Thăng Long nói chung.

-Về độ dày của tập thơ là 200 trang, số lượng bài thơ thì ngót 50 bài. Nghĩa là, số lượng bài thơ đã xuất bản trong tập ấy cũng tương đương với số bài thơ (cũng gần 50 bài) của bà Hồ Xuân Hương (HXH) để lại cho đời. Sở dĩ tôi dẫn chứng cụ thể với HXH là để nói rằng: Về độ hay và tầm vóc trong chân dung tập thơ RĐTT của Phạm Ngọc Thái (PNT) - chưa dám nói là vượt lên trên chân dung thơ HXH, nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi! Mà HXH là ai, thì các ông đã biết: Bà là một trong ba thi hào dân tộc! (xem trong tuyển văn luận "Ba thi hào dân tộc" của Xuân Diệu - NXB Văn học) - Tại sao tôi dám nói như thế?

a/-Tập thơ RĐTT của tôi cơ bản là thuộc loại thơ trường cửu, thơ tồn tại qua mọi thời đại.

Số bài thơ đạt khá hay trở lên cũng nhiều.

 Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay?

Tôi đưa ra đây vài ví dụ cụ thể:  Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Điếu thu của Nguyễn Khuyến, Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH , Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay! Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá, trường cửu đó. Theo con mắt thơ của tôi: trong những nhà thơ lớn thời tiền chiến, Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất - Ông có 3 bài thực sự được gọi là thơ hay như tôi đã điểm trên. Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT), mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi...   

Thế mà chỉ riêng trong tập thơ RĐTT: Số lượng bài thơ hay đã khoảng chục bài, nếu kể từ khá hay trở lên thì phải trên đôi chục bài - Nghĩa là, chỉ tính riêng những bài thơ hay trong tập tôi đã vượt gấp 3 lần thơ hay của thi nhân HMT, là nhà thơ lớn nhất thời tiền chiến. Trong đó ít bài còn có giá trị của những kiệt tác, tôi đã đạt đỉnh thi sơn cao hơn ông! Tập thơ RĐTT tôi đã cho xuất bản rồi, còn đó! Những bài thơ đó sẽ còn tồn tại mãi với đời. Không thể phủ lấp, dập vùi được! Cứ càng đọc, càng đào xới lên... càng sâu sắc, càng hay. Cho nên có thể nói rằng: Tập thơ RĐTT là một thi phẩm có chân dung loại cao, chí ít cũng sánh với tầm vóc của chân dung thơ HXH.   

b/ Tôi xin đặt giải và thách đố:

Nếu có ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ năm 1975 đến nay, kể cả các tập thơ đã từng được giải nhất của HNV, hoặc do có điều kiện tốt đẹp nào đó mà đã được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định) - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập thơ RĐTT của tôi - Thì PNT xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy phải có bình luận, phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó cụ thể bao nhiêu bài thơ hay - là những bài nào? Về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? Đó có phải là những bài thơ có khả năng đạt giá trị bất hủ, thơ của mọi thời đại

     Dám nói là sẽ không thể có một tập thơ nào XB từ năm 1975 đến nay tầm vóc cao được như thế đâu! Bởi lẽ, nếu có một nhà thơ nào đó sáng tác được một tập thơ hay và cao hơn tập RĐTT, tôi cam đoan chắc chắn người đó sẽ trở thành đại thi hào!... Và dám nói, kể cả kẻ có con mắt nhìn ra giá trị của tập thơ đó phải là một thiên tài... có khả năng thẩm định thi ca ít nhất cũng cỡ Hoài Thanh - Người đã từng làm nên một Tuyển "Thi nhân Việt Nam" bất hủ, truyền đời.  

  2/-Tại sao lại nói: Phạm Ngọc Thái sẽ là nhà thơ vĩ đại nhất VN !?  

  Nói "sẽ là" có nghĩa: rồi trước sau thời đại, cũng như lịch sử sẽ xác nhận như thế! 

    Với Tuyển Thơ Đại Bàng 500 bài mà tôi đã cho công bố toàn bộ (kể cả lời bình) trên mạng internet, qua Web. của Việt Nam Thư quán (vnthuquan.net - Trang Diễn đàn - Danh mục Tác giả người Việt). Tôi cũng đã rút ra một số lớn gần 400 bài, đóng tuyển cẩn thận, gọi là: Quyển I - Tuyển thơ đại bàng! Để gửi biếu một số nhà thơ như: Ông Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa... GS. Mã Giáng Lân, đồng thời gửi biếu lưu ở Viện Văn học VN, Hội nhà văn VN, Khoa văn trường Đại học Nhân văn Quốc gia v.v...  Tôi từng nói với Trần Đăng Khoa rằng, tôi thường lấy Nguyễn Du để so sánh với chân dung thơ của mình - Thực ra tôi tin, là tôi đã vượt qua Nguyễn Du rồi!...

     Nguyễn Du vĩ đại thật, Người là thánh thơ thật (với Kiều, thể thơ lục bát... còn tôi cũng như Chế Lan Viên, thuộc loại thơ tự do hiện đại) - Nhưng lịch sử thi ca không phải cứ đến Nguyễn Du là dừng lại? Nếu cứ cho rằng: Tôi đã vượt qua Nguyễn Du đi, thì "Hậu sinh khả úy"... điều đó cũng có gì là trái với tự nhiên đâu! Sở dĩ tôi dám nhận định như vậy,,, cứ biết thế đã, để rồi lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có thể đưa ra vài nhận định được tóm tắt cơ bản như sau:

   a/.Ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở Kiều của Nguyễn Du chính nằm trong nỗi kiếp đoạn trường, theo thuyết bản mệnh của Kinh Phật - Đời sống, Thế giới có thiên mệnh! Con người có bản mệnh!

  Song, Vũ trụ và Cuộc sống có cả duy tâm lẫn duy vật. Nghĩa là, tuy duy vật chưa thắng và cũng không thắng được duy tâm!... Nhưng vẫn có "nhân thắng thiên", như thế giới có cả vô thần cùng hữu thần. Tình yêu và cuộc sống, xã hội... luôn chứa chất tính triết học đa dạng và rất sinh động! Chính trong Tuyển thơ của tôi, nhất là trong các bài thơ hay đã chứa bọc được cả thế giới trong nó mà tạo thành vũ trụ thơ ca - Chứ nó không hạn hẹp ở một chủ thuyết cố định. Nghĩa là thi phẩm phản ảnh tất cả những gì của thế giới đã có với tình yêu và cuộc sống con người!

    b/.Trong Tuyển thơ Đại Bàng 500 bài đó - số lượng các bài thơ hay và kiệt tác hàng chục, nhất là nếu tính từ các bài thơ sâu sắc, khá hay trở lên - Tôi đã đạt được đến mức độ khổng lồ hàng trăm. Cũng như tôi đã nói: Nó đã tạo nên tầm vóc của một vũ trụ thi ca! Lịch sử của nghìn năm văn hiến Thăng Long, chưa từng có một thi nhân nào đạt được nhiều thơ hay và kiệt tác như thế! Còn nghìn năm sau có hay không, thì tôi không biết?

    "Kiều" của Nguyễn Du bất hủ thật, hay thật, vĩ đại lắm!...nhưng tác phẩm của Người chưa mang tính của một vũ trụ thi ca.

c/.Về nghệ thuật : Kiều của Nguyễn Du viết theo thể lục bát - Thơ Đường, dĩ nhiên đạt độ mẫu mực, hay tuyệt vời! Ông là một Đại thi hào.

     Còn thơ tôi, thuộc loại thơ tự do hiện đại:  Một số lượng thơ không nhỏ, tôi đã  hòa quyện giữa sự sâu sắc của dòng thơ cổ phương Đông - Với các trường phái thơ lãng mạn, tượng trưng và cả siêu thực... của thơ hiện đại thế giới - Làm nên rất nhiều các bài thơ hay và kiệt tác!

     Hiện nay tập thơ Rung động trái tim do NXB Thanh niên 2009 ấn hành, tôi vẫn dành một số tập. Các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà lý luận, phê bình, cũng như các Hội văn học tỉnh, thành trong nước - Nếu muốn tham khảo có thể liên hệ, gặp gỡ -  tác giả xin biếu tặng.

                                                                          Viết tại đất Thăng Long

                                                                              Ngày 15/1/2010

                                                                             NGƯỜI PHẢN BÁC

                                                                                          (đã ký)

                                                                                      Phạm Ngọc Thái

 

* Sao gửi đến ba Viện: Viện Văn học VN, Viện Ngôn ngữ học

     Quốc gia, và Viện Văn hóa dân gian - để biết.

* Văn bản này sẽ được công bố rộng rãi trong Hội văn học

    và lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét.

                                                                                                                                                                                                         

    Hai bản tuyên cáo trên đã được gửi tới Ban chấp hành HNVVN cùng nhiều nhà văn, nhà thơ... có tên tuổi trong đương đại, đồng thời cũng đã được gửi đến các ông viện trưởng, viện phó & các phòng ban của Viện Văn học Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học Quốc gia - và rộng rãi trong Hội Văn chương, báo chí.

 

    Tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM tuyệt vời của PHẠM NGỌC THÁI

                                         Xem ở đây:

                 http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=625782                          

               Muốn biết ông HỮU THỈNH

        - Chủ tịch HNVVN ăn cắp thơ thế nào?

                                xem ở đây:

            http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=270021 

          NHỮNG CÁ NHÂN, TỔ CHỨC HAY NXB NÀO MUỐN

           COM MĂNG XUẤT  BẢN TẬP THƠ "RUNG ĐỘNG

       TRÁI TIM" SÂU SẮC & RẤT HAY  NÀY... ĐỂ BÁN

          (xuất bản lần đầu hạn chế - chưa có bán ra thị trường)

         XIN LIÊN HỆ VỚI TÁC GIẢ QUA ĐIỆN THOẠI

              DĐ 01683024194 HOẶC EMAIL

        (Tác giả sẽ biếu các Quý vị một quyển thơ do NXB Thanh niên

                               đã xuất bản để tham khảo) 

MỘT CHUYẾN TÂY NAM

tavansy | 01 September, 2010 22:24

 

*Lời thưa: Như đã thưa ở các bài trước, tiếp tục kể chuyện những chuyến đi, xin có bài này.

          Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức chuyến tham quan miền Tây Nam Bộ cho một nhóm nhà văn hội viên là người dân tộc thiểu số phía Bắc.

          Chạm chân đến bến phà Cần Thơ, cảnh sắc mênh mang của dòng sông Hậu như điểm nhấn bắt đầu mở ra một vùng sông nước! Dừng lại Cần Thơ giao lưu với Quân khu 9, đêm giao lưu với Hội VHNT. Chan hoà tình bạn tình văn. Đêm Tây Đô không dám ngủ sớm vì sợ... phí một đêm đầu tiên ở phương nam, bèn rủ nhau lang thang, thưởng thức đặc sản chè bưởi rồi tấp vào quán cóc ven đường gầy cuộc nhậu. Sáng, viếng đền thờ Phan Văn Trị, người bút chiến với Tôn Thọ Tường bằng 10 bài họa thơ "Tôn phu nhân quy Thục" thể hiện chính khí và lòng ái quốc lương dân. Tiện đường tham quan chợ nổi Cái Răng nơi bến Ninh Kiều. Háo hức với cảnh lênh đênh sông nước và vồ vập với vô vàn các loại cây trái miền Nam...

Trên đường đi Cà Mau tạt ngang Sóc Trăng tham quan Chùa Đất Sét, Chùa Dơi. Ngước trật ót ngắm nhìn hàng trăm hàng nghìn chú dơi to hơn nắm tay chúc đầu treo lủng lẳng chi chít trên tán rừng bao quanh chùa mà ngạc nhiên đến toét cả mắt!

Đến Cà Mau đã 7 giờ tối. Được Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp đãi. Lúc này nhà văn nữ trẻ Nguyễn Ngọc Tư và BTG vừa có sự cố "trục trặc" một tí qua tác phẩm "Cánh đồng bất tận". Anh em kháo nhau liệu có mặt Tư ở cuộc gặp này không? Không thấy Tư! Thì ra hôm nay đúng ngày giỗ Mạc Cửu - người khai lập vùng đất Hà Tiên - là cụ tổ bên ngoại của Tư nên Tư về bên ấy. Bật điện thoại gọi, Tư bảo em đang trên đường về lại Cà Mau đây, hẹn sáng mai gặp nhé.

Sáng ra nao nức đi thăm Đất Mũi, điểm chót cùng Tổ quốc. Ngồi trên xuồng bay vun vút rẽ sóng nước sông Gành Hào, những ánh mắt miền núi phương bắc như giãn căng hết đồng tử ra trước lạ lùng sông nước phương nam. Có cảm giác được đi chuyến đi dài vạn dặm này là bằng bước chân của mấy ngàn năm ông bà mở cõi! Cái bước chân mà... "Đến lúc chết kẽ chân còn lấm đất"! (Thơ Trần Đăng Khoa). Nghỉ dưới chân tượng đài cách điệu con tàu ra khơi nơi mỏm Mũi, liền nổ ra cuộc bình thơ... đểu (!) hai câu thơ Xuân Diệu "Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó, mũi Cà Mau". Rằng sao vừa mới bảo "tàu" lại hạ ngay xuống "thuyền"?! Mà cái tượng đài biểu tượng này đích thị là mũi tàu chứ phải thuyền đâu!

Ngồi trên mỏm đất tận cùng đất nước, thi sĩ dân tộc Thái Lò Cao Nhum tức cảnh sinh tình bèn "phun" ra: -"Không đi không biết đường xa/ Đi rồi mới thấy  dưa cà... mau thâm"! "Lão" Lò chơi chữ từ tên gọi Cà Mau, thì đây cũng là một địa danh khác: Cần Thơ: -"Không đi đâu thấy đường gần/ Đi rồi mới biết cái cần... thơ ta"!

Lại một đêm giao lưu "hết cỡ" với bạn văn nơi chóp cùng Tổ quốc.

Hôm sau, qua mấy lần phà mới xuôi được về Rạch Giá. Lại được đón tiếp trong phong cách nồng nhiệt chân tình của anh em Hội VHNT Kiên Giang. Chỉ tội cho nhà văn nữ trẻ Nguyễn Thị Diệp Mai đang có việc ở Cần Thơ cũng phải lật đật đáp xe chạy ngay về gặp gỡ. Lại một đêm phương Nam chênh chao theo sóng nước.

Viếng đền thờ Nguyễn Trung Trực, người anh hùng của lời nguyền lịch sử: "Khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam nước Nam mới hết người đánh Tây"! Định đi Phú Quốc, nhưng giá máy bay cao quá, bèn hẹn đến Hà Tiên sẽ đi tàu thủy. Kế hoạch bị... phá sản bởi khi đến Hà Tiên gặp ngày biển động, tàu không ra khơi! Thế là lỡ hẹn với "hòn ngọc phương nam".

Trên đường về Hà Tiên, đến vùng Kiên Lương, giữa mênh mông đất bằng bất ngờ nhô lên ngọn Hòn Đất, "nguyên mẫu" "Hòn đất" của nhà văn Anh Đức. Tưởng tượng bóng dáng chị Sứ còn phảng phất đâu kia. Trong xe bỗng râm ran tiếng xì xào: -"Ôi, núi kìa, nhớ núi quá!". Thì ra dân miền núi vắng núi mới mấy ngày đã... nhớ núi, đã... thèm núi rồi! Đến đây đã lát đát thấy núi phía giáp Kampuchia.

Ở Hà Tiên đoàn viếng khu mộ và nhà thờ Mạc Cửu, người lập nhóm tao đàn "Chiêu Anh các", một tổ chức văn chương rất sớm ở miền cực tây Nam Bộ. Thăm nữ sĩ Mộng Tuyết và nhà thờ thi sĩ Đông Hồ, tác giả "Hà Tiên thập cảnh" khiến khách phương xa càng yêu Hà Tiên hơn qua những vần thơ tiêu sái. Tham quan cửa khẩu Xà Xía, nơi năm 1979 bọn Pôn Pốt tràn sang giết hại gần 200 người dân vô tội.

Hôm sau đi An Giang. Qua ngả Bảy Núi rẽ về Châu Đốc viếng đền Bà Chúa Xứ. Hội VHNT cho sang Cù lao Ông Hổ thăm khu tưởng niệm Bác Tôn. Tối giao lưu đờn ca tài tử tuyệt vời, đậm đà Nam Bộ. Nhớ lại có lần một mình giang hồ vặt về đây, gặp mùa nước nổi, gần như suốt ngày ngồi xuồng với bạn bè, lênh đênh trên nắng dưới nước dưới mênh mang một sắc trời màu trứng sáo, nhậu "quắc cần câu"! Phải về phương Nam này đúng mùa nước nổi mới thấy hết "hương vị" của nó.

Về ngang Đồng Tháp. Viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc. Tiếc là không đến được khu sinh thái Tràm Chim và di tích cách mạng Xẻo Quýt theo lời mời của Hội VHNT. Về Mỹ Tho. Quá gấp gáp nên cũng chỉ kịp ghé thăm Hội VHNT và ra bờ sông Tiền tham quan Rạch Gầm - Xoài Mút, nơi vua Quang Trung đại thắng quân Xiêm. Tối, đoàn đến Bến Tre. Ở nơi nào cái tình bằng hữu văn nghệ cũng đậm đà... khó quên!

Ở Bến Tre đoàn đi viếng nhà thờ cụ Nguyễn Đình Chiểu, khu tưởng niệm bà nữ tướng Nguyễn Thị Định. Đất phương Nam mênh mông nên bà con ta đã dành để lưu dấu và tưởng niệm các danh nhân bằng những khu đất rộng rãi thoáng đãng... vô tư đi! Định về thăm quê nhà thơ liệt sĩ Lê Anh Xuân, nhà thơ Chim Trắng và nhà văn Trần Kim Trắc nhưng bị... vỡ kế hoạch! Không biết cái vụ bể kế hoạch này có phần đóng góp của các "đại ca văn nghệ" ở đây hay không, khi cho uống rượu Phú Lễ đến... hết còn thấy "dáng đứng Bến Tre" đâu nữa cả!

Thế là một vòng khép kín miền Tây Nam. Tiếc là còn "để sót" Long An, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Bạc Liêu. Một "phát hiện" nho nhỏ nơi miền "viễn tây" là ở bất cứ một công viên, hoa viên nào, dù lớn nhỏ, dù của tư nhân hay công cộng đều có cụm tượng TRÂU! Một con hay cả đàn. Đấy là biểu tượng đặc trưng cho nền văn minh nông nghiệp của xứ sở được mệnh danh là vựa lúa của cả nước này.

Suốt chuyến đi, nhà văn trưởng đoàn Đào Thắng vì cái bụng phệ nên thỉnh thoảng phải xốc lại quần cho khỏi... tụt! Bèn có thơ rằng: -"Trưởng đoàn Đào Thắng cũng gay/ Lâu lâu lại thấy thò tay kéo... quần"! Còn phó đoàn Dương Thuấn lại có cái thú dị kỳ là dọc đường hễ thấy chỗ nào có bày bán chuối là bắt tài xế dừng lại để mua! Mà xứ cây trái Miền Nam ở đâu không thấy chuối! Do vậy có thơ rằng: -"Phó đoàn Dương Thuấn cũng vui/ Thấy đâu có chị bán... chuồi xuống ngay!". Thông minh và sắc sảo, nhà văn Cao Duy Sơn thỉnh thoảng đế vào những câu những ý trái khoáy hóm hỉnh góp cười, bèn nhận được "thơ": -"Duy Sơn văn sĩ họ Cao/ Góp nhiều ý kiến... " tào lao" nhất đoàn"!...

Ấy là những... "sáng tác" tại chỗ! Chắc chắn từ chuyến đi nhiều ấn tượng, cảm xúc đặc biệt này những tác phẩm hay sẽ được bắt đầu.

*Tái bút: Trong chuyến đi, ngẫu hứng được 2 bài có thể gọi là... thơ, xin đưa kèm bài viết cho... vui!

CHƠI MÙA NƯƠC NỔI Ở TÂY NAM

                                  "Con đi mẹ dặn câu này

                                    Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua"

                                                                           (Ca dao)

Đã mùa nước nổi rồi em

Biết đâu lối lội mà tìm thăm nhau

Anh về trời đổ mưa mau

Đồng không sông rộng trắng màu nước lên

Lần qua sông Hậu thăm em

Vừa hay người đã sang bên sông Tiền

Ngẩn ngơ, anh quẩn quanh tìm

Lênh đênh xuồng lạc khắp miền Tây Nam

Mênh mang những xẻo những vàm

Những kênh những rạch biết làm sao đây

Cầm như lỡ chuyến đò đầy

Tìm em, anh vội sang ngày sông sâu!

Phải lòng câu "Lý thương nhau"

Mà anh như cá mắc câu giữa dòng

Nước rong còn lúc nước ròng

Gặp em, anh biết còn mong lúc nào?!...

VỀ ĐẤT MŨI

Đã đến nơi rồi, ơi Phương Nam

Trời Phương Nam, này đất Phương Nam

Ở đây tất thảy mênh mang quá

Người Phương Nam và tình Phương Nam

Áp bàn chân ấm lên Đất Mũi

Ngóng về Lũng Cú vọng xa xăm

Để có chuyến đi dài vạn dặm

Ông bà đã bước mấy ngàn năm

Về đây tĩnh lại hồn viễn xứ

Trầm bước phiêu bồng ta lắng nghe

Trong rì rầm sóng Phương Nam ấy

Có tiếng ngàn nơi nhắn vọng về


Về nghe đất quặn mình sinh nở

Với rừng "mắm trước đước theo sau" (*)

Xưa đi mở đất, nay... đất mở

Rộng dài xa mãi mũi Cà Mau.

(*) Phương dao Cà Mau.


Tạ Văn Sỹ

MỘT VÒNG TÂY BẮC

tavansy | 01 September, 2010 11:14

 

*Lời thưa: Tiếp theo bài trước, xin có bài này, cũng chỉ là ghi lại vài kỷ niệm nhỏ của những chuyến lãng du đầy ngẫu hứng.

Trại viết bế mạc, anh em về lại Hà Nội, tôi một mình từ huyện Mường Khương, nơi duy nhất của nước ta giáp ranh với cả hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc, về thành phố Lao Cai. Từ Lao Cai vượt dốc Ô Quy Hồ đến Sa Pa mộng mị như nàng sơn nữ ngủ trong sương. Lại từ đây theo quốc lộ 12 thẳng đường... "tây tiến"! Ngang qua Thác Bạc như rút từ ruột trời xanh tuôn xuống thì gặp đèo Hoàng Liên cao ngui ngút. Leo đến đỉnh đèo là hết đất Lao Cai bước vào địa phận Lai Châu. Giữa trập trùng núi cao vực sâu Tây Bắc bất ngờ hiện ra một Bình Lư - Tam Đường phẳng rộng, đất đai màu mỡ, ruộng vườn cây trái sum suê, không khỏi ngỡ ngàng!

Năm 1991 tỉnh Lai Châu cũ được tách đôi. Phần phía nam sông Đà thành tỉnh Điện Biên, thành phố Điện Biên Phủ là tỉnh lỵ. Phần phía bắc sông Đà là tỉnh Lai Châu mới. Thị xã Lai Châu cũ thuộc về Điện Biên, được đổi tên thành thị xã Mường Lay. Phần đất nằm giữa huyện Tam Đường và huyện Phong Thổ, vốn là nơi "sơ tán" của Phong Thổ thời kỳ chiến tranh biên giới trước đây được chọn làm nơi đặt "đại bản doanh" cho tỉnh Lai Châu mới, cho nên thị xã Lai Châu bây giờ gần như được hoàn toàn xây dựng mới. Bên cạnh cái "dở" là sinh sau đẻ muộn lại được có cái hay của nó!

          Ngày tôi đến chỉ vừa sau 4 năm thành lập nên trước mắt là cảnh tượng một... đại công trường! Nhà cửa hàng quán của thị dân đua nhau mọc lên cao thấp đủ kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc... Cái nào trông cũng bề thế hiên ngang. Đường sá cầu cống được làm mới, nắn sửa to rộng, thậm chí có đường rộng đến 58m nên được gọi luôn tên là Đường 58! Tất cả khu đô thị đều được quy hoạch, đang chờ mọc lên những công trình quy mô hiện đại. Tiếng ầm ào của các loại xe tải, của máy cơ giới, bụi khói mịt mờ trong những ngày nắng gió và bùn đất lầy lội sau những cơn mưa... Tất cả đang trộn lẫn vào nhau làm thành một mớ bòng bong. Nhưng đấy là tất cả những điều đang nói lên rằng nay mai một đô thị mới tinh khôi, bề thế, đẹp đẽ sẽ xuất hiện nơi cuối trời Tây bắc xa xôi.

          Với địa thế núi đồi sông suối có độ chia cắt mạnh ở đây thì thị xã Lai Châu lại đúng vào một nơi tương đối thoáng. Phía đông là rặng Pu Sam Cáp ba tầng uy nghi như ngoái nhìn một Tam Đường trù phú, phía tây là rặng Pu Ta Leng trùng điệp duỗi dài về Phong Thổ nhiêu khê. Đứng trên đỉnh dốc cao nhìn vọng sang sẽ thấy hai dáng núi này châu tuần về trung tâm thị xã như thế rồng chầu hổ phục! Lai Châu - Tây Bắc của vùng Tây Bắc, đầy ấn tượng và quyến luyến!

Theo đường 12 chạy dọc sông Nậm La qua huyện Sìn Hồ đến bờ sông Đà chia đôi tỉnh cũ. Cầu Hang Tôm bắc ngang sông đưa về thị xã Mường Lay. Chiếc cầu mới đang rộn rã thi công, nghĩa là chiếc cầu sắt Hang Tôm cũ kỹ chứng tích của thời gian và lịch sử này sẽ đi vào quá vãng! Mường Lay cũng đang là một... "đại công trình" nữa trong quá trình di dời, định canh định cư lòng hồ thủy điện Sơn La! Dọc đường về thành phố Điện Biên Phủ các bản nhà sàn người Thái dọc theo các sông suối, triền đồi là những bức tranh đẹp đặc trưng miền Tây Bắc.

Ở phía Lai Châu còn thấy núi đá vôi, ở Điện Biên đã bắt đầu có nhiều núi đất và cũng ít gặp ruộng bậc thang. Núi đất ở đây cảnh sắc gần giống Tây Nguyên. Ở kìa, vừa thoáng nghĩ đã thấy trên triền núi xa xa phất phơ một vạt cúc quỳ vàng lưa thưa làm xôn xang nỗi nhớ! Điện Biên còn "giống" Kon Tum quê tôi điểm nữa là cùng nằm ở ngả ba biên giới. Điện Biên: Việt-Lào-Trung, Kon Tum: Việt-Lào- Kampuchia!

Quanh co hết con đèo cao có tên Cò Chạy bất ngờ mở ra trước mắt một cánh đồng Mường Thanh ngút ngàn. Ai chưa đến đây sẽ không thể nào tưởng tượng ra được cảnh có một "đồng bằng" thực thụ trên núi non trùng điệp! Thảo nào mà có câu truyền "Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc" để nói về bốn cảnh mường Tây Bắc!

Chưa phai ngỡ ngàng ấn tượng Mường Thanh lại là quần thể di tích lịch sử của chiến thắng Điện Biên "chấn động địa cầu". Đứng bất cứ nơi đâu, trên đồi A1, nóc hầm Đờ Cát, đồi Độc Lập hay Nghĩa trang liệt sĩ... lòng người đều bâng khuâng một cảm khái tráng ca, một hoài niệm xa xăm về một thuở anh hùng đã trở thành huyền thoại.

Đường về Sơn La gặp đèo Pha Đin. Con đèo cao ngút trời đang trong thời kỳ sửa chữa và làm mới nên cũng nhiêu khê như... ngày xưa đi kháng chiến! (Nay chắc đã đẹp hơn rồi). Vẩn vơ nghĩ sao đèo cao thế này mà Tố Hữu viết "Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô anh hò chị hát"? Chắc là vì vướng phải cái phép "tiểu đối" trong làm thơ (dốc để đối lại với đèo) nên nhà thơ đành phải gọi đây là "dốc" mà thôi! Tiếc là ở Sơn La không được lâu, chỉ kịp thăm nhà tù với cây đào Tô Hiệu, thăm bia khắc bài thơ vua Lê Thái Tổ trên chênh vênh triền núi, thăm đại công trường thủy điện Sơn La... rồi về xuôi. Ngang cao nguyên Mộc Châu, xứ bò sữa, lại bắt gặp hoa cúc quỳ vàng rưng rưng trong sương mơ và hiu hiu gió lạnh. Lại nhớ Tây Nguyên, mặc dù cúc quỳ ở đây không dày đặc như ở quê mình. Ngang Hua Tát cảnh đẹp hoang sơ, vẩn vơ tự hỏi không biết lúc trước Nguyễn Huy Thiệp dạy học ở đây ngồi ở đâu nơi này mà viết "Những ngọn gió Hua Tát", "Muối của rừng", "Tướng về Hưu"... hay đến vậy?

Còn mải miên man với... những ngọn gió Hua Tát đã thấy Mai Châu - Hòa Bình! "Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"! (Quang Dũng). Rẽ về Mai Châu thăm bản Lát của nhà thơ dân tộc Thái Lò Cao Nhum. Đêm bản Lát nồng nàn hương rượu núi với tiếng hát, điệu xòe... làm nghiêng ngả hồn say. Đường về qua dốc Thung Khe, sà vào những mái lá ven đường ăn ngô luột bà con bán dọc dài như chợ. Lạc Sơn, Tân Lạc đẹp vô cùng với quần thể núi đá vôi như tranh thủy mặc vẽ chốn bồng lai. Rẽ vào Kim Bôi suối khoáng, vào Đồng Thếch thăm khu mộ cổ hoang tịch tiêu sơ của một dòng tộc quan lang... Biết thêm ở bản Mường Bình Thanh nay vẫn còn tục "tắm truồng" bên mó nước! Hòa Bình lùi tuột phía sau, lại lách núi luồn rừng để... "qui hồi cố quận"!

Đến cuối Lương Sơn, như được chui ra từ núi, bất ngờ mở toang trước mắt cảnh sắc ruộng đồng Bắc Bộ của Hà Tây (nay là Hà Nội). Ngoảnh nhìn rặng núi vươn ra gần mép đường số 6 như một dấu chấm (.) tách bạch giữa đồng bằng và đại ngàn Tây Bắc!

Chuyến này không vòng sang Yên Bái vì năm trước đã đến chơi rồi, nghe nhiều chuyện kể và kính cẩn nghiêng mình trước tượng đài con người yêu nước Nguyễn Thái Học. Tiếc là không lên được Mù Cang Chải để mục sở thị "vương quốc" ruộng bậc thang. Và cũng tiếc là mùa này không có hoa ban để vẹn tròn sắc màu Tây Bắc.

Sực nhớ câu văn Thanh Tịnh trong truyện "Tôi đi học": "Ngày ấy tôi không biết ghi, bây giờ tôi không nhớ hết" mà tự giận cho mình! Mải ham vui, không ghi chép, không chụp hình để bây giờ một Tây Bắc kỳ vĩ chỉ viết theo... trí nhớ!

Tái bút: Chuyến đi này "nhặt nhạnh" được 3 bài thơ đã hoàn chỉnh. Xin đưa thêm vào đây bạn bè đọc chơi vui. Những xúc cảm khác xin còn... nợ, sẽ trả sau!:

        

MƯỜNG KHƯƠNG

Cứng chân bước, vững tay lái

Len hết núi, lách hết rừng

Leo hết trời, luồn hết đất

Ấy là đã gặp một Mường Khương

Mường Khương cao tít và xa tắp

Nơi cuối trời mây cuối đất sương

Cheo leo đèo dốc chênh vênh vực

Xa xanh Pha Long rồi Cao Sơn...

Mường Khương là nghĩa mường gang thép (*)

Ý hẳn rằng đây đất kiên cường

Tiễu bao nhiêu phỉ, tiêu bao giặc

Giữ sắc yên bình trời biên cương

Thương bao tên đất, sao mà nhớ

Những Lao Pao Chải, Tả Ngải Chồ...

Những La Pán Tẩn, Tung Chung Phố...

Khấp khểnh như nghe bước ngựa thồ!

Mường Khương ai hẹn ai tìm đến

Đến để mà thương để vấn vương

Mai về xuôi phố trong niềm nhớ

Có một Mường Khương ở cuối đường...

(*) Mường Khương là đọc chệch từ Mưng Khảng,

nghĩa là miền đất gang thép, kiên trung.

      

TRĂNG LAI CHÂU

Người Mông ở lũng sâu Nùng Nàng

Từ Lao Tỷ Phùng, Chin Chu Chải, Xảy Xan

Đêm thả ngược vầng trăng lên khỏi núi

Từ ấy trên đỉnh cao vời vợi

Pu Sam Cáp - Núi Ba Tầng

Ngời ngợi một vầng trăng

Từ ấy Lai Châu đêm đêm sương giăng

Bàng bạc chảy một màu huyền hoặc

Mảnh trăng cuối trời Tây Bắc

Như mắt ai chờ thăm thẳm phía Hoàng Liên...

Khuya nghiêng dần về đỉnh Pu Ta Leng

Tan thành màu trăng Phong Thổ

Dõi ngược Tam Đường, ai đi ai ở

Ai trở về mang nỗi nhớ Lai Châu...

     

VIẾT Ở LƯƠNG SƠN

*(Tặng Nhum, Va, Thao)


Bắt đầu đã núi rồi em nhé

Đi tiếp thì ta đến Hòa Bình

Ra đứng sông Đà xem thủy điện

Rồi về Đà Bắc ngắm hồ xanh


Tiếp nữa thì ta chơi suối khoáng

Kim Bôi, Đồng Thếch gợi niềm thơ

Đến nữa... Cao Phong rồi Tân Lạc

Huyền thoại xa xưa Chúa Thác Bờ


Đi tiếp... Làm sao anh kể hết!

Mường Bi, Mường Động nối mường xa

Leo đỉnh Thung Khe đùa gió núi

Về với Mai Châu bản Thái ta...


... Hòa Bình là thế, em yêu nhé

Đã đến là em thích ở luôn!

- Ấy là anh nói còn đi tiếp

Chứ giờ... ta mới tới Lương Sơn! (*)


(*) Huyện cửa ngõ tỉnh Hòa Bình giáp Hà Nội, là nơi bắt đầu của trùng điệp núi non.


   Tạ Văn Sỹ

THOÁNG CHIẾN KHU XƯA

tavansy | 31 August, 2010 10:01

 

*Lời thưa: Nhận được email của Phong Điệp nói rằng báo Văn nghệ Trẻ có mở mục "Nhà văn kể chuyện" cho những bài viết có tính cảm nghiệm từ các chuyến đi, về các nhân vật, cảnh sắc, sự kiện... bắt gặp trên đường và trong đời. "Hay là anh kể chuyện giang hồ vặt của anh cũng được"! -Nguyên văn P.Đ. bảo thế! Sực nhớ loạt bài ghi chép cũ, lục ra chỉnh sửa lại. Không biết P.Đ có dùng được không, chuyện ấy tính sau, ở đây cứ sẽ lần lượt đưa lên để sẻ chia cùng bạn bè tứ xứ cái đã!

         Năm 1942, thoát khỏi ngục tù của Quốc Dân Đảng Trung Quốc, từ Liễu Châu Bác Hồ về nước, dừng chân ở Pác Bó tiếp tục lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ở đây đã sẵn chiến khu  Cao - Bắc - Lạng. Theo đề nghị của đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bác và Trung ương quyết định lấy thêm liên tỉnh Thái - Tuyên - Hà lập thành chiến khu Việt Bắc. (Sau mở rộng sang một phần các tỉnh giáp ranh phía Nam chiến khu).

         Bà con ta đa phần chỉ biết chung chung về Chiến khu Việt Bắc, hoặc An toàn khu (ATK) qua sách báo, phim ảnh, chuyện kể... Ít ai có được cơ may "mục sở thị" nơi thiêng liêng ấy. Tôi may mắn được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức chuyến "Về nguồn", thăm lại một phần chiến khu xưa. Trên 50 nhà văn, nhà thơ ở các vùng miền náo nức hân hoan. Niềm xúc động thiêng liêng lộ rõ trên từng gương mặt.

          Ngang Phú Thọ, bỏ quốc lộ 2 rẽ vào tỉnh lộ 32. Địa thế trung du, nhấp nhô đồi cọ rừng chè. Làng quê gợi cảnh yên ả thanh bình từ muôn thuở trước. Dừng chân nơi cây đa Yên Kỳ - ngã ba Đào Giã, huyện Thanh Ba (quê hương nhà thơ Phạm Tiến Duật). Đứng dưới tán đa rợp mát bên ngôi đền cổ, đoàn được biết đây là nơi diễn ra Đại hội Văn hóa cứu quốc năm 1942, đồng chí Trường Chinh trình bày bản Đề cương "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam" làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình văn hóa văn nghệ cách mạng Việt Nam hiện đại. Chúng tôi hiểu rằng mình đã bắt đầu chạm chân đến vùng "thánh địa" chiến khu xưa.

          Cũng lại những "rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt" đưa chúng tôi về xã Gia Điền thuộc huyện Hạ Hòa. Đây là vùng mở rộng về phía nam của chiến khu Việt Bắc như đã nói, ngày ấy gọi là Chiến khu 10, nơi đặt nhiều cơ quan kháng chiến. Thăm nhà bà bủ Nguyễn Thị Gái, nơi năm 1948 - 1949 Hội Văn hóa Cứu quốc cho ra đời số báo Văn nghệ đầu tiên; nơi Văn Cao, Tố Hữu, Kim Lân, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân Sanh... từng ở và làm việc. Ngôi nhà xưa còn đó, đơn sơ, nép mình bên bóng núi. Tiếc là Bà Bủ đã về nơi chín suối! Tại đây những "Trường ca Sông Lô", "Bà Bủ", "Bầm ơi"... những đêm kịch của đôi vợ chồng tài danh Thế Lữ - Song Kim còn để lại dư ba cùng năm tháng...

          Đền Chu Hưng cổ kính tọa lạc trên gò đất mai rùa giữa hóc ruộng hẹp trung du. Xưa, vua Trần Nhân Tông kinh lý qua đây, tức cảnh làm thơ vịnh, còn khắc lưu trước sân đền. Đây là nơi thượng tướng Lê Trọng Tấn cùng đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản tuyên bố thành lập quân đội Pa-thét Lào. Cũng nơi đây vợ nhà thơ Lưu Quang Thuận, trong khi sơ tán đã chuyển dạ sinh ra Lưu Quang Vũ. Có phải hồn thiêng sông núi nơi thờ phụng linh thiêng này đã nhập hòa vào Lưu Quang Vũ để dân tộc có thêm một tài năng lớn?

          Tiếp tục hành trình qua ngã Đại Phạm về Tuyên Quang. Đến đây xe bắt đầu mỗi lúc một luồn lách sâu hơn vào miền núi cao, dấu vết trung du dần khuất phía sau.

          Đêm Tuyên Quang yên bình và trầm tịch dưới chân đoạn thành Nhà Mạc, ly rượu Na Hang nồng nàn tình bè bạn sau khi giao lưu với trường cấp 3 Anh hùng Lao động. Lòng nôn nao chờ sáng mai về Sơn Dương thăm khu lịch sử Tân Trào.

          Đến Tân Trào. Tất cả lặng im trong sự thành tâm thành ý bồi hồi của kẻ hành hương. Xóm nhỏ Kim Long với những nóc nhà sàn cũ kỹ lặng lẽ nép mình dưới chân núi Hồng hùng vĩ. Kia là mái đình Hồng Thái, đây là cây đa Tân Trào... Và lán Nà Lừa! Căn lán nhỏ nép mình cô tịch giữa rừng trúc bít bùng nhưng sạch quang thanh thoáng. Nơi đây có lúc Bác lâm cơn bệnh nặng thập tử nhất sinh. Chuyện kể: Có ông lang Tày chữa cho Bác bằng bài thuốc gia truyền từ lá rễ cây rừng. Xong bệnh ông đi. Không ai biết ông cụ là ai, cứ như một tiên ông quá cảnh trên bước nhàn du!

          Rời lán Nà Lừa, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào của đất Tuyên Quang, xe vượt đèo De quanh co chật hẹp men bên sườn núi Hồng sừng sững uy linh để về Định Hóa - Thái Nguyên. Ở đây có lán Tỉn Keo - cũng như lán Nà Lừa - là một trong những căn lán Bác đã dùng để thay đổi chỗ ở trong suốt thời kỳ kháng Pháp. Đây là nơi ra đời của Quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân năm 1953. Trên một ngọn đồi phong quang nằm thế "hữu bạch hổ, tả thanh long" một công trình to đẹp hoành tráng vừa được hoàn thành. Đó là nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh, như một minh chứng cho lòng ngưỡng vọng Lãnh tụ của bà con Việt Bắc.

Đêm ở lại Tỉn Keo. Giữa bóng chiều buông phủ khói sương rừng, dưới chân bóng núi và dáng uy nghiêm của nhà tưởng niệm, mọi người lững thững dạo quanh, áng chừng đang tìm thi tứ! Đội văn nghệ dân gian dân tộc Tày với những nàng sơn nữ đêm ấy làm say lòng người bằng những cốc rượu ngô, những điệu Lượn điệu Then hòa cùng tiếng đàn Tính ngân nga réo rắc âm âm giữa núi rừng u tịch.

          Buổi sáng về Khuôn Tát, ngoái đầu nhìn lại, bên lán nhỏ Tỉn Keo thấp thoáng cây dâm bụt tự tay Bác trồng nay đã sum suê cành lá nâng những chùm hoa đỏ như những ngọn "đèn lồng treo cao" bên sườn đồi ngút ngàn xanh một màu hoang vắng.

          Lán Khuôn Tát lại cho ta một cảm xúc khác. Cũng vẫn chiếc lán nhỏ giữa rừng với lối đi bí mật dẫn vào một đường hầm dài bốn, năm chục mét, được đào đục xuyên qua sườn đồi, làm nơi Bác và cộng sự trú ẩn khi cần thiết. Lán Khuôn Tát nằm giữa khu rừng có nhiều cây phách cao cổ thụ. Nơi này có lần đến làm việc với Bác, nhà thơ Tố Hữu đã để lại câu thơ đẹp miên man: -"Ve kêu rừng phách đổ vàng...". Vẫn những dòng suối nhỏ róc rách trong veo làm gợi nhớ ý thơ "Tiếng suối trong như tiếng hát xa" và những bóng đa cổ thụ dễ khiến liên tưởng hình ảnh "Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" của Bác. Tất cả vẫn đang trầm ngâm làm chứng tích một thời.

          Đoạn đường ngắn từ Định Hóa về Đại Từ của vùng "Thủ đô gió ngàn", vô cùng ngạc nhiên và tràn dâng xúc cảm theo những biển báo loang loáng hai bên cửa xe. Đây quả là một quần thể di tích cách mạng đan dày! Nếu không ghi chép kịp sẽ khó thể nào nhớ hết những: "Nơi ở và làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng", "Nơi đóng trụ sở Hội Phụ nữ Việt Nam", "Nơi đóng tòa soạn báo Cứu quốc", "Chợ Chu - nơi giam cầm các chiến sĩ cách mạng", "Nơi...", v.v... và v.v...

          Điểm dừng chân nhiều xúc động nhất ở Đại Từ đối với các nhà văn là ngôi nhà nhỏ của cụ bà Tạ Thị Vệ ở xóm Chòi xã Mỹ Yên. Đây là nơi đóng trụ sở báo Văn nghệ vào những năm 1949 - 1950. Hãy như còn thấp thoáng quanh đây bóng dáng những bậc tiền bối Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân v.v... Họ đã một thời cam khổ mà tâm huyết kiên trì cho nền văn nghệ nước nhà được sâu thêm nhiều vỉa tầng giá trị.

          Đêm Thái Nguyên ấn tượng không phai với buổi giao lưu tại trường Đại học Thái Nguyên. Một không khí văn nghệ, một mạch ngầm văn học, một nối tiếp văn chương đẹp sáng muôn đời luôn nối cầu qua các thế hệ.

          Một thoáng chiến khu xưa, thấy mình đang trầm mình trong nguồn thơm hoài niệm.

                                                                                                                                Tạ Văn Sỹ

CHUYỆN VỀ NGƯỜI… “ẢO MỊ VĂN CHƯƠNG”!

tavansy | 22 August, 2010 19:25

 

Cuối tuần, bạn thơ trẻ Hoàng Việt ở huyện xa về ghé thăm. Lâu ngày gặp nhau, chuyện đủ các thứ trên đời! Trong "đủ các thứ" ấy có chuyện nhắc lại cái tin nhắn cách đây gần một năm của B. gửi cho Việt bảo chúc mừng B. vừa đoạt giải Nobel và Hội đồng giải thưởng sắp về tận nhà trao cho B.! Chuyện khiến tôi nhớ lại Chuyên san Cảnh sát toàn cầu số 8 ra ngày 15-10-2009 có bài "Có một kẻ đang sống trong ảo giác" của tác giả Hồ Điệp. Hồ Điệp cũng nói về việc B. nhắn tin trách tác giả sao không chúc mừng B.?! B. còn đồng loạt nhắn cho nhiều người khác cùng nội dung như thế. Trang web Phongdiep.net đưa lại bài viết với tên gọi "Những ảo mị văn chương"!

          Tôi là người "được" nhắc đến ở một chi tiết nhỏ trong bài viết: -Thấy tôi ký tặng tập thơ vừa in của mình cho Hồ Điệp nhân gặp nhau ở khóa Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du thì B. "xì nước bọt qua kẽ răng, phát biểu lạnh te: -"Chơi làm gì với bọn xe ôm này. Thơ phú biết gì"! Bạn bè đọc được gọi về hỏi tôi sao lại như thế nhỉ? Tôi trả lời: Tính cách và "bệnh tật" của B. vốn là vậy rồi mà! Nhân nhớ lại, xin "nối điêu" thêm đôi chuyện về một người có hiện tượng bệnh lý ảo giác thật chứ không hẳn chỉ là "ảo mị văn chương". Và qua đây, biết đâu chừng lại thấy được một số người quanh ta cũng... na ná như vậy!

          Thật ra, từ lâu B. đã có thơ tặng tôi (bản viết tay kèm theo thư thăm hỏi, tôi còn lưu giữ): -"Anh dẫm lên những nhỏ nhen/ Lầm lụi sáng với ngọn đèn văn chương/ Cõi người còn lấm bụi đường/ Phận thơ tình quặn đau thương nỗi đời"!(Nam Định, 1-10-2003). Rõ ràng là B. rất đồng cảm và quý mến tôi ấy chứ? Thế mà tự dưng lại có cái giọng "lạnh lẽo, độc ác" đến nỗi người nghe có cảm giác "như một mũi dao nhọn hoắt xoi vào tim" (chữ dùng trong bài báo)! Vài mẩu chuyện nhỏ sau đây cho thấy phần nào cái "bệnh" ảo giác và cách ăn nói ngẫu hứng "văng mạng" của B.

          Như Hồ Điệp viết, năm 2007 Hội Nhà văn có mở khóa Bồi dưỡng viết văn. Gần 80 người dự học. Chừng 20 anh chị em được bố trí ở chung tại khu Quảng Bá, trong đó có B. Một hôm tự dưng nước từ tầng 6 chảy tràn xuống tầng 5, mọi người chạy lên xem thì thấy cảnh tượng tại phòng của B. nước được xả vào bồn tắm đầy ắp rồi cứ tự do tràn ra ngoài mà B. thì đang nằm hát nghêu ngao trên giường. Anh em vội khóa nước lại và nhắc nhở B., B. nói gọn lỏn: -"Em thích nghe tiếng nước chảy mà"! Thì ra B. mở nước rồi để vậy nghe chơi chứ không phải quên tắt!

Cũng vì cái tính cách "dị biệt" ấy mà nhiều lần B. tự động lén lấy tập thơ của tôi đem tặng nhiều người tôi không quen biết. Phát hiện được, tôi trách sao lại làm thế, B. trả lời như không: -"Thì em tặng giúp cho anh thôi, chứ em được gì đâu mà anh mắng"!

Nhà văn Nguyễn Trí Huân, Tổng biên tập báo Văn nghệ, có lần gặp tôi, nói: -"Này, ở chỗ học của cậu có thằng B. gửi thơ về báo rồi liên tục nhá máy và nhắn tin bảo tớ phải in vì thơ nó hay và trẻ, báo chí không được thờ ơ! Tớ chịu hết nổi nên bảo bộ phận biên tập lựa in cho nó một bài vào số sắp tới để khỏi bị quấy rầy đấy"!

Được bài nào in báo như vậy - y như Hồ Điệp viết - là B. liền phô-tô phát khắp lượt mọi người như tờ rơi quảng cáo, đến độ có người khuyên B. thôi đi, để dành tiền mà tiêu vặt! Có người thông cảm cho cái kiểu khoe khoang có vẻ trẻ con, nhưng có người lại cho đó là một cách của người... "ảo mị văn chương"!

Có lần anh em quây quần bữa rượu, đọc thơ. Tôi góp ý một từ nên sửa lại. B. nổi đóa bảo thơ B. là không thể chỉnh sửa, biên tập gì ráo trọi! Từ đó anh em cạch, không động đến chuyện văn chương chữ nghĩa với B. nữa. Cũng có lần tôi kể B. nghe chuyện: Năm 2001, trước Đại hội viết văn trẻ toàn quốc lần 5, phóng viên M.P báo Nhân Dân lấy tư liệu viết bài giới thiệu 2 gương mặt trẻ tiêu biểu (1 nam 1 nữ). Tình cờ gặp nhau, M.P hỏi tôi có biết gì về Bùi Chí Vinh kể cho nghe vài chi tiết. Tôi bảo B.C.V "già" rồi, làm gì còn tiêu chí mà dự Đại hội nhà văn trẻ? M.P bèn chuyển qua giới thiệu một cây bút nam trẻ khác. Thì ra M.P hỏi thăm B. (tức B.Đ.V) nhưng nhầm thành B.C.V, vì hai cái tên này có âm sắc rất giống nhau, nghe thoáng qua rất dễ nhầm! Tôi đâu biết M.P nhầm nên cứ thật tình bảo thế (vì nhà thơ B.C.V "già" hơn B. đến một phần tư thế kỷ kia mà)! Nghe chuyện, B. đùng đùng nổi khùng: -"Anh hại em rồi! Thằng cha ấy có là gì đâu, so sao với em được mà anh lại nhầm lẫn? Tai ác quá"!

 Cái khoản nói năng văng mạng về người khác (như kiểu B. nói về tôi trong bài viết của Hồ Điệp hay nói về nhà thơ Bùi Chí Vinh vừa kể trên) thì... rất vô tư! Ví dụ có lần thấy tôi vừa bước ra từ phòng hai anh Lã Hoan và Lê Hai (người Thanh Hóa), B. phang ngay một câu: -"Anh chơi làm gì với bọn Thanh Hóa ấy, chúng nó chẳng tốt đẹp gì đâu"! Tôi bảo đừng ăn nói bừa phứa mà mất lòng nhau, các anh ấy làm gì mà bảo thế? B. xì dài, lên giọng: -"Em nói thì cấm có sai"! Hoặc có lần thấy tôi đèo giúp chị Trần Thu Hà (người Nghệ An) từ Quảng Bá đến Hào Nam đi học, liền bị B. "góp ý" ngay: -"Anh chớ vấy vào bọn Nghệ Tĩnh"! Tôi không hiểu "bọn Nghệ Tĩnh" có gì mà B. nói vậy?! Trước đấy tôi có đèo B. mấy hôm, nhưng không chịu nổi cái kiểu ngồi sau B. cứ chồm chỗm áp cứng vào lưng kê mồm vào tai nói huyên thuyên liếng thoắng, toàn những chuyện tôi không muốn dây vào hoặc không đồng tình, nhưng cứ luôn bị B. vỗ vai, thúc lưng, véo đùi hỏi vặn buột người nghe phải đối thoại, đại loại "Phải không?", "Đồng ý chứ?", "Đúng chưa nào?"... "Ngán" quá nên tôi tìm cớ thoái thác, không thích đèo B. nữa!...

Chuyện của B. còn có thể kể dài dài. Chỉ thoáng qua một ít để thấy rằng cái việc chỉ thấy "Ta là một là riêng là thứ nhất!" (Xuân Diệu) là cố tật của B. và một số người khác. Những việc làm "bất bình thường" ấy là biểu hiện của một người... không giống mọi người, hay là con bệnh "ảo mị văn chương"? Bạn bè cho biết hiện nay B. đang biểu hiện căn bệnh ấy nặng nề hơn trước nhiều, cả thành phố N.Đ ai cũng rõ.

Cũng như Hồ Điệp, tôi (và nhiều bạn bè khác) đều thương và tiếc cho B., một cây bút trẻ từng được bạn đọc đặt nhiều kỳ vọng lúc ban đầu xuất hiện. Phải nói rằng thơ B. rất trẻ và khỏe, nhiều bạn đọc quý yêu nguồn thơ ấy. Có ai ngờ!... Mong sao tự bản thân B. kịp ý thức lại, hoặc giả may ra gặp thầy gặp thuốc để chữa trị căn bệnh gần như mãn tính của B. để khỏi uổng phí một tài năng.

Ở chỗ tôi hiện cũng có người như thế. Có lẽ nhiều nơi cũng như vậy. Sao cánh viết lách hay có hiện tượng này nhỉ? Con người văn chương là người đầy tự do và cá tính. Nhưng tính cách ấy chỉ có ở những tài năng thực thụ, và các tài năng cũng chỉ biểu hiện trong sáng tạo chứ họ có đem "ứng dụng" ngoài đời như thế đâu?!

 

 Tạ Văn Sỹ

1 2 3 ... 26 27 28  Sau»
Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS
Powered by vnWeblogs.